Kinh tế

Giám sát chặt và nâng chế tài trong đấu thầu mua gạo dự trữ quốc gia

TĐKT - Đúng 10h ngày 12/5/2020, đồng loạt 22 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực (DTNNKV) thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) đã tổ chức mở thầu đợt 2 gói thầu mua 182.300 tấn gạo dự trữ quốc gia. Trước đó, ngày 16/4/2020, Tổng cục DTNN đã phát hành công khai hồ sơ mời thầu rộng rãi tới tất cả các nhà thầu trong nước để cung cấp số lượng hàng hóa này. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Lê Văn Thời – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN về vấn đề trên. Ông Lê Văn Thời – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN Phóng viên: Xin ông cho biết các căn cứ để quy định giá gói thầu tổ chức đấu thầu mua gạo nhập kho dự trữ quốc gia? Ông Lê Văn Thời: Theo quy định tại Điều 19, 20, 21 của Luật Giá thì hàng dự trữ quốc gia thuộc danh mục nhà nước định giá. Về nguyên tắc định giá phải bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp với mặt bằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ và phải kịp thời điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi. Về căn cứ định giá phải đảm bảo giá thành toàn bộ, chất lượng của hàng hoá, dịch vụ tại thời điểm định giá; mức lợi nhuận dự kiến; phù hợp với quan hệ cung cầu của hàng hóa, dịch vụ và sức mua của đồng tiền; khả năng thanh toán của người tiêu dùng và giá thị trường trong nước, thế giới và khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ tại thời điểm định giá. Theo quy định tại Điều 49 Luật Dự trữ quốc gia quy định về giá mua, giá bán hàng dự trữ quốc gia: Khi mua, bán hàng dự trữ quốc gia, nếu giá thị trường biến động cao hơn giá mua tối đa, thấp hơn giá bán tối thiểu, Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, điều chỉnh giá mua tối đa, giá bán tối thiểu trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia. Thủ trưởng bộ, ngành quản lý hàng DTQG quyết định mức giá cụ thể theo giá thị trường tại thời điểm và từng địa bàn khi mua, bán hàng DTQG thuộc phạm vi quản lý nhưng không được cao hơn giá mua tối đa và thấp hơn giá bán tối thiểu do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định. Như vậy, theo quy định hiện hành của Luật Giá và Luật Dự trữ quốc gia thì khi xác định giá để thực hiện đấu thầu mua gạo dự trữ quốc gia phải căn cứ vào thời điểm định giá. Tại thời điểm định giá, căn cứ vào thị trường cung cầu hàng hóa, chất lượng hàng hóa và giá thị trường tại thời điểm định giá để quy định mức giá. PV: Thưa ông, việc quy định giá gói thầu tổ chức đấu thầu ngày 12/5/2020  được thực hiện như thế nào? Ông Lê Văn Thời: Để mua đủ số lượng gạo nhập kho dự trữ quốc gia theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục DTNN tổ chức đấu thầu lại và mở thầu vào ngày 12/5/2020. Tại thời điểm hiện nay, do dịch bệnh Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, nhu cầu gạo cho xuất khẩu tăng cao, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép hoạt động xuất khẩu gạo trở lại bình thường kể từ ngày 1/5/2020. Do đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh gom hàng phục vụ xuất khẩu trong khi nguồn cung gạo đông xuân đã vào cuối vụ thu hoạch không còn nhiều nên đã kéo giá gạo trên thị trường tăng cao, gạo tẻ 15% tấm ở mức khoảng 10.300 - 10.500 đồng/kg (chưa có bao bì, đóng gói, kiểm định chất lượng, bốc xếp, hao hụt, lãi vay, lợi nhuận doanh nghiệp… và cước vận chuyển tới từng cửa kho DTQG). Theo quy định của Luật Giá, Luật DTQG và gạo mua nhập kho dự trữ là mặt hàng lương thực mang tính thời vụ; giá gạo phụ thuộc nhiều vào tình hình cung cầu trên thị trường và thời vụ thu hoạch. Do đó, để đảm bảo việc quy định giá sát giá thị trường tại thời điểm và đảm bảo phải quy định trước thời điểm mở thầu, trên cơ sở kết quả thẩm định của Cục Quản lý giá về phương án giá của Tổng cục DTNN, ngày 11/5/2020 Bộ Tài chính đã quyết định giá mua tối đa. Cùng ngày 11/5/2020, căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm trên địa bàn cụ thể đã được các Cục DTNN khu vực khảo sát, ý kiến tham gia về giá mua gạo dự trữ quốc gia của các Sở Tài chính địa phương và mức giá các Cục DTNN khu vực đề nghị, Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN đã quyết định giá gói thầu cho từng Cục DTNN khu vực bằng với mức giá mua tối đa được Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, đồng thời gửi các Cục DTNN khu vực để kịp tổ chức mở thầu vào ngày 12/5/2020 theo đúng quy định. Theo diễn biến của thị trường thì việc định giá và sự biến động của giá trong việc quy định giá đấu thầu là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành về giá và về dự trữ quốc gia. PV: Để khắc phục tình trạng nhà thầu tham gia đấu thầu đã trúng thầu rồi lại bỏ thầu như lần trước, Tổng cục DTNN có những biện pháp gì? Ông Lê Văn Thời: Việc giao dịch, tham gia cung ứng gạo cho DTQG được thực hiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật DTQG năm 2012 và Luật Đấu thầu năm 2013. Trường hợp doanh nghiệp trúng thầu không tới ký hợp đồng thì biện pháp chế tài là thu bảo lãnh dự thầu; nếu đã ký hợp đồng mà không thực hiện hoặc có thực hiện, nhưng không giao đủ số lượng theo hợp đồng đã ký thì bị thu bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc chịu phạt tối đa bằng 8% giá trị không thực hiện và cấm tham gia đấu thầu từ 3 năm đến 5 năm Luật Đấu thầu đã qui định. Căn cứ quy định của pháp luật về Đấu thầu, đợt mở thầu vào ngày 12/5/2020 vừa qua, trong Hồ sơ mời thầu, Tổng cục DTNN đã chỉ đạo các Cục DTNN khu vực nâng cao biện pháp ràng buộc hơn với các nhà thầu khi tham gia thầu, mức bảo lãnh dự thầu đã được nâng lên từ 1,5% đến 3% trên giá gói thầu bằng mức tối đa pháp luật quy định. Còn về lâu dài, chúng tôi cũng đã có kiến nghị cần sửa đổi Luật Đấu thầu bổ sung các chế tài khác để ràng buộc hơn với các nhà thầu khi tham gia đấu thầu không riêng chỉ có mua gạo DTQG, mà cho nhiều mặt hàng và các lĩnh vực khác. PV: Gói thầu cung cấp 182.300 tấn gạo đã được các Cục DTNN khu vực mở thầu ngày 12/5/2020 đến nay kết quả báo cáo về Tổng cục DTNN như thế nào? Ông Lê Văn Thời: Theo báo cáo nhanh của các Cục DTNN khu vực, đến 10 giờ ngày 12/5/2020, 22 Cục DTNN khu vực đã tổ chức mở thầu các gói thầu đã đủ điều kiện để mở thầu theo quy định của pháp luật. Có 44 doanh nghiệp tham gia dự thầu, trong đó có nhiều doanh nghiệp đã từ chối không ký hợp đồng cung ứng gạo cho DTQG trong thời gian vừa qua cũng tham gia đấu thầu lần này, vì theo quy định của pháp luật hiện hành thì không có quy định nào cấm họ không được tham gia dự thầu. Hiện nay, các Cục DTNN khu vực đang khẩn trương tổ chức đánh giá hồ sơ kỹ thuật, năng lực, kinh nghiệm của các nhà thầu tham dự thầu. Những nhà thầu vượt qua bước đánh giá hồ sơ kỹ thuật, đáp ứng được năng lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu thì được mở hồ sơ tài chính để lựa chọn nhà thầu trúng thầu. Nhà thầu nào đáp ứng được hồ sơ kỹ thuật, năng lực, kinh nghiệm và có giá dự thầu thấp nhất được lựa chọn trúng thầu cung ứng cho dự trữ quốc gia. Tổng cục DTNN đã có công điện chỉ đạo các Cục DTNN khu vực khẩn trương tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu trúng thầu chậm nhất là ngày 19/5 để ký hợp đồng xong trước ngày 22/5; thời gian thực hiện hợp đồng đến hết ngày 30/6/2020. PV: Xin trân trọng cảm ơn ông! Trong việc tổ chức đấu thầu cung cấp gạo nhập kho DTQG năm 2020 trên toàn quốc, đây là lần đầu tiên các bên mời thầu bắt buộc áp dụng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về DTNN đối với gạo ban hành kèm theo Thông tư số 78/2019/TT-BTC ngày 12/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Theo đó, tiêu chuẩn gạo nhập kho cao hơn cả gạo xuất khẩu với những chỉ tiêu về hạt vàng và an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong Hồ sơ mời thầu luôn đảm bảo điều kiện thông thoáng, thuận lợi, và tạo ra nhiều cơ hội dự thầu cho các nhà thầu. Hưng Vũ

Bộ Tài chính triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt cơ hội phát triển

TĐKT - Để hướng tới giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt cơ hội phát triển, trong thời gian Bộ Tài chính đã tập trung thực hiện một loạt các giải pháp giúp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi và ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời nắm bắt được các cơ hội phát triển. Với sự nỗ lực của doanh nghiệp, người dân cùng cả hệ thống chính trị và kết quả thực tế đạt được trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua, các định chế tài chính uy tín của thế giới đều có chung quan điểm Việt Nam đã kiểm soát rất tốt dịch Covid-19 và vì thế sẽ là cơ sở để thu hút đầu tư, phát triển sản xuất. Trong số các quốc gia Đông Nam Á, dự báo năm 2020, Việt Nam vẫn sẽ là quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất. Việc khôi phục dần các hoạt động trên cơ sở nới lỏng giãn cách xã hội cũng đang là lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển và đây cũng chính là thời điểm bước vào giai đoạn mới của thực hiện nhiệm vụ kép vừa tiếp tục chống dịch vừa thực hiện phục hồi kinh tế - xã hội. Theo đó, sau thời gian giãn cách xã hội, đây là cơ hội vàng cho doanh nghiệp “bật lò xo” sau dịch bệnh, nếu không nắm bắt được cơ hội, doanh nghiệp nước ngoài sẽ đến lấy. Thời khắc lịch sử này mang tính bước ngoặt với thế giới do đại dịch Covid-19 gây ra. Hiếm có một biến cố y tế nào tác động hầu hết quốc gia, vượt xa các đại dịch khác trong lịch sử, ảnh hưởng hàng tỷ người. Đã có gần 4 triệu người nhiễm, 300.000 người đã chết và các con số chưa dừng lại. Kinh tế nhiều nước suy thoái và có thể kéo dài. Nhiều tổ chức dự báo kinh tế toàn thế giới xấu đi trong năm nay. IMF báo kinh tế thế giới tăng trưởng -3% năm nay. Mỹ tăng trưởng âm còn Trung Quốc đã thấp kỷ lục sau 3 thập kỷ. Dự báo tăng trưởng kinh tế ASEAN năm nay sẽ là -0,6%. Tuy nhiên, Việt Nam đang có triển vọng tăng trưởng cao nhất ASEAN. Việt Nam đang theo đuổi chiến lược mục tiêu kép, vừa phòng, chống dịch, vừa duy trì hoạt động kinh tế, đi kèm cải cách và cơ cấu, để ngọn lửa tăng trưởng sớm bùng lên khi dịch được kiểm soát tốt. Để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi và ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời nắm bắt được các cơ hội phát triển, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tập trung thực hiện một loạt các giải pháp. Trong đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét việc: Miễn, giảm thuế thông qua chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ; điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân; tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; điều chỉnh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Bộ Tài chính tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện rà soát, cắt giảm các khoản phí, lệ phí để giảm chi phí cho doanh nghiệp, người dân. Bộ Tài chính cũng đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đã ban hành để doanh nghiệp, người dân nhanh chóng được hưởng hỗ trợ theo hướng tạo thuận lợi nhất. Đồng thời tiếp tục theo dõi sát tình hình thực tế, nghiên cứu, rà soát đánh giá tổng thể để đề xuất giải pháp về thuế, phí và lệ phí phù hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) sẽ được đẩy mạnh theo hướng tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành TTHC trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực tài chính. Rà soát và đề xuất các phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC trong tất cả các lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính, trong đó tập trung vào nghiên cứu giảm thời gian, giảm hồ sơ, giấy tờ và chi phí thực hiện TTHC liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp. Việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC được thường xuyên kiểm tra nhằm đánh giá tình hình giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp và kịp thời chấn chỉnh, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết TTHC. Bộ Tài chính sẽ tăng cường hiện đại hóa hành chính và ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính; tiếp tục mở rộng triển khai các dịch vụ khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử, hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử; vận hành ổn định và nâng cao hiệu quả Hệ thống thông quan tự động VNACCA/VCIS; triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN. Bên cạnh đó, Bộ sẽ nghiên cứu đề xuất việc lùi thời hạn tổ chức Đại hội cổ đông thêm 3 tháng (đến trước ngày 30/9), giảm thời hạn công bố thông tin mua cổ phiếu quỹ (từ 7 ngày xuống còn 1 – 2 ngày); tăng hạn mức tín dụng cho ngành chứng khoán; cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nếu đủ điều kiện được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Một giải pháp nữa được Bộ Tài chính đưa ra là phối hợp sát sao với các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện giải ngân vốn đầu tư công năm 2020. Bộ Tài chính kiến nghị các bộ, ngành và địa phương theo dõi chặt chẽ tình hình triển khai của từng dự án, ưu tiên bố trí vốn cho các dự án có tiến độ giải ngân tốt, các dự án cần đẩy nhanh tiến độ để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng... Đồng thời, tập trung chỉ đạo, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc, nhất là vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ dự án để hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Cho phép triển khai cơ chế giải ngân vốn vay nước ngoài trên môi trường điện tử, giải ngân không theo tỷ lệ cấp phát, cho vay lại. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư; yêu cầu các chủ dự án, nhà thầu tập trung các nguồn lực, trang thiết bị để triển khai dự án ngay sau khi hoàn thành công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu và thực hiện giải ngân vốn theo chế độ quy định. Quyết liệt chỉ đạo cắt giảm, điều chỉnh vốn từ dự án có tiến độ giải ngân chậm sang dự án có tiến độ tốt hơn. Kết thúc năm 2020, trường hợp vốn kế hoạch vẫn chưa giải ngân hết, trình Quốc hội cho phép hủy bỏ để giảm bội chi NSNN. Trong điều kiện thu ngân sách dự kiến giảm, chi ngân sách tăng, cân đối NSNN rất khó khăn, nhằm đảm bảo cân đối NSNN cho việc thực hiện các chính sách về tài khóa để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, Bộ Tài chính quyết tâm hoàn thành cao nhất nhiệm vụ thu NSNN, bao gồm cả nhiệm vụ cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước. Đẩy mạnh kiểm soát chi tiêu, triệt để tiết kiệm để cắt giảm các nhiệm vụ chi thường xuyên không thực sự cần thiết; các bộ, ngành, địa phương phải cắt giảm tối thiểu 30% dự toán kinh phí hội nghị, công tác phí trong nước và 50% dự toán kinh phí công tác nước ngoài trong 9 tháng cuối năm 2020. Sử dụng từ nguồn dự phòng, nguồn vượt thu của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để tập trung cho các nhiệm vụ khắc phục hậu quả dịch Covid-19, các nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ cân đối ngân sách. Bộ Tài chính cũng cho biết sẽ tiếp cận đàm phán một số khoản vay có chi phí thấp từ các tổ chức quốc tế như: Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới, Cơ quan phát triển Pháp, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản… để góp phần giảm áp lực vay trong nước. La Giang

Bộ Tài chính thông tin về kết quả kiểm tra việc mua gạo dự trữ quốc gia

TĐKT - Bộ Tài chính đã thông tin về kết quả kiểm tra việc mua gạo dự trữ quốc gia 4 tháng đầu năm 2020 tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước (TCDTNN) và các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực (Cục DTNNKV). Theo đó, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Tài chính, Thanh tra Bộ Tài chính đã thành lập đoàn kiểm tra để tiến hành kiểm tra việc tổ chức và thực hiện đấu thầu mua gạo dự trữ quốc gia năm 2020 tại TCDTNN và 22 Cục DTNNKV. Kết quả kiểm tra cho thấy: Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giao chỉ tiêu kế hoạch dự trữ quốc gia năm 2020, Bộ Tài chính (Tổng cục DTNN) được giao mua 190.000 tấn gạo. Kết quả mở thầu ngày 12/3/2020 tổng cộng có 28 doanh nghiệp trúng thầu cung cấp gạo DTQG đợt 1 năm 2020 với số lượng 178.000 tấn. Hết thời hạn phải ký hợp đồng, đã có 24 doanh nghiệp từ chối ký hợp đồng, với số gạo trúng thầu là 170.300 tấn; 2 doanh nghiệp ký hợp đồng cung cấp một phần số lượng gạo đã trúng thầu là 1.800 tấn; chỉ có 2 doanh nghiệp đã ký hợp đồng cung cấp đủ số lượng gạo trúng thầu là 5.900 tấn. Đối với nhà thầu từ chối ký hợp đồng, các Cục DTNNKV đã nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền đảm bảo dự thầu của nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu số tiền 27.877.516.125 đồng. Kết quả kiểm tra tại các điểm kho dự trữ của 22 Cục DTNNKV cho thấy có 7/22 Cục DTNNKV đã để các tổ chức, cá nhân gửi gạo trong kho dự trữ của nhà nước không đúng với qui định của Luật Dự trữ Nhà nước và văn bản hướng dẫn quản lý, sử dụng tài sản là trụ sở làm việc, kho dự trữ quốc gia của Tổng cục Dự trữ Nhà nước, gồm: Cục DTNN Khu vực Hà Bắc, Đông Bắc, Bắc Thái, Hà Nội, Hà Nam Ninh, Bình Trị Thiên và Thanh Hóa. Căn cứ kết quả kiểm tra, Bộ Tài chính đã quyết liệt, chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ triển khai ngay các nội dung: Thứ nhất, tổ chức kiểm điểm trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân đã để xảy ra các sai phạm nêu trong kết quả kiểm tra bao gồm: Lãnh đạo Tổng cục DTNN và các Vụ chức năng của Tổng cục trong việc thiếu kiểm tra giám sát để xảy ra các sai phạm trên. Tạm đình chỉ công tác để kiểm điểm làm rõ sai phạm đối với các Cục trưởng, Chi cục trưởng DTNN cho gửi hàng vào Kho DTNN trái quy định; kiểm điểm trách nhiệm các cá nhân của các Cục DTNN và Chi cục DTNN có liên quan đến các sai phạm trên. Thứ hai, rà soát các quy trình, quy chế quản lý Kho dự trữ nhà nước để sửa đổi bổ sung đảm bảo công tác giám sát, quản lý tập trung, hiện đại hóa. Xây dựng kế hoạch trang bị, lắp đặt hệ thống camera tại tất cả các điểm Kho DTNN để phục vụ công tác giám sát, quản lý đảm bảo an toàn Kho DTNN. Thứ ba, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính có trách nhiệm chuyển ngay hồ sơ vụ việc sai phạm sang Cơ quan Điều tra - Bộ Công an để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Hồng Thiết

Ngành Hải quan thu ngân sách đạt 101.000 tỷ đồng

TĐKT - Tổng cục Hải quan cho biết, trên cơ sở ước thu thuế xuất nhập khẩu (XNK) của tháng 4 đạt 22.000 tỷ đồng, đã đưa số thu ngân sách trong 4 tháng đầu năm 2020 của ngành ước đạt 101.000 tỷ đồng. Cũng theo Tổng cục Hải quan với số ước thu ngân sách 101.000 tỷ đồng, mặc dù đạt 29,88% dự toán, bằng 28,4% chỉ tiêu phấn đấu, nhưng giảm 13,2% so với cùng kỳ năm trước. Ngành Hải quan thu ngân sách 101.000 tỷ đồng Nguyên nhân số thu thuế giảm so với cùng kỳ là do ảnh hưởng của dịch Covid-19, khiến cho các mặt hàng XNK chính giảm mạnh, ảnh hưởng đến công tác thu nộp ngân sách. Điển hình như kim ngạch một số dòng hàng chính mang lại số thu cao bị giảm mạnh như ô tô nguyên chiếc các loại. Cụ thể, lượng ô tô nhập khẩu trong tháng 4/2020 ước tính giảm hơn 32% so với tháng 3, do đó tính chung 4 tháng đầu năm, lượng nhập khẩu mặt hàng này đã giảm hơn 35% so với cùng kỳ năm 2019. Để hạn chế ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến hoạt động XNK của doanh nghiệp (DN) và thu ngân sách, trong thời gian tới, ngành Hải quan tiếp tục triển khai nhiều giải pháp nhằm thông quan nhanh hàng hoá XNK, tạo điều kiện tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Đẩy mạnh hợp tác với các ngân hàng thương mại, triển khai mở rộng chương trình phối hợp thu 24/7 và chương trình Doanh nghiệp nhờ thu, duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của phát triển quan hệ đối tác hải quan – doanh nghiệp. Hồng Thiết  

K-Market hỗ trợ giảm giá vượt qua Covid-19

TĐKT – Từ ngày 24/4 – 3/5/2020, Chương trình giảm giá Hỗ trợ vượt qua Covid-19 được tổ chức tại 4 địa điểm: K-Market Golden Palace, K-Market Keangnam, K-Market Sapphire, K-Market Gardenia (Hà Nội). Chương trình được triển khai tại chuỗi siêu thị K-Market ở Hà Nội Chương trình nằm trong khuôn khổ các hoạt động xúc tiến thương mại – giao lưu văn hóa, được phối hợp tổ chức bởi Bộ Nông nghiệp và Thực phẩm Hàn Quốc, kết hợp với Tổng Công ty Nhà nước Thương mại Nông – Thủy sản và Thực phẩm Hàn Quốc tại Việt Nam (aT Việt Nam), Công ty TNHH Thương mại K&K Toàn cầu (chuỗi hệ thống siêu thị K-Market), nhằm mang tới cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao với giá ưu đãi trong mùa dịch. Nhân dịp này, khoảng 30 sản phẩm được hỗ trợ giảm giá, đều có xuất xứ từ Hàn Quốc, bao gồm các sản phẩm sử dụng thiết yếu hàng ngày và một số sản phẩm bổ sung, tăng cường sức đề kháng. Trong đó có thể kể tới: Mì Shin, mì Japagetti Oliu, lá kim ăn liền truyền thống, sữa đậu nành, nước gạo, nước khoáng, nước samdasu, gạo Anseong, pogi kim chi, nước hồng sâm hanppuri, nước trái cây… Nhiều sản phẩm chất lượng có xuất xứ Hàn Quốc được hỗ trợ giảm giá Tất cả các sản phẩm bày bán đều được chế biến từ nguồn nguyên liệu tươi ngon, có quy trình đóng gói, sản xuất nghiêm ngặt. Đây là những sản phẩm có chất lượng và độ an toàn cao, đang được người tiêu dùng nhiều nước quan tâm, ưa chuộng. Trước đó, nhằm chung tay chia sẻ trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng, K-Market đã triển khai chương trình “K-Market hỗ trợ nông dân Việt Nam”, áp dụng bán hàng không lợi nhuận đối với sản phẩm dưa hấu, nhằm kích cầu tiêu thụ. Qua chương trình, 19,5 tấn dưa hấu của bà con nông dân tại Gia Lai, Bình Định đã được tiêu thụ kịp thời trong mùa dịch. Đặc biệt, vừa qua, hệ thống siêu thị K-Market đã ủng hộ 100.000 USD, 50.000 khẩu trang, 500 thùng mì ăn liền, 500 bao gạo và nhiều hàng hóa khác, trị giá tương đương 1,6 tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam. Phương Thanh

Tổng Cục Hải quan gửi văn bản hỏa tốc hướng dẫn xuất khẩu gạo nếp

TĐKT - Tổng cục Hải quan vừa có văn bản hỏa tốc gửi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Hiệp hội Lương thực Việt Nam; các doanh nghiệp xuất khẩu gạo; Cục Hải quan các tỉnh, thành phố để hướng dẫn thủ tục đăng ký tờ khai xuất khẩu gạo nếp trong tháng 4. Tổng cục Hải quan gửi văn bản hỏa tốc hướng dẫn xuất khẩu gạo nếp Theo đó, Tổng cục Hải quan thiết lập trên Hệ thống VNACCS/VCIS để các doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu các lô hàng nếp (bao gồm thóc nếp, gạo nếp, tấm nếp) từ 0 giờ 00 phút ngày 23/4/2020. Về việc khai hải quan đối với nếp (bao gồm thóc nếp, gạo nếp, tấm nếp), để hỗ trợ Hệ thống phân biệt, theo dõi lượng hàng xuất khẩu đổi với các mặt hàng gạo khác, Tổng cục Hải quan đề nghị các doanh nghiệp thực hiện khai hải quan như sau: Trường hợp xuất khẩu gạo nếp, người khai hải quan khai rõ mã số hàng hóa là 1006.30.30 tại ô mã số hàng hóa trên tờ khai hải quan. Tại ô mô tả hàng hóa trên tờ khai hải quan, người khai hải quan khai rõ tên hàng là gạo nếp. Trường hợp xuất khẩu thóc nếp và tấm nếp, người khai hải quan khai mã số hàng hóa 1006.30.30 tại ô mã số hàng hóa trên tờ khai hải quan. Tại ô mô tả hàng hóa trên tờ khai hải quan, người khai hải quan khai rõ tên hàng tương ứng là thóc nếp, mã số hàng hóa là 1006.10 và tấm nếp, mã số hàng hóa là 1006.40. Số lượng thóc nếp, gạo nếp, tấm nếp xuất khẩu không tính trong hạn ngạch gạo xuất khẩu. Tổng cục Hải quan chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố nhận được văn bản cần thông báo đến các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trên địa bàn để thực hiện. Hướng dẫn trên của Tổng cục Hải quan thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại Thông báo 163/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ ngày 21/4/2020 và công văn số 2824/BCT-XNK ngày 22/4/2020 của Bộ Công thương về việc hướng dẫn xuất khẩu gạo nếp (bao gồm thóc nếp, gạo nếp, tấm nếp) trong tháng 4/2020 được thực hiện theo nhu cầu thị trường, không chịu sự điều chỉnh của cơ chế điều hành xuất khẩu gạo tại văn bản số 2827/VPCP-KTTH ngày 10/4/2020 của Văn phòng Chính phủ. Hồng Thiết    

Tập đoàn Hoa Sen công bố kết quả kinh doanh hợp nhất quý II

TĐKT - Ngày 22/4, Tập đoàn Hoa Sen (HSG) vừa công bố ước kết quả kinh doanh hợp nhất quý II niên độ tài chính (NĐTC) 2019 - 2020 từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/3/2020. Theo đó, sản lượng tiêu thụ quý II ước đạt 338.674 nghìn tấn và doanh thu ước đạt 5.780 tỷ đồng, giảm nhẹ lần lượt 8,6% và 16,3% so với cùng kỳ. Đáng chú ý là lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý II ước đạt 200 tỷ đồng, tăng mạnh 277% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu NĐTC 2019 - 2020 (01/10/2019 - 31/3/2020), HSG ước đạt sản lượng tiêu thụ 738.204 nghìn tấn, doanh thu ước đạt 12.365 tỷ đồng, giảm nhẹ lần lượt 3,8% và 14,4% so với cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế hợp nhất ước đạt 381 tỷ đồng, tăng mạnh 228% so với cùng kỳ. Lý giải nguyên nhân dẫn đến sản lượng tiêu thụ và doanh thu giảm nhẹ so với cùng kỳ, HSG cho biết từ đầu tháng 2/2020 đại dịch Covid-19 bùng phát trên thế giới nên sức tiêu thụ của thị trường giảm do ảnh hưởng từ tâm lý kinh doanh của khách hàng trở nên thận trọng hơn. Tuy nhiên HSG đã phát huy tối đa lợi thế bán hàng của hệ thống 536 cửa hàng tại thị trường nội địa và mạng lưới kênh xuất khẩu đến 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới để giảm đến mức thấp nhất có thể các tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 nhằm giữ vững thị phần và bảo đảm dòng tiền cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.   Lô hàng 10.000 tấn Tôn Hoa Sen vừa rời cảng Nghi Sơn đi Mexico vào ngày 4/4 vừa qua Lý giải nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận sau thuế hợp nhất tăng mạnh so với cùng kỳ, HSG cho biết ngay từ đầu NĐTC, HSG đã chủ động thực hiện chủ trương không theo đuổi chính sách cạnh tranh về giá bán mà chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ khách hàng nên đã cải thiện biên lợi nhuận gộp. Đồng thời HSG đã thực hiện hàng loạt biện pháp quản lý để giảm hàng tồn kho, giảm nợ vay ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh để tiết giảm chi phí. Lợi nhuận gộp tăng và chi phí giảm đã làm cho lợi nhuận sau thuế hợp nhất của HSG tăng mạnh. Cuối tháng 2/2020, HSG đã chính thức đưa ra thị trường dòng sản phẩm tôn siêu bền Hoa Sen Gold thuộc phân khúc cao cấp được bảo hành lên đến 30 năm với giá bán đồng nhất và giao hàng miễn phí trên toàn quốc. Tháng 3/2020, HSG cũng triển khai chương trình khuyến mại cho nhãn hàng Ống nhựa Hoa Sen với giá trị giải thưởng lên đến 17 tỷ đồng, làm sôi động thị trường vật liệu xây dựng và ngành nhựa nói riêng năm 2020. Ngoài các điểm bán hàng trực tiếp thông qua các cửa hàng trực thuộc và các nhà phân phối, đại lý, HSG là đơn vị tiên phong bán hàng trực tuyến qua website www.hoasengroup.vn được triển khai từ năm 2017 và bán hàng trên trang thương mại điện tử Shopee. Việc này giúp khách hàng có thể giao dịch an toàn, tiện lợi tại nhà và hoạt động bán hàng của HSG vẫn thông suốt kể cả trong thời gian dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra hiện nay. Trong ngắn hạn, tác động của dịch Covid-19 đến các doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi. Cùng với cả nước, HSG đã chủ động thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19, quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh, đảm bảo việc làm, thu nhập cho cán bộ công nhân viên và lợi ích tốt nhất cho khách hàng và cổ đông. Xuân Phúc  

Giữ nguyên hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam ở mức BB

TĐKT - Tổ chức Fitch Ratings (“Fitch”) thông báo về việc giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam ở mức BB và điều chỉnh triển vọng sang Ổn định. Cơ sở Fitch điều chỉnh triển vọng tín nhiệm từ Tích cực sang Ổn định phản ánh đánh giá của tổ chức này về tác động ngày càng lan rộng của đại dịch Covid-19 tới nền kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện tín dụng trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, thông qua các kênh xuất khẩu, du lịch và sự giảm sút của tổng cầu. Trong quá trình Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan làm việc với Fitch để đánh giá hệ số tín nhiệm quốc gia cuối tháng 3/2020, phía Việt Nam đã trao đổi và đưa ra những minh chứng thuyết phục về khả năng thích ứng của nền kinh tế được thể hiện rõ nét trong bối cảnh toàn cầu đầy thách thức như hiện nay. Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam đã nỗ lực thực hiện quyết liệt, hiệu quả và đã bước đầu thành công trong việc ngăn chặn, kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội. Kết quả này đã được Tổ chức Y tế Thế giới, chính phủ các nước cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao, góp phần bồi đắp nền tảng thuận lợi cho nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ sau khi dịch được kiểm soát. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, việc Fitch xác nhận giữ nguyên bậc tín nhiệm quốc gia ở mức BB phản ánh nhận định các điểm sáng về tín dụng của Việt Nam vẫn không bị ảnh hưởng, trong đó bao gồm tiềm năng phát triển vững chắc trong trung hạn, môi trường kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; gánh nặng nợ Chính phủ được kiểm soát ở mức thấp và khả năng tiếp cận nguồn tài chính đối ngoại thuận lợi hơn so với các quốc gia cùng nhóm xếp hạng. Tổ chức này cũng đánh giá cao việc Việt Nam đã tận dụng điều kiện kinh tế thuận lợi trong những năm qua để củng cố tình hình tài khóa và tích lũy dự trữ ngoại hối, góp phần tăng mức đệm dự phòng trước những rủi ro vĩ mô. Fitch cũng dự báo đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ quay trở lại vào năm 2021, với mức tăng trưởng dự kiến là 7,3% do nhu cầu trong nước và nước ngoài dần hồi phục theo xu hướng toàn cầu và khu vực. Trong tháng vừa qua, Fitch đã có động thái điều chỉnh đánh giá tín nhiệm tiêu cực đối với 19 nước trên toàn cầu, trong đó 12 quốc gia bị hạ bậc tín nhiệm và 7 quốc gia bị hạ triển vọng. Bộ Tài chính cùng các cơ quan liên quan đã và đang phối hợp chặt chẽ, cập nhật thông tin cho Fitch về tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh dịch bệnh tiếp diễn. Qua đó, Bộ Tài chính tin rằng Fitch cũng như các tổ chức xếp hạng tín nhiệm khác sẽ có thông tin đầy đủ để đưa ra nhìn nhận đúng đắn, tích cực về hồ sơ tín dụng của Việt Nam trong tương lai. Hồng Thiết  

VNPT đồng loạt giảm giá cước viễn thông chung tay chống dịch Covid -19

TĐKT - Chung tay gánh vác trách nhiệm cộng đồng và san sẻ những khó khăn của người dân cả nước trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, VNPT đồng loạt giảm giá cước viễn thông, tặng gói cước 0 đồng, nâng tốc độ Internet và tặng 50% dung lượng Data cho thuê bao di động VinaPhone. Nâng tốc độ Internet lên 50Mbps và tặng 50% dung lượng data cho khách hàng cả nước Dành cho tất cả khách hàng trên toàn mạng VinaPhone, VNPT sẽ tặng 50% dung lượng gói data giá không đổi từ ngày 6/4 đến hết 30/6/2020. Ví dụ: với gói cước 60GB/tháng (2GB/ngày) sau khi tăng sẽ lên 90GB/tháng (3GB/ngày). Tất cả thuê bao VinaPhone sẽ nhận được ưu đãi này, theo đó hàng triệu khách hàng sẽ được bổ sung dung lượng đáp ứng nhu cầu làm việc từ xa, làm việc trực tuyến trong thời gian giãn cách xã hội phòng, chống dịch bệnh hiện nay. VNPT nhắn tin tặng DATA cho khách hàng Đối với dịch vụ Internet, kể từ 9/4/2020, VNPT nâng tốc độ Internet các gói có tốc độ dưới 50Mbps lên 50Mbps nhằm gia tăng chất lượng đường truyền đáp ứng nhu cầu cho gia đình sử dụng trong thời gian giãn cách xã hội. Chương trình sẽ được áp dụng trong 3 tháng cho tất cả khách hàng sử dụng gói Internet hoặc gói tích hợp Internet - Truyền hình của VNPT có tốc độ dưới 50Mbps. Như vậy, việc sử dụng Internet của cả gia đình cùng lúc như làm việc, học tập, giải trí sẽ luôn được đảm bảo.  Tặng gói cước 0 đồng cho đội ngũ chống dịch và khu vực cách ly Thay lời khích lệ đến đội ngũ phòng chống dịch đang ngày đêm làm việc tại các tuyến đầu trên cả nước, cũng như động viên tinh thần người dân tại các khu cách ly, VNPT sẽ tặng gói cước di động 0 đồng với hàng ngàn phút gọi và 60GB mỗi tháng cho đội ngũ chống dịch. Chương trình sẽ được áp dụng từ 1/4/2020 đến khi Việt Nam công bố hết dịch. Gói cước hỗ trợ chống dịch sẽ bao gồm mỗi tháng 1.500 phút gọi nội mạng, 50 phút gọi ngoại mạng và 60GB data tốc độ cao (2GB/ngày), đáp ứng khá trọn vẹn việc sử dụng di động của người dùng. Qua đó, đội ngũ phòng, chống dịch hay người dân đang cách ly có thể liên lạc dễ dàng tới gia đình, bạn bè, chia sẻ và vơi bớt những lo âu trong những ngày tại các tuyến đầu chống dịch. Dung lượng data của gói cũng phục vụ người dùng kết nối online thay cho đường truyền wifi thông thường, nhanh chóng cập nhật tin tức hay lướt mạng giải trí. Thành viên của đội ngũ hỗ trợ phòng, chống dịch sẽ nhận được gói cước ưu đãi trong 2 tháng. Với người dân tại khu cách ly, thời gian ưu đãi là 1 tháng. Chương trình miễn cước sẽ đồng hành cùng cuộc chiến chống dịch đến khi tỉnh/thành phố cuối cùng tại Việt Nam công bố hết dịch Covid-19. Để hỗ trợ đội ngũ nhân viên y tế, VNPT trang bị miễn phí đường truyền Internet và tặng 2 gói cước Internet 0 đồng tốc độ 50Mbps và 100Mbps cùng ứng dụng truyền hình MyTV Net cho các nhân viên y tế đang phục vụ công tác chống dịch trong khu vực cách ly. Đối với khu cách ly có quy mô dưới 100 người sẽ tặng gói Covid Home1 tốc độ 50Mbps, các khu cách ly trên 100 người sẽ tặng gói Covid Home2 tốc độ 100Mbps Chương trình có thời hạn 02 tháng, phục vụ nhu cầu sử dụng của đội ngũ y tế khi phải thường xuyên ứng trực với lịch làm việc xa nhà dài ngày. Đại dịch Covid-19 hiện vẫn đang ảnh hưởng nặng nề đến nhiều quốc gia trên khắp thế giới và tại Việt Nam, nỗ lực của cả Chính phủ và người dân đang được đẩy lên cao nhất để chặn đứng đà lây lan của dịch bệnh. Trong giai đoạn then chốt này, sự hỗ trợ của VNPT nói riêng cũng như các doanh nghiệp nói chung hướng tới những người dân dễ bị ảnh hưởng, đội ngũ phòng chống dịch hy vọng sẽ tiếp thêm nguồn lực, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, nỗ lực cùng cả cộng đồng quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh. Hồng Thiết

Ứng phó tác động kép từ dịch Covid-19 và giá dầu xuống thấp: Cần sự điều chỉnh mang tính chiến lược để ngành dầu khí vượt khó

TĐKT - Ngành công nghiệp dầu khí thế giới nói chung và ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam nói riêng đang đứng trước những khó khăn, thách thức vô cùng lớn khi phải đương đầu với tác động kép: Dịch Covid-19 lan rộng tác động nặng nề đến nhiều nền kinh tế và giá dầu lao dốc mạnh. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những điều chỉnh mang tính chiến lược để hỗ trợ ngành dầu khí Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này. Ứng phó tác động kép từ dịch Covid-19 Dịch Covid-19 ảnh hưởng trực tiếp tới ngành dầu khí Hoạt động khai thác dầu khí nước ta trong tình trạng giá dầu xuống thấp như hiện nay cho thấy thiệt hại về kinh tế là rõ ràng, những điểm lợi từ nhập khẩu xăng dầu giá thấp không thể bù đắp. Trong khi quốc gia xuất khẩu dầu lớn như Mỹ còn tính đến phương án tăng cường nhập khẩu dầu thô giá thấp để dự trữ thì Việt Nam càng cần cân nhắc bài toán duy trì sản lượng. Hoạt động sản xuất và kinh doanh xăng dầu cũng chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh Covid-19 và giá dầu xuống thấp khi nhu cầu vận tải, lưu thông sụt giảm. Các cửa hàng, đại lý xăng dầu hạn chế nhập hàng để chờ giá giảm, chiết khấu bán lẻ trên thị trường tăng mạnh so với thời điểm tháng 1/2020, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản phẩm của nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất và NMLD Nghi Sơn. Hiện tại tồn kho xăng dầu của NMLD Nghi Sơn ở mức rất cao, khoảng 70-85% và có nguy cơ tank-top trong tháng 3/2020, tồn kho của NMLD Dung Quất có xu hướng tăng nhanh khi các khách hàng lùi lịch nhận hàng do tình hình tiêu thụ và sức chứa khó khăn. Tình hình kinh doanh xăng dầu của PVN dự kiến sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thua lỗ tăng cao nếu tình hình dịch bệnh không được kiểm soát trong thời gian tới. Trong những tháng đầu năm 2020, mặc dù sản lượng sản xuất hầu hết các sản phẩm phân bón của các nhà máy thuộc PVN đều đạt và vượt mức kế hoạch tháng nhưng sản lượng tiêu thụ phân ure và NPK không như kỳ vọng, nguyên nhân do hầu hết các khu vực sản xuất nông nghiệp nhu cầu vẫn còn thấp. Đặc biệt, khu vực miền Tây, tình hình hạn mặn rất cao đã làm thiệt hại các diện tích trồng lúa. Bên cạnh đó, do dịch Covid-19 đã làm ảnh hưởng đến việc xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Quốc, nông dân cẩn trọng không đầu tư nhiều lúc này, làm giảm diện tích canh tác và dẫn đến nhu cầu phân bón giảm trong ngắn hạn. Các giàn khoan hiện đang cung cấp cho khách hàng ở nước ngoài, nếu dịch bệnh kéo dài, các cửa khẩu đóng cửa, ngừng các chuyến bay quốc tế… sẽ ảnh hưởng đến việc triển khai các hợp đồng cung cấp dịch vụ và giá cho thuê giàn. Tương tự, với các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật dầu khí thực hiện ở nước ngoài, việc đưa lao động đi nước ngoài làm việc đang gặp nhiều khó khăn do hầu hết các nước đều hạn chế việc xuất nhập cảnh trong thời gian hiện tại, thủ tục xin visa bị siết chặt bởi cả 2 phía, gây khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và chi phí hơn so với trước đây. Quyết liệt ứng phó Để ứng phó với tác động kép nêu trên, liên tục trong các ngày gần đây, Tổng Giám đốc PVN Lê Mạnh Hùng đã chủ trì các cuộc họp đột xuất trực tuyến với một số đơn vị thuộc các lĩnh vực chính trong Tập đoàn về tình hình sản xuất, kinh doanh, các giải pháp ứng phó với tác động kép của dịch Covid-19 và giá dầu sụt giảm đột biến. Chính vì vậy, Tập đoàn cùng các đơn vị một mặt phải nỗ lực “chèo lái qua giông bão”, một mặt biết cách chắt lọc cơ hội trong nguy cơ để có thể vực lại tình hình sản xuất, kinh doanh một cách nhanh nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Với tinh thần đó, Tổng Giám đốc PVN đề nghị Tập đoàn và các đơn vị khẩn trương xây dựng quy định nội bộ trong toàn Tập đoàn nhằm quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ dịch Covid-19 một cách an toàn, không để gián đoạn; các đơn vị tập trung rà soát công việc, tăng cường quản trị, triển khai các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí và nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đưa ra các kịch bản đối phó với từng tình huống giá dầu xuống thấp nhất, thậm chí là kịch bản xấu nhất như buộc phải dừng hoạt động các mỏ, nhà máy lọc dầu; các đơn vị trong Tập đoàn cần tăng cường chia sẻ thông tin, nguồn lực, thị trường... nhằm tối ưu hiệu quả hoạt động trong cả chuỗi giá trị của Tập đoàn; tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước có ngành nghề kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị mình cung cấp nhằm tháo gỡ thị trường, tối ưu nguồn lực của các bên để cùng cộng sinh vượt qua các khó khăn hiện tại. Về phía các đơn vị của PVN đã tính toán trên cơ sở công suất chứa khả dụng hiện tại, xem xét phương án mua dự trữ dầu thô, sản phẩm xăng dầu nhằm tranh thủ cơ hội giá dầu chạm đáy làm động lực tăng trưởng khi thị trường ấm trở lại. Cách làm này vừa gia tăng dự trữ dầu thô cho đất nước, củng cố vấn đề an ninh năng lượng khi đây luôn là mặt hàng chiến lược trong các mối tương quan chính trị khu vực và thế giới, vừa giúp ngân sách tiết kiệm một khoản ngoại tệ không nhỏ khi phải nhập khẩu dầu lúc giá dầu lên cao và tránh lãng phí tài nguyên. PVN và các đơn vị đang nỗ lực, chủ động trong việc ứng phó với tác động của dịch Covid-19 cũng như việc giá dầu xuống thấp, đồng thời đề ra các giải pháp quyết liệt ứng phó. Tuy nhiên, để thấy rằng, trong bối cảnh diễn biến dịch bệnh và giá dầu khó lường như hiện nay, bên cạnh sự chủ động nắm bắt tình hình, triển khai đồng bộ các giải pháp của PVN thì cũng rất cần có cơ chế đặc biệt để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đồng thời nắm bắt cơ hội phát sinh, từ đó vượt qua thách thức trong thời điểm hiện tại. Đó là cơ chế kiểm soát, quản trị rủi ro, phương châm hành động thật nhanh, nghĩ thật nhanh để có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết công việc, điều hành sản xuất, kinh doanh vào giai đoạn đặc biệt khó khăn này. Dưới góc độ vĩ mô, việc giá dầu thế giới giảm sâu đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của PVN, qua đó làm giảm mức đóng góp của Tập đoàn với nền kinh tế. Nhưng ở chiều hướng ngược lại, xu hướng này cũng đang mở ra nhiều cơ hội mở rộng đầu tư, tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí khi giá dịch vụ và giá thuê giàn khoan giảm mạnh; nhiều chủ mỏ sẽ phải đóng mỏ hoặc bán mỏ; chi phí trong việc đàm phán các hợp đồng khai thác, thăm dò dầu khí vì thế cũng giảm mạnh… Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, PVN cần có cơ chế để tạo nguồn lực, chủ động trong việc thực hiện các dự án, kế hoạch thăm dò, khai thác dầu khí, gia tăng trữ lượng... Để hỗ trợ ngành dầu khí vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, Bộ Tài chính cần phải rà soát lại các chính sách thuế, phí đối với lĩnh dầu khí để kịp thời có những đề xuất, kiến nghị tháo gỡ kịp thời cho PVN và các đơn vị thành viên, như vấn đề thuế VAT đối với mặt hàng phân Ure, thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng với hoạt động khai thác dầu khí, cơ chế tài chính cho Quỹ tìm kiếm thăm dò cho các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thăm dò – khai thác dầu khí... Trong tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, ngành dầu khí luôn được Đảng, Chính phủ xác định là ngành kinh tế giữ vai trò chủ lực, đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế và cũng là công cụ điều tiết vĩ mô, là cấu phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Với sự nỗ lực, quyết tâm của tập thể những người lao động dầu khí, PVN đã không ngừng lớn mạnh, trở thành Tập đoàn kinh tế hàng đầu đất nước và đang vươn tầm quốc tế. Hoạt động của PVN trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành đã giữ vị trí, vai trò định hướng, thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. PVN là doanh nghiệp Nhà nước chủ lực, những thay đổi về mặt cơ chế, chính sách quản lý mang tính chiến lược đối với PVN sẽ tác động quan trọng đến đóng góp của ngành dầu khí vào ngân sách Nhà nước, cũng như tác động đến việc tạo nền tảng cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn mà ngành dầu khí đang phải đối diện trong tình hình hiện nay là vấn đề cấp bách, là đòi hỏi tất yếu trong nền kinh tế thị trường và cũng là sự đảm bảo cho mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước cũng như đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Hồng Thiết

Trang