Diễn đàn

Trí thức trẻ Việt đóng góp vào các vấn đề nóng của đất nước

TĐKT - Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ nhất với chủ đề “Phát huy sức mạnh trí thức trẻ Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần đầu tiên tổ chức tại TP Đà Nẵng với sự hợp tác của nhà tài trợ vàng Vietinbank có nhiều nội dung phong phú. Tại đây, các trí thức trẻ Việt Nam trong và ngoài nước đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng để thúc đẩy ứng dụng công nghệ 4.0 trong phát triển đất nước. 70 trí thức trẻ đang công tác, học tập tại 20 quốc gia trong 200 trí thức trẻ tham dự Diễn đàn đã thảo luận, trình bày quan điểm, đóng góp ý kiến tại 3 nhóm nội dung: “Thúc đẩy STEM để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển cách mạng công nghiệp 4.0”, “Ứng dụng công nghệ 4.0 trong bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu”, “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh”. Ứng dụng STEM để đào tạo nguồn nhân lực Chia sẻ về các mô hình giáo dục STEM trên thế giới và tính khả thi khi đưa vào Việt Nam, TS. Nguyễn Trọng Hồng Phúc, Đại học Cần Thơ cho biết: Hiện trên thế giới, STEM đã phát triển từ rất lâu. Các trường hàng đầu ở Mỹ, hay những quốc gia lân cận như Singapore, Hàn Quốc... đều đã và đang ứng dụng giáo dục STEM và STEAM. Từ việc phát triển giáo dục STEAM, người ta cũng đưa ra những khung đánh giá năng lực tương ứng. Câu hỏi đặt ra là vì sao giáo dục STEM trên thế giới lại thành công? Các đại biểu tham dự chủ đề “Thúc đẩy STEM để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển cách mạng công nghiệp 4.0”. Theo TS. Hồng Phúc, có 2 lý do chính để các nước phát triển được giáo dục STEAM đó là: Một là sự đồng bộ của giáo dục STEM của họ (bao gồm: Chính sách, cơ sở hạ tầng giáo dục, phương pháp kiểm tra đánh giá). Thứ hai là sự thành công đến từ sự tham gia của các thành phần xã hội (gồm: Nhà trường, gia đình, xã hội). “Vậy chúng ta làm sao phát triển được nguồn nhân lực của chúng ta để có thể thúc đẩy giáo dục STEM ở Việt Nam? Đó là phải có được đội ngũ quản lý am hiểu về giáo dục STEM, sau đó là đội ngũ giảng viên, sinh viên sư phạm và giáo viên các cấp. Cùng với đó, chúng ta cũng cần có cơ sở vật chất - cơ sở dữ liệu; có các khoá huấn luyện về giáo dục STEM; chính sách giáo dục phù hợp”, TS. Hồng Phúc nói. Đề xuất với các nhà quản lý giáo dục, TS. Hồng Phúc cho rằng: Chúng ta cần phải thiết lập chính sách khuyến khích giáo dục STEM, tạo bộ khung chuẩn cho STEM Việt Nam; đối với đội ngũ giảng viên cần học tập, áp dụng STEM, tăng cường hợp tác thức đẩy nâng cao năng lực giảng dạy; đối với sinh viên sư phạm cần hiểu về giảng dạy STEM, thực hành về STEM; đối với đội ngũ giáo viên cơ sở cần được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về STEM.   Bạn Nguyễn Minh Luân, Đại học Studencheskaya Ulitsa ( Nga) chia sẻ về chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phổ cập STEAM cho người khuyết tật. Chia sẻ về chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phổ cập STEAM cho người khuyết tật, bạn Nguyễn Minh Luân, Đại học Studencheskaya Ulitsa (Nga) nói về chính câu chuyện của bản thân mình. Đây là nguồn cảm hứng để Luân nghiên cứu vấn đề này. Một tai nạn từ khi còn nhỏ khiến Luân bị chấn thương não. Gia đình nghĩ rằng anh chỉ có thể “học tới đâu hay tới đó”, đến lớp cho bằng bạn bằng bè. Nhưng bản thân Luân chưa từng từ bỏ. Anh tham gia nhiều cuộc thi, nỗ lực học lên. Từ trải nghiệm của bản thân, anh đã phân tích nhu cầu, khả năng tiếp nhận giáo dục STEM của người khuyết tật.. “Những người khuyết tật có sự tự ti, thiếu niềm tin nhưng cũng chính họ là những người nỗ lực và kiên trì nhất với mục tiêu của mình. Việt Nam có 8 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% nguồn nhân lực Việt Nam, chính vì vậy, không thể không tính đến đóng góp của những đối tượng này cho nền kinh tế. Đó cũng là lý do cần phải quan tâm tới giáo dục STEM dành cho người khuyết tật ở Việt Nam”, Nguyễn Minh Luân nhấn mạnh. Chị Lê Thị Kim Anh trình bày tham luận chủ đề “Nữ giới và STEM”. Chị Kim Anh lý giải vì sao tỷ lệ nữ giới tham gia STEM rất thấp so với nam giới, bàn về các biện pháp cải thiện. Theo Kim Anh, biện pháp nhằm cải thiện tỷ lệ nữ giới tham gia STEM là: Phổ cập vấn đề; truyền thông về những hình mẫu, nhà khoa học là nữ tại Việt Nam và trên thế giới; tạo mạng lưới kết nối. Bảo vệ môi trường với công nghệ 4.0 Trình bày tham luận về "Tác động của biến đổi khí hậu lên sức khỏe tại Việt Nam", TS. Trần Trọng Đăng và ThS. Trương Văn Đạt đến từ Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh cho rằng: “Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một hiện tượng toàn cầu. Nhưng tác động của nó khác nhau tùy từng địa phương...” Để minh chứng cho điều nay, TS. Trần Trọng Đăng cho biết: Hiện sốt xuất huyết đang là vấn đề của toàn cầu, cứ sau 10 năm số mắc sốt xuất huyết trên thế giới lại tăng gấp đôi; gần 4 tỷ người sống trong vùng nguy cơ, số mắc ghi nhận ở 128 nước. Năm 2015, tại Trung Quốc, Malaysia, Campuchia, Đài loan, Ấn Độ, sốt xuất huyết cũng đang gia tăng sau nhiều năm không có dịch. Tại Việt Nam, năm 2017, cả nước ghi nhận 148.200 trường hợp mắc trong đó có 30 trường hợp tử vong. Ngoài ra, phát thải khí nhà kính ngày càng tăng là nguyên nhân chủ yếu của xu thế ấm lên toàn cầu, tầng ozon bị phá hủy dẫn đến sự tăng cường độ bức xạ tử ngoại trên mặt đất. Điều này đã gây bệnh ung thư da và các bệnh về mắt.... TS. Trần Trọng Đăng kiến nghị một số biện pháp để giảm thiểu dịch sốt xuất huyết đó là: Xây dựng hệ thống quốc gia về cảnh báo hiện tượng thời tiết cực đoan (Heat-Health Warning) và hệ thống giám sát, cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm, ứng phó với BĐKH; quy hoạch đô thị cần chú ý tới tính thích nghi và giảm thiểu tác động BĐKH (ví dụ: Quy hoạch mảng xanh, phương tiện giao thông công cộng...); tăng cường mạng lưới liên kết 3 nhà: Nhà sử dụng + Nhà chính sách + Nhà nghiên cứu... Diễn đàn về “Thúc đẩy STEM để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển cách mạng công nghiệp 4.0” thu hút rất nhiều tham luận của các nhà khoa học tâm huyết về vấn đề phát triển giáo dục hiện đại cho đất nước đáng để tham khảo. Những ý kiến đề xuất của các nhà khoa học sẽ được Ban tổ chức Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổng hợp, đề xuất với Chính phủ để có những chính sách phù hợp, thúc đẩy phát triển giáo dục Việt Nam. Hưng Vũ

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay

TĐKT - Quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, những năm qua, công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng của Trường Sĩ quan Lục quân 2 đã được cấp ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, bảo đảm cho phong trào phát triển toàn diện cả bề rộng và chiều sâu; tập trung đột phá vào thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm, khắc phục khâu yếu, mặt yếu. Cùng với việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI), lồng ghép các phong trào thi đua, cuộc vận động của các ngành, phong trào thi đua Quyết thắng đã trực tiếp góp phần xây dựng Nhà trường vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chất lượng giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng lên. Công tác nghiên cứu khoa học luôn được chú trọng, hoạt động ngày càng thiết thực, hiệu quả. Xây dựng nền nếp chính quy có nhiều tiến bộ. Đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, cảnh quan môi trường luôn xanh, sạch, đẹp. Cơ sở vật chất, kỹ thuật và các điều kiện bảo đảm huấn luyện, sinh hoạt ngày càng tốt hơn. Dân chủ được phát huy, nội bộ đoàn kết, thống nhất. Các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh. Nhà trường vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà trường, Quân đội trong thời kỳ mới. Cùng với tổ chức tốt phong trào thi đua Quyết thắng, công tác khen thưởng ở Nhà trường được tiến hành kịp thời, chặt chẽ, đúng quy định, có tác dụng cổ vũ, động viên các tập thể, cá nhân không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện còn một số hạn chế, cần khắc phục, đó là ở một số cấp ủy, chính trị viên và chỉ huy các cấp chưa quan tâm đúng mức đến công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng. Một số cán bộ, giảng viên, học viên, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng. Chất lượng thực hiện phong trào xây dựng “Đại đội 3 nhất”, “Bộ môn 3 tốt”, “Ban 3 tốt” của một số đơn vị còn hạn chế. Chất lượng xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật có nhiều chuyển biến tiến bộ, nhưng chưa vững chắc. Quản lý kỷ luật có lúc chưa chặt chẽ, lễ tiết tác phong, xưng hô chào hỏi của quân nhân chuyển biến chưa rõ nét. Kết hợp giữa công tác thi đua với khen thưởng, công tác cán bộ và chính sách có lúc chưa chặt chẽ. Từ những vấn đề trên, để không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước, cũng như các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng; phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến trong Quân đội. Đặc biệt, cần quán triệt sâu sắc phương hướng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng giai đoạn 2015 - 2019 mà Đại hội thi đua Quyết thắng Nhà trường đã đề ra. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, hành động, làm cho tinh thần thi đua yêu nước thực sự trở thành ý thức, trách nhiệm thường xuyên của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ, tạo thành cao trào hành động cách mạng sôi nổi, thực sự là động lực to lớn, góp phần xây dựng Nhà trường và từng cơ quan, khoa giáo viên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hai là, gắn phong trào thi đua Quyết thắng với thực hiện có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Toàn trường cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua xây dựng “Đại đội 3 nhất, Bộ môn 3 tốt , Ban 3 tốt”. Có nhiều biện pháp đột phá bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên toàn diện, tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học tích cực, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang, thiết bị dạy, học theo hướng hiện đại. Các cán bộ, giảng viên cần ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, không ngừng nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng; năng lực, trình độ chuyên môn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, xứng đáng là những tấm gương sáng cho học viên noi theo.  Đội ngũ học viên tích cực thi đua “Học giỏi, kỷ luật nghiêm”, “Đẩy khá, xóa kém”, phấn đấu trở thành người đảng viên, người cán bộ ưu tú của Đảng trong Quân đội. Nhân viên, chiến sĩ làm công tác chuyên môn, kỹ thuật và phục vụ nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng hiệu quả công việc, bảo đảm phục vụ tốt cho công tác giáo dục - đào tạo và các hoạt động của Nhà trường. Làm cho phong trào thi đua phát triển ngày càng sâu rộng, thực sự trở thành đòn bẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, xây dựng chính quy, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật; khắc phục khâu yếu, mặt yếu, việc khó, việc mới; xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Ba là, hình thức, biện pháp thi đua cần đa dạng, phong phú, thiết thực, hiệu quả, làm cho phong trào phát triển sôi nổi, rộng khắp, thực hiện “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Trên cơ sở các nội dung thi đua chung của toàn quân và Nhà trường, các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị phải cụ thể hoá thành các mục tiêu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, trong từng giai đoạn. Trước mắt, tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm: Xây dựng bản lĩnh chính trị, ý thức sẵn sàng chiến đấu, chủ động đối phó có hiệu quả với mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Thực hiện tốt việc “Dạy sáng tạo, học sáng tạo, thi thực chất, đánh giá kết quả thực chất”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, tạo sự chuyển biến vững chắc trong xây dựng nền nếp chính quy. Đồng thời, cần chủ động khắc phục khó khăn, tích cực cải tiến kỷ thuật; phát triển tăng gia sản xuất, làm kinh tế đạt hiệu quả cao; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị và Nhà trường luôn xanh, sạch, đẹp, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Tiếp tục tuyên truyền nhân rộng, giữ vững thành tích của các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, không ngừng phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới để xây dựng điển hình, tạo thành phong trào “Đua, đuổi kịp và vượt” các điển hình tiên tiến. Chống mọi biểu hiện phô trương, hình thức, che giấu khuyết điểm, bảo đảm cho phong trào thi đua phát triển sâu, rộng, thực chất, có độ vững chắc và hiệu quả. Xây dựng được nhiều tập thể, cá nhân điển hình toàn diện, điển hình từng mặt công tác, để tuyên truyền nêu gương tại Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân, toàn quốc. Bốn là, chủ động bám sát sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan Thường trực Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng, của Tổng cục Chính trị. Nhà trường cũng như từng cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị cần tăng cường đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, phát huy khả năng sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân. Nâng cao năng lực làm tham mưu của hội đồng (tổ) thi đua khen thưởng các cấp, của đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, tạo bước chuyển biến mới về chất trong phong trào thi đua Quyết thắng, bảo đảm tính thường xuyên, liên tục, bền vững, sâu rộng. Kiên quyết chống bệnh hình thức, chạy theo thành tích. Công tác khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch; tập trung hướng về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị trung tâm, đơn vị, cá nhân trực tiếp làm nhiệm khó khăn, gian khổ, tính chất phức tạp. Kết hợp chặt chẽ công tác thi đua với công tác khen thưởng, công tác cán bộ và chính sách; làm cho phong trào thi đua Quyết thắng phát triển ngày càng bền vững, đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả. Phan Thị Quỳnh Hoa

Kỹ năng tổ chức hoạt động thanh thiếu nhi – Hành trang cần thiết cho phát triển cộng đồng

TĐKT - Trên thế giới, Công tác xã hội (CTXH) đã có quá trình phát triển hơn 100 năm và đã tồn tại ở nhiều quốc gia. Tính đến nay, có khoảng 140 quốc gia là thành viên của Hiệp hội Cán bộ xã hội Quốc tế; khoảng 100 quốc gia tham gia Hiệp hội đào tạo công tác xã hội thế giới. CTXH hướng đến trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, nạn nhân của bạo hành và tệ nạn xã hội... phát triển khả năng và sử dụng các nguồn lực riêng của họ và của cộng đồng, xã hội để giải quyết vấn đề khó khăn của mình. Tại Việt Nam, từ năm 2010, “Công tác xã hội là một hoạt động chuyên môn mới, là mô hình hoạt động chuyên môn hiệu quả hướng đến trợ giúp và nâng cao chất lượng sống của các đối tượng yếu thế.” (1). Trong những năm qua, song hành với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, cộng đồng có vấn đề xuất hiện với nhiều thách thức, rủi ro. Điều này đòi hỏi nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) không chỉ trợ giúp các đối tượng là cá nhân, nhóm mà còn đóng vai trò như một tác viên cộng đồng, hỗ trợ các cộng đồng đóphát triển, cân bằng xã hội vững mạnh. Chính vì vậy, đối với nhân viên công tác xã hội nói chung và sinh viên đang theo học ngành này nói riêng, phát triển cộng đồng là hết sức cần thiết và việc trang bị các hành trang phù hợp để phát triển cộng đồng của sinh viên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn. Theo ThS. Nguyễn Thị Oanh, 1995: “Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực, thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và cung cấp tổ chức và tiến tới tự lực phát triển.” Phát triển cộng đồng (PTCĐ) là phương pháp giải quyết trong phạm vi một cộng đồng, vì vậy thâm nhập cộng đồng đó là một bước vô cùng quan trọng trong tiến trình thực hiện.Với mục đích phát triển con người, kinh tế, thực hiện an sinh xã hội cho người dân, xây dựng một cộng đồng phát triển, PTCĐ mang lại nhiều ý nghĩa cho xã hội. Mọi người đều có quyền được phát triển, được có công ăn việc làm, được phát triển, được có công ăn việc làm qua thực hiện an sinh xã hội. Cùng đó, người dân được đảm bảo cuộc sống đầy đủ, có giá trị, được tôn trọng và được bảo vệ. Không chỉ có vậy, PTCĐ còn mang lại công bằng xã hội. Ai cũng có quyền, có cơ hội như nhau để thỏa mãn nhu cầu cơ bản và giữ gìn giá trị và nhân phẩm của mình. Công bằng xã hội đòi hỏi sự phân bổ lại tài nguyên và quyền quyết định trong xã hội, thúc đẩy một cộng đồng trở nên mạnh hơn, có thể tự bảo vệ mình và bảo vệ những hoàn cảnh khác trong cộng đồng của mình. Từ đây, tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội cũng được nâng cao. Con người với tư cách là một thành tố của cộng đồng và xã hội không chỉ quan tâm đến cá nhân mình mà còn có trách nhiệm với đồng loại, cùng nhau giải quyết những nhu cầu, vấn đề chung. Thực hành PTCĐ được giảng dạy vào năm thứ ba, là môn học bắt buộc và cần thiết dành cho mỗi sinh viên ngành CTXH. Ngoài kiến thức học tập, thái độ, sinh viên cần có những kỹ năng chuyên biệt để thiết lập mối quan hệ với người dân địa phương, đặc biệt là đối tượng trẻ em và đoàn thanh niên. Tổ chức các hoạt động thiếu nhi là một trong những kỹ năng quan trọng hướng đến và thông qua những đối tượng này để giới thiệu ngành học, mục đích một cách rõ ràng, dễ chấp nhận, góp phần đẩy mạnh tác phong “tam cùng”, phát hiện ra những tiềm năng về con người. Kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức thu nhận được trong các lĩnh vực, kết hợp với việc rèn luyện của người làm công tác thiếu nhi và của các em thiếu nhi để thực hiện một hoạt động nhằm đạt hiệu quả cao theo mục tiêu đã đề ra. Kỹ năng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm giúp các em thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giáo dục nhận thức và phát triển toàn diện. Đồng thời là phương tiện giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ, góp phần làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế giới khách quan. Người có kỹ năng này sẽ vừa tạo một môi trường gắn kết giữa sinh viên CTXH với người dân địa phương, vừa khơi dậy một môi trường năng động, không gian giải trí lành mạnh, bổ ích cho các em thiếu nhi tại cộng đồng. Cùng đó, trang bị cho các em thiếu nhi những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống, nâng cao khả năng tự nhận thức và cảm quan, biết sống yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ mọi người xung quanh. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các em được giao lưu, trải nghiệm và học hỏi kiến thức nhằm nâng cao tính chủ động, tự tin, tích cực tham gia các hoạt động của nhà trường và xã hội. Từ những thực tiễn khách quan trên, để thu hút được sự tham gia nhiệt tình của trẻ, thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp giữa sinh viên CTXH với các em thiếu nhi trong các hoạt đông, việc thực hiện kỹ năng này cần sự linh hoạt và chuyên nghiệp nhất định, cụ thể là phải dựa trên các nguyên tắc sau: Một là, đảm bảo định hướng chính trị - xã hội và mục tiêu giáo dục. Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật trẻ em, thiếu nhi là đối tượng được hưởng các quyền, trong đó có quyền được học tập, được giáo dục. Các em chưa hoàn thiện về mọi mặt như thể chất, sinh lý, tâm lý... Vì thế, các hoạt động giáo dục thường được chia nhỏ và ở mức độ đơn giản, đi từ dễ đến khó với các phương pháp linh hoạt phù hợp. Thông qua các hoạt động, nhân cách của thiếu nhi cũng được bộc lộ, từ đó ta có thể phát huy những điểm mạnh cũng như điều chỉnh những phản ứng chưa tích cực. Hoạt động giáo dục thiếu nhi là mục tiêu chung của gia đình, nhà trường, toàn xã hội, giúp các em có thể định hướng, hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng đến chân, thiện, mỹ theo chuẩn mực chung của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam. Hai là, đảm bảo sự tự nguyện tham gia, tôn trọng quyền của thiếu nhi và bình đẳng trong hoạt động. Tổ chức các hoạt động đối với thiếu nhi phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng, lắng nghe, không phán xét, không phân biệt đối xử giữa các em. Sinh viên CTXH không có quyền áp đặt, ép buộc các em phải tham gia những hoạt động mà các em không mong muốn; biến các em thành con người thụ động. Các em thiếu nhi được lựa chọn tự nguyện tham gia một cách thoải mái, được đối xử công bằng và có sự quan tâm như nhau. Ba là, đảm bảo đáp ứng nhu cầu với đặc điểm tâm lý lứa tuổi và khả năng của thiếu nhi. Thiếu nhi là lứa tuổi thích vui nhộn, thích được giao lưu bạn bè, khám phá cái mới. Vì vậy, tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi (về nội dung, hình thức, phương pháp) phải phù hợp với thể chất và năng lực của các em.Chú ý các đặc điểm cá nhân khi phân công nhiệm vụ, giáo dục (giới tính, cá tính, môi trường sống,...). Quan trọng hơn, người thiết kế hoạt động cần tránh thiết kế những hoạt động khó hiểu, quá sức với thể chất và trí tuệ của các thiếu nhi, gây nên sự nhàm chán và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Bốn là, đảm bảo tính hệ thống, liên tục trong hoạt động. Để thực hiện nguyên tắc này, sinh viên CTXH phải dựa trên nền tảng của nguyên tắc giáo dục: Giáo dục là quá trình liên tục, có tính khoa học, có hệ thống và có kế hoạch từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nhận thức của đối tượng giáo dục. Quá trình hoàn thiện nhân cách là một quá trình lâu dài, không thể thực hiện trong một thời gian nhất định, phải thực hiện một cách liên tục, lặp đi lặp lại và không được ngắt quãng. Năm là, đảm bảo an toàn trong hoạt động. An toàn cho các em thiếu nhi và những đối tượng có liên quan đến hoạt động là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Vì vậy, trước khi tổ chức một hoạt động nào đó, sinh viên CTXH cần xem xét kỹ các tình huống, rủi ro có thể xảy ra để chủ động trong việc thay đổi hoặc có biện pháp phòng, tránh hiệu quả nhất. Việc đảm bảo sự an toàn khi tổ chức hoạt động được thể hiện qua các mặt sau: + Về địa điểm: Không gian thoải mái, thoáng mát, tránh những khu vực nguy hiểm: Gần khu điện cao thế, gần cây xăng,... + Về thời gian: Lựa chọn khoảng thời gian phù hợp, tránh việc tổ chức khi trời mưa lớn, thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh, sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe và việc học tập của trẻ. + Về nội dung: Các nội dung tổ chức hoạt động không mang tính chất nhạy cảm, bạo lực, mất đoàn kết,... + Về hình thức: Chọn hình thức tổ chức hoạt động phải phù hợp về: Độ tuổi, trình độ, khả năng của đối tượng; hình thức tổ chức đa dạng, phong phú, hấp dẫn, tránh thực hiện một hình thức với nhiều hoạt động. Khi xây dựng các phương thức thực hiện kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi, sinh viên cần lưu ý đến các phương pháp: Thiết kế các hoạt động thiếu nhi, trò chơi thiếu nhi, trại thiếu nhi, hội thi thiếu nhi, múa hát thiếu nhi,...với những ý nghĩa, quy trình tổ chức thích hợp, vừa đảm bảo về nội dung, mục đích, vừa phục vụ cho công tác phát triển cộng đồng: Đáp ứng nhu cầu, nâng cao nhận thức qua tập huấn, tuyên truyền, vận động, tạo lập mối quan hệ bền vững giữa cộng động và cộng tác viên cộng đồng. Ví dụ, với kỹ năng tổ chức hoạt động thiếu nhi được rèn luyện trong quá trình giảng dạy, đoàn sinh viên thực tập Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam vào tháng 6 năm 2018 đã chứng minh tính ứng dụng cao của kỹ năng này trong thực tập phát triển cộng đồng. Không chỉ tự tổ chức các buổi sinh hoạt hè với các trò chơi, múa, hát... sôi động, đảm bảo sự tham gia của trẻ, có được sự đón nhận, yêu mến của người dân địa phương mà các sinh viên còn khai thác được một trong những nhu cầu, vấn đề của khu vực trong sự thiếu hụt về công tác đoàn, đội. Từ đó, xây dựng kế hoạch can thiệp, trợ giúp cộng đồng qua các buổi tập huấn, tuyên truyền cho các đoàn viên, cán bộ đoàn trẻ về kiến thức, kỹ năng cần thiết, những phương thức tổ chức hoạt động thiếu nhi ở địa phương. Để sinh viên ngành CTXH trở thành một nhân viên công tác xã hội giỏi về nghiệp vụ, chuyên về kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi, chúng tôi xin đưa ra một số biện pháp như sau: Đối với những trường đào tạo ngành CTXH cần lồng ghép, kết hợp kiến thức về kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi vào các môn học và các giờ thực hành ngoài giờ. Bên cạnh đó, việc thực hiện xây dựng và đưa kiến thức về kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi thành môn học chính thức cũng là cách để trang bị kỹ năng cho sinh viên. Ngoài ra, các nơi đào tạo có thể tổ chức các buổi tập huấn, gặp mặt các chuyên gia hoặc những cá nhân có kinh nghiệm tổ chức các hoạt động thiếu nhi để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động, giúp giải đáp thắc mắc và tạo điều kiện thực hành kỹ năng một cách cụ thể hơn. Còn về phía sinh viên hay các cá nhân theo chuyên ngành CTXH, để trang bị đầy đủ kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi thì cũng cần phải chủ động tham gia vào các hoạt động ngoại khoá do trường, cơ quan tổ chức. Cùng đó, tích cực trau dồi kiến thức và thực hành kỹ năng cho bản thân. Không những vậy, mỗi cá nhân cũng nên tham gia vào các công trình nghiên cứu khoa học về những vấn đề có liên quan đến kỹ năng tổ chức hoạt động cho thiếu nhi: Đánh giá nhu cầu của thiếu nhi, mức độ hiểu biết về kỹ năng... Từ đó, ta có thể lên kế hoạch, lựa chọn những hoạt động cho thiếu nhi sao cho phù hợp nhất và đảm bảo các nguyên tắc khi tổ chức. Để trang bị những kỹ năng này, việc sinh viên tham gia vào các câu lạc bộ cũng là cách để họ học hỏi thêm nhiều kỹ năng tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi và đây cũng là nơi để họ được thể hiện bản thân, rèn luyện kỹ năng một cách tốt nhất. Tổ chức các hoạt động thiếu nhi không còn xa lạ với công tác đoàn, đội nhưng lại là một kỹ năng vô cùng cần thiết trong phát triển cộng đồng của ngành công tác xã hội tại Việt Nam. Đây là một kỹ năng giúp sinh viên hay nhân viên công tác xã hội có được sự tự tin trên tinh thần chủ động, sáng tạo, thể hiện sức trẻ trong học tập và công việc của mình. Chúng tôi tin rằng sự có mặt của kỹ năng này trong hành trang phát triển cộng đồng, cùng chuyên môn nghiệp vụ, ngành công tác xã hội ở Việt Nam sẽ ngày một phổ biến hơn, tạo bức đệm vững chắc cho một đất nước phát triển toàn diện. Lâm Ngọc Ánh - Nguyễn Quang Duy - Trần Thị Thùy Linh (1) - Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ, Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020

Tôn vinh tấm gương Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – nhà lãnh đạo tài năng, đức độ

TĐKT - Tạp chí Thi đua Khen thưởng sẽ phối hợp với Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ thức Hội thảo khoa học “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo tài năng, đức độ” vào sáng 14/12, tại Hà Nội. Hội thảo là hoạt động thiết thực kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2018) và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2018), hướng tới kỷ niệm 105 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914 – 1/1/2019). Hội thảo tiếp tục khẳng định và làm rõ những đóng góp to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, sự nghiệp xây dựng Quân đội. PGS.TS. Hà Đức Trụ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Trưởng Ban Tổ chức Hội thảo cho biết: “Hội thảo là diễn đàn khoa học để các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu trao đổi, thảo luận, tiếp tục khẳng định và làm rõ những đóng góp to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, sự nghiệp xây dựng Quân đội. Tôn vinh tấm gương của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - một người cộng sản kiên cường, tuyệt đối trung thành, tận tụy với Đảng, với nước, với nhân dân; người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; một nhà lãnh đạo tài năng, có uy tín của Đảng và cách mạng Việt Nam; nhà chiến lược chính trị, quân sự song toàn; vị chỉ huy xuất sắc của quân đội; người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên - Huế. Với những quan điểm khách quan, khoa học, với tư duy và cách nhìn nhận mới, Hội thảo sẽ góp phần tuyên truyền, cổ vũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ sống, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và những học trò xuất sắc của Người, trong đó, có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một nhà lãnh đạo tài năng, đức độ. Nội dung Hội thảo gồm 2 phần: Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh; những giá trị tinh thần và bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.     Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh sinh ngày 1/1/1914 tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông là một trong số những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương trọn đời hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất; đã hy sinh, phấn đấu trọn đời cho lý tưởng của Đảng; một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đại tướng đã tỏ rõ phẩm chất của một vị tướng tài, thao lược của Quân đội nhân dân Việt Nam, một nhà lãnh đạo gương mẫu, giàu nghị lực và bản lĩnh; một tấm gương sáng ngời của người cộng sản; trung thực, thẳng thắn, chan hòa với đồng bào, đồng chí, đồng đội. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, từ buổi ban đầu cho đến khi giữ những cương vị lãnh đạo cao trong Đảng và quân đội, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn gương mẫu đi đầu, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước. Đồng chí thường nói: "Cán bộ thế nào thì phong trào thế ấy", cán bộ phải lăn lộn, gắn bó với phong trào và chính đồng chí là điển hình của một cán bộ như thế. “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, “Cờ Ba nhất” trong quân đội - Hai phong trào thi đua lớn, nổi bật của đất nước những năm 1960 in đậm dấu ấn của nhà tổ chức thi đua tài năng - Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Quá trình tổ chức và lãnh đạo các phong trào thi đua theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã để lại những kinh nghiệm quý cho những người làm công tác thi đua, khen thưởng học tập, noi theo. Phương Thanh

Quy định một số nội dung về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

TĐKT - UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 35/2018/QĐ-UBND ban hành Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quy chế quy định những nội dung chung về công tác thi đua, khen thưởng; tổ chức thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua; hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng; thẩm quyền quyết định, tuyến trình, trao tặng, hồ sơ thủ tục, thời gian xét danh hiệu thi đua và khen thưởng; Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, Hội đồng Đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến. Quy chế nêu rõ, các tập thể, cá nhân khi tham gia phong trào thi đua phải thực hiện đăng ký thi đua. Hằng năm, các Khối Thi đua, các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức đăng ký thi đua hoặc ký kết giao ước thi đua trong khối, trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Nội dung đăng ký thi đua bao gồm các chỉ tiêu thi đua và đăng ký các danh hiệu thi đua thuộc thẩm quyền quyết định của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương; Ủy ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. UBND tỉnh yêu cầu, khi xét, công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng phải phù hợp với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân và thành tích đạt được, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn làm tiêu chí chính khen thưởng. Phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ, điều kiện và tỷ lệ, báo cáo thành tích phải thực hiện theo mẫu đã quy định và bám sát tiêu chuẩn khen thưởng. Khi xét công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương phải xem xét đến thành tích của tập thể do người đó phụ trách. Trong cùng 1 năm, đối với các cá nhân là lãnh đạo đơn vị tham gia các Ban Chỉ đạo, Hội đồng cấp tỉnh, được tặng không quá 2 Bằng khen thành tích trong thực hiện chuyên đề do các Ban Chỉ đạo, Hội đồng phụ trách (tính theo thời gian ban hành Quyết định khen thưởng). Ngoài ra, UBND tỉnh quy định rất rõ các trường hợp không xét, công nhận danh hiệu thi đua và khen thưởng. Theo đó, tập thể, cá nhân và người đứng đầu cơ quan, đơn vị của chủ đầu tư, ban quản lý dự án vi phạm việc báo cáo quyết toán dự án hoàn thành theo quy định của cơ quan chức năng; tập thể, người đứng đầu và cá nhân là người được giao trách nhiệm phụ trách công nghệ thông tin khi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đơn vị, địa phương bị cơ quan chuyên môn đánh giá xếp loại từ mức trung bình trở xuống; người đứng đầu và cá nhân là người được giao trách nhiệm phụ trách công tác cải cách hành chính của đơn vị, địa phương khi kết quả xếp hạng Chỉ số Cải cách hành chính bị đánh giá thực hiện từ mức trung bình trở xuống; đơn vị, địa phương có kết quả đánh giá thực hiện Chỉ số Cải cách hành chính kém. Ngoài ra, tập thể và người đứng đầu đơn vị thực hiện việc triển khai, vận hành và sử dụng hệ thống phần mềm thông tin kinh tế - xã hội bị cơ quan chuyên môn đánh giá từ mức trung bình trở xuống; tập thể và người đứng đầu đơn vị có kết quả đánh giá công tác dân vận chính quyền từ mức hoàn thành trở xuống; đơn vị, địa phương và người đứng đầu không hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách, trừ trường hợp ngoại lệ có lý do khách quan hoặc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định; tập thể, người đứng đầu và cá nhân là người được giao trách nhiệm phụ trách việc công khai ngân sách trên Cổng Thông tin điện tử khi có văn bản nhắc nhở của Sở Tài chính cũng không được xét, công nhận danh hiệu thi đua và khen thưởng. Để thực hiện nghiêm các chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh quy định, trong năm, cùng một nội dung công tác mà để UBND tỉnh có văn bản nhắc nhở đến lần thứ 3 thì không xét thi đua, khen thưởng cho tập thể và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương. Bên cạnh đó, Quy chế cũng quy định cụ thể việc lấy ý kiến nhân dân khi đề nghị công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cấp Nhà nước; phương pháp, trách nhiệm tổ chức phong trào thi đua; đối tượng được xét, công nhận Danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, tỷ lệ công nhận danh hiệu và khen thưởng, về tổ chức trao tặng các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2018 và thay thế Quyết định số 19/2015/QĐ-UBND ngày 10/4/2015 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quy chếvề công tác thi đua, khen thưởng tỉnh Tây Ninh. Thái Thành

Tự chủ trong giáo dục đại học – những vấn đề đặt ra

TĐKT -  “Tự chủ trong giáo dục đại học - những vấn đề đặt ra” là nội dung được bàn luận sôi nổi tại Diễn đàn khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam vừa tổ chức. Tại đây, các chuyên gia giáo dục - đào tạo đã nêu lên nhiều vướng mắc trong tự chủ đại học và các giải pháp tháo gỡ. Quang cảnh diễn đàn Nội dung Diễn đàn tập trung vào các vấn đề thành lập hội đồng trường; trách nhiệm giải trình của các nhà trường; sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học; kinh nghiệm quốc tế trong thể chế hóa tự chủ đại học. Nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng: Làm rõ khái niệm tự chủ, cân nhắc bổ sung khái niệm tự chủ học thuật; làm rõ khái niệm giải trình, nội dung và phương thức giải trình với các trường; bổ sung chính sách khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học thực hiện tốt quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình; làm rõ cơ chế phối hợp giữa hội đồng trường, đảng ủy, ban giám hiệu; cân nhắc các quy định về tiêu chuẩn chủ tịch hội đồng trường và hiệu trưởng. Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Phú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam, tại Việt Nam, những vấn đề tự chủ đại học đã được đề cập đến từ những năm đầu của thế kỷ XXI nhưng không đi đến kết quả. Sau 5 năm nước ta thực hiện tự chủ đại học, đến nay mới chỉ có 14/500 đại học trên toàn quốc tự nguyện tham gia. Như vậy, tự chủ đại học tại nước ta vẫn chậm xác lập. Lý giải về điều này, GS Nguyễn Ngọc Phú chỉ rõ: “Ngay từ khi có luật, nhiều vấn đề liên quan đến sự ăn khớp, nhất quán mối liên hệ giữa Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (GDĐH) và nhiều văn bản pháp lý khác đã được đặt ra. Riêng với Luật GDĐH, cho đến nay đã gần 5 năm luật chính thức thi hành, nhưng Luật có nhiều điểm chưa phù hợp, không theo kịp với tình hình. Bên cạnh đó, có luật rồi nhưng nhiều trường đại học vẫn không chịu thực hiện theo. Ban Tổ chức cho biết, ý kiến của các chuyên gia được ghi nhận để gửi tới các nhà quản lý và giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong tiến trình sửa đổi Luật Giáo dục đại học. Hồng Thiết

Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng tại các bộ, ngành, đoàn thể trung ương

TĐKT - Ngày 11/9, tại Hà Nội, Ban Thi đua - Khen thưởng (TĐKT) Trung ương tổ chức Hội nghị Nâng cao chất lượng công tác TĐKT khối bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương và tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước. Chủ trì Hội nghị có: Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban TĐKT Trung ương Trần Thị Hà; Phó Trưởng Ban TĐKT Trung ương Phạm Huy Giang; Vụ trưởng Vụ II Ban TĐKT Trung ương Nguyễn Khắc Hà. Chủ tọa Hội nghị Cùng dự Hội nghị có các đại biểu là lãnh đạo, chuyên viên các vụ, đơn vị trực thuộc Ban TĐKT Trung ương; cán bộ làm công tác TĐKT của các bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương và các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước. Báo cáo tại Hội nghị, Vụ trưởng Vụ II Ban TĐKT Trung ương Nguyễn Khắc Hà cho biết: Năm 2017 và những tháng đầu năm 2018, công tác TĐKT khối các bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương đã có nhiều chuyển biến tích cực và thu được kết quả đáng khích lệ. Công tác tổ chức phong trào thi đua bài bản, khoa học, có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức. Phong trào thi đua đã bám sát nhiệm vụ chính trị, phát triển đều khắp trên các lĩnh vực, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác khen thưởng cơ bản được thực hiện đúng quy định, kịp thời phục vụ các nhiệm vụ chính trị của đất nước, chất lượng khen thưởng được nâng lên. Vụ trưởng Vụ II Ban TĐKT Trung ương Nguyễn Khắc Hà báo cáo tại Hội nghị Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác TĐKT trong khối còn một số tồn tại, hạn chế. Lãnh đạo Hội đồng TĐKT một số cơ quan, đơn vị còn chưa thực sự quan tâm sâu sát trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đầy đủ, toàn diện theo tư tưởng của Bác về thi đua: "Công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua"; chưa vận dụng công cụ thi đua vào công tác lãnh đạo, quản lý, dẫn đến công tác thi đua còn hạn chế, yếu kém, không có tính thuyết phục trong thực tiễn tổ chức triển khai thực hiện, thiếu sức lan tỏa, không động viên mọi người tích cực tham gia phong trào thi đua, từ đó dẫn đến công tác thi đua bị coi nhẹ so với khen thưởng. Chỉ đạo phong trào thi đua còn mang tính hình thức vì không có kế hoạch, chỉ đạo, chỉ tiêu, biện pháp cụ thể, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đối với công tác TĐKT chưa cao, nhất là trong phát động các phong trào thi đua theo chuyên đề. Công tác bình xét, suy tôn và công nhận danh hiệu thi đua ở một số bộ, ngành chưa chặt chẽ. Công tác phát hiện, bồi dưỡng, tuyên truyền, giới thiệu, nhân điển hình chưa đáp ứng được yêu cầu. Cơ quan chuyên trách thi đua, khen thưởng của một số bộ, ngành chưa chủ động tham mưu cơ chế phối hợp để tuyên truyền các phong trào thi đua và gương điển hình tiên tiến. Tổ chức bộ máy làm công tác TĐKT chưa được quan tâm đúng mức về số lượng, chất lượng để triển khai đầy đủ các nội dung yêu cầu theo quy định của công tác thi đua. Vì vậy, công chức mới chỉ dành phần lớn thời gian tập trung cho công tác khen thưởng. Đây là nguyên nhân chính tác động đến việc không thể làm tốt công tác thi đua, dẫn đến phong trào thi đua còn mang tính hình thức, hành chính hóa, mất động lực của phong trào thi đua. Hệ quả là sự nêu gương của một số tập thể, cá nhân được khen thưởng chưa thuyết phục. Tại Hội nghị, các đại biểu đã cùng thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm, vướng mắc, khó khăn trong triển khai trong thực hiện công tác TĐKT tại bộ, ngành mình. Theo đó, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 91/2017/NĐ - CP của Chính phủ và Thông tư số 08/2017/TT – BNV, các bộ, ngành vẫn còn gặp một số vướng mắc, khó thực hiện thống nhất và cần tháo gỡ: Tuyến trình khen đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa với vốn điều lệ của Nhà nước dưới 50%; vấn đề hiệp y; kiểm toán; thời gian của báo cáo thành tích; khen tập thể nhỏ; quy định về sáng kiến, giải pháp để xét tặng Huân chương... Các đại biểu đưa ra một số đề xuất: Cần thống nhất về tổ chức bộ máy làm công tác TĐKT; điều chỉnh lại một số quy định của Nghị định cho phù hợp với đặc thù công tác của lực lượng vũ trang... Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban TĐKT Trung ương Trần Thị Hà phát biểu kết luận Hội nghị Kết luận Hội nghị, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban TĐKT Trung ương Trần Thị Hà nhấn mạnh 5 nhiệm vụ công tác TĐKT các đơn vị trong khối cần tập trung trong thời gian tới: Một là, tiếp tục nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật về TĐKT, từ đó ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của bộ, ngành, đoàn thể mình cho phù hợp với các quy định của pháp luật. Hai là, tiếp tục chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước. Đặc biệt là 3 phong trào thi đua trọng tâm do Thủ tướng Chính phủ phát động: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai  bị bỏ lại phía sau” và chủ đề thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ 9: “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Nên có những việc làm thiết thực trong triển khai thực hiện các phong trào thi đua, tập trung vào một vài đơn vị cấp xã, cấp huyện. Các phong trào thi đua được phát động phải bám sát vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị. Phối hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn để tổ chức các phong trào thi đua thiết thực. Ba là, kiện toàn thường xuyên, phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng thành viên hội đồng TĐKT cấp bộ, ngành mình, đề cao vai trò của Hội đồng trong kiểm tra, giám sát các phong trào thi đua, sơ tổng kết, khen thưởng kịp thời... Chuẩn bị tốt các nội dung họp của Hội đồng. Phân chia cụm, khối thi đua của bộ, ngành mình cho phù hợp. Nghiên cứu thẩm quyền khen thưởng của từng bộ. Bốn là, quan tâm tới công tác tuyên truyền. Thường xuyên cung cấp, giới thiệu các điển hình tiên tiến để tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông của bộ, ngành mình để giới thiệu, nhân rộng các điển hình tiêu biểu. Năm là, tham mưu cho Chủ tịch Hội đồng TĐKT cấp bộ, ngành mình tiến hành tổng kết năm, khen thưởng kịp thời, phát động thi đua cho năm mới. Phương Thanh

Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

TĐKT - Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một chỉnh thể các thể chế pháp lý và các thiết chế của nhà nước có liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng vận hành nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những hành vi vi phạm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước đã được hiến định và bổ sung thêm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, Khoản 3 Điều 2 Hiếp pháp 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Qua đó đã tạo nền tảng pháp lý cho cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước dựa trên việc phân công mạch lạc nhiệm vụ, quyền hạn của các quyền để tạo cơ sở cho cơ chế kiểm soát quyền lực. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp chưa được chế định rõ. Trên thực tế, tổ chức bộ máy nhà nước và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy pháp quyền xã hội chủ nghĩa, như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả. Một số hạn chế trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta Một là, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội chưa mạnh, hiệu quả chưa cao; cơ chế bảo vệ Hiến pháp chưa cụ thể. Chủ thể và đối tượng giám sát của Quốc hội nhận thức chưa đúng và đầy đủ về vai trò giám sát của Quốc hội. Phạm vi giám sát tối cao của Quốc hội được quy định chưa hợp lý. Việc giao cho Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội giám sát hoạt động tư pháp và việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là quá rộng, chưa phù hợp bởi đối tượng trực tiếp chịu sự giám sát của Quốc hội là những người giữ chức vụ cao trong Đảng và Nhà nước. Họ là những người vừa quyết định thân phận chính trị của bản thân đại biểu Quốc hội, vừa quyết định lợi ích kinh tế, tài chính của các địa phương nơi đại biểu tổ chức thành đoàn. Đặc điểm đó khó có thể bảo đảm cho đại biểu Quốc hội thực hành quyền giám sát của mình(1). Cơ chế bảo vệ Hiến pháp chưa cụ thể: Khoản 2 Điều 19 Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Theo đó, hệ thống pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể cơ chế bảo vệ Hiến pháp, mà quy định thành các quy phạm chứa đựng trong các ngành luật cụ thể. Mặt khác, khác với các nước theo hệ thống pháp luật Common Law như Mỹ có cơ quan tài phán Hiến pháp, Việt Nam không thành lập và trao quyền cho một cơ quan tài pháp cụ thể, độc lập. Hai là, hoạt động thanh tra, kiểm tra của hệ thống hành pháp còn nhiều hạn chế Trong hệ thống hành pháp, chức năng kiểm tra, giám sát chung của những người đứng đầu như Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng… chưa được thực hiện thường xuyên trên thực tế, dù trên thực tế nhiều văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật có nội dung trái với Hiến pháp và pháp luật. Hệ thống thanh tra nhà nước: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện; thanh tra các bộ, sở là cơ quan có chức năng thanh tra hoạt động thường xuyên, liên tục. Tuy nhiên, bất cập chủ yếu trong tổ chức và hoạt động của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện là tính phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp, trong khi đó bảo đảm tính độc lập về tổ chức và tính chuyên nghiệp trong hoạt động là hai yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình thực hiện chức năng thanh tra. Ba là, hoạt động kiểm soát quyền lực của tư pháp còn yếu Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân có chức năng là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Như vậy, chức năng thực hiện quyền tư pháp là thuộc Tòa án nhân dân, thông qua quyền hạn, nhiệm vụ thì cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện chủ yếu bằng chức năng xét xử, giải thích pháp luật. Các chế tài kiểm soát quyền lực nhà nước của tư pháp với hành pháp chưa đủ mạnh. Do nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước là quyền tư pháp không thể lấn sân sang quyền hành pháp, các quan tòa không thể can thiệp sâu vào hoạt động của cơ quan hành chính. Vì vậy, trong vụ khiếu kiện hành chính, quyền của Tòa án chỉ dừng lại ở mức độ phán xét tính hợp pháp của một quyết định hành chính, hành vi hành chính mà không thể chỉ định một phương thức xử sự cụ thể cho cơ quan hành chính. Khi các quyết định hành chính sai trái bị hủy bỏ, quyền hay lợi ích của người khởi kiện có được khôi phục hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan hành chính. Hơn nữa, cơ quan thi hành án lại khó có thể độc lập với cơ quan hành chính - đối tượng thi hành án. Vì vậy, các phán quyết của Tòa án chưa được thực thi nghiêm túc. Cơ chế kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hành pháp còn mang tính thụ động: Kiểm tra của Tòa hành chính đối với quyền lực hành pháp chỉ là kiểm tra khi có tranh chấp hành chính, trong lĩnh vực quản lý hành chính giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan, công chức nhà nước khi có khiếu kiện của người dân. Vì vậy, sự kiểm soát quyền lực nhà nước này còn mang tính thụ động, nếu không có khiếu kiện của công dân, tổ chức thì không thể hình thành hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của hành pháp. Hiện nay, tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ nên chưa đảm bảo tính độc lập cao trong hoạt động xét xử, phán quyết của Tòa án hành chính đối với các cơ quan hành chính. Điều đó sẽ ảnh hướng đến sự công tâm, công bằng, khách quan trong phán quyết của Tòa đối với các quyết định, hành vi hành chính của các cán bộ, công chức cùng cấp. Người bị kiện thường là người có chức vụ quyền hạn ở địa phương nơi thẩm phán công tác và là những người có thể có ý kiến đối với việc bổ nhiệm thẩm phán, nên còn xuất hiện tư tưởng ngại va chạm trong đội ngũ thẩm phán hành chính, dẫn tới đánh giá chứng cứ còn phiến diện, áp dụng pháp luật chưa chặt chẽ. Vì vậy, chúng ta thấy thực tế Tòa án nhân dân tối cao hoặc các thẩm phán có xu hướng giải thích thu hẹp quyền hạn của mình khi xử hành chính. Điều này cũng làm hạn chế khả năng kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hành pháp. Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp 2013 thì chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát hoạt động tư pháp, phạm vi kiểm sát hẹp hơn nhiều so với Hiến pháp năm 1992. Theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chức năng như sau: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước Xét về nguồn gốc, quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, nhưng nhân dân không thể trực tiếp thực thi toàn bộ quyền lực của mình mà phải trao cho một cơ quan đại diện đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội thành lập và một phần quyền cho các cơ quan nhà nước khác.  Do vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất, quyền lực mà cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp có được là quyền phái sinh. Để có thể thực hiện quyền lực nhà nước một cách khoa học, không lạm quyền thì cần có sự có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có trước khi Hiến pháp 2013 ra đời, tuy nhiên chỉ khi Hiến pháp 2013 được xây dựng, ban hành và có hiệu lực thì cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước mới trở thành một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được hiến định, thời gian tới để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cần: Thứ nhất, đối với cơ quan quyền lực nhà nước Đối với Quốc hội: Hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội theo hướng bổ sung, quy định rõ và tổ chức tốt việc thực hiện các hình thức giám sát của Quốc hội: Quốc hội giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát tối cao hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao…chất vấn; giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát thông qua việc thành lập các đoàn giám sát tại địa phương; giám sát giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân; xem xét báo cáo; thành lập Ủy ban lâm thời; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu. Giải pháp hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội theo các hướng sau: - Xử lý nghiêm minh theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý kết quả giám sát nếu phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm. - Nâng cao chất lượng Đại biểu Quốc hội: Bên cạnh việc bảo đảm cơ cấu để bảo đảm tính đại diện của Quốc hội thì cần tăng cường đại biểu có trình độ chuyên môn, tăng cường đại biểu chuyên trách. Phát huy vai trò của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử của Quốc hội thông qua việc thực hiện công tác trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đại biểu dân cử. - Tăng cường năng lực tham mưu tư vấn của các cơ quan tham mưu, cá nhân, chuyên gia trong các cơ quan nhà nước và xã hội để tạo cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn trong hoạt động giám sát của Quốc hội. Cần tăng cường năng lực cho đội ngũ tham mưu giúp việc nhất là việc có văn phòng giúp việc riêng cho đại biểu Quốc hội cần được xem xét. Cần đầu tư, tăng cường đội ngũ chuyên gia, bộ máy giúp việc, chú trọng nâng cao trình độ của đội ngũ chuyên viên trong Văn phòng Quốc hội, của các đoàn đại biểu Quốc hội; sử dụng, ý kiến chuyên gia ở các cơ quan, tổ chức nghiên cứu độc lập. Đối với Hội đồng nhân dân các cấp: Tăng cường và chú trọng chất lượng giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp. Đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương. Thứ hai, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền hành pháp - Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kiểm soát hành pháp Trong thể chế chính trị nhất nguyên ở Việt Nam, có thể khẳng định rằng, thiếu sự lãnh đạo của Đảng thì các cơ quan nhà nước, nhất là cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật thì sẽ thiếu sự nhất quán, có những hạn chế; vai trò của Đảng thể hiện rất rõ trong việc phát hiện, xử lý những vi phạm pháp luật trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, liên quan đến kiếm soát quyền lực hành pháp, vấn đề đặt ra trong suốt những năm qua, là làm thế nào để Đảng lãnh đạo khoa học, hợp lý công việc của Nhà nước. Can thiệp sâu, hay buông lỏng, khoán trắng thì việc kiểm soát quyền lực nhà nước sẽ không hiệu quả cũng như không đúng với vị trí vai trò của Đảng. Do vậy, cần thiết phải đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát; quan trọng hơn cả đó là cần có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cơ quan hành pháp vừa có đức và tài. - Nâng cao nhận thức và năng lực của cán bộ, công chức hành chính và tăng cường tự kiểm tra trong hệ thống cơ quan hành chính. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, có thể nói, chưa bao giờ đội ngũ cán bộ, công chức đang có  nhiều vấn đề như hiện nay liên quan đến trách nhiệm công vụ, đạo đức, tham nhũng,…Do vậy, cần xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức hành pháp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có ý thức tổ chức kỷ luật, không vi phạm các quy định của pháp luật. - Phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong cơ chế kiểm soát nhà nước và kiểm soát xã hội trong việc thực hiện quyền hành pháp. Phối hợp giữa các cơ chế giám sát, kiểm tra nhà nước và xã hội là một trong những tổ chức giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các vụ việc cụ thể cũng như trong việc giám sát, kiểm tra thể hiện trong việc phát hiện và xử lý các vi phạm. - Xử lý nghiêm, tương xứng đối với các sai phạm trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trên thực tế, đây là vấn đề lớn của Việt Nam; nhiều vụ việc bị phát hiện, có kết luận của các cơ quan chức năng, tuy nhiên vì những lý do khác nhau mà không xử lý nghiêm túc, chưa đúng với tính chất và mức độ vi phạm, gây bức xúc trong dư luận. Để giải quyết vấn đề này, cần thiết tiến hành việc theo dõi, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền và của nhân dân, công khai kết quả quả xử lý vi phạm. Thứ ba, đối với cơ quan tư pháp - Tăng cường tính chủ động trong kiểm soát quyền lực nhà nước của tư pháp với hành pháp. Trong một vụ việc liên quan đến cơ quan hành chính, nếu nhận thấy văn bản mà cơ quan hành chính dự định áp dụng đối với trường hợp của mình có dấu hiệu bất hợp hiến, hợp pháp thì có quyền yêu cầu dừng việc áp dụng văn bản đó và yêu cầu Tòa hành chính kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của nó. Ngoài ra, để đảm bảo cho người dân dễ dàng tiếp cận với Tòa án hành chính thì giai đoạn tiền tố tụng không nên bắt buộc đối với tất cả các vụ kiện. - Mở rộng phạm vi kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hành pháp. - Đảm bảo tính độc lập của Tòa án hành chính với các cơ quan hành pháp. - Nâng cao năng lực kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hành pháp. Vấn đề bản chất cốt lõi của kiểm soát quyền lực nhà nước là làm các cơ quan nhà nước vừa có khả năng quản lý được xã hội và kiểm soát được chính mình. Theo đó, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước phải là một tổng thể bao gồm: cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài do các chủ thể không phải là Nhà nước thực hiện, mà quan trọng nhất là vai trò kiểm tra, giám sát của Nhân dân; cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp kiểm soát lẫn nhau; cần thiết xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước một cách độc lập do Hiến pháp và luật quy định. Nguyễn Quỳnh Nga ________________ (1) Trần Ngọc Đường: Tiếp tục đổi mới Quốc hội theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa , Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.

Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức liên hiệp sơ kết thi đua

TĐKT – Sáng 23/8, Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức liên hiệp đã tổ chức Hội nghị sơ kết thi đua 6 tháng đầu năm 2018. Tới dự, có các đồng chí: Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương. Trong 6 tháng đầu năm 2018, hoạt động thi đua - khen thưởng của các thành viên trong Khối tiếp tục có sự đổi mới, phong trào thi đua được các tổ chức thành viên triển khai sôi nổi và đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức phong trào thi đua được quan tâm hơn, đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; các phong trào thi đua, các cuộc vận động được phát động với hình thức đa dạng, phong phú; có chủ đề, mục tiêu, chỉ tiêu rõ ràng, cụ thể, đã từng bước phát triển cả bề rộng và chiều sâu, tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi tổ chức thành viên, trong đó có nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức Liên hiệp hội. Công tác khen thưởng được các thành viên trong Khối thực hiện có nền nếp, bảo đảm chính xác, kịp thời, công bằng, công khai, dân chủ. Hồ sơ, thủ tục, quy trình khen thưởng được thực hiện đúng quy định. Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, nhân rộng điển hình tiên tiến được chú trọng thực hiện. Đồng chí Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương phát biểu tại Hội nghị Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương đánh giá cao các hoạt động của Khối trong 6 tháng đầu năm, đã mang tính tập trung và đồng bộ hơn, đặc biệt trong công tác thông tin, tuyên truyền. Các phong trào thi đua của Khối ngày càng đi vào thực chất, đa dạng và thiết thực. Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, toàn Khối đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, có ý nghĩa, ảnh hưởng sâu rộng tới toàn xã hội. Tuy nhiên, đồng chí Trần Thị Hà cũng chỉ ra rằng, hoạt động thi đua, khen thưởng của Khối còn dàn trải, nên tập trung vào một đầu mối để đảm bảo tính hiệu quả, thiết thực hơn. Đồng chí mong muốn các thành viên trong Khối cần rà soát lại các phong trào của mình, duy trì thường xuyên hơn các kênh thông tin, tuyên truyền cho các mô hình mới, cách làm hay. Chú trọng đến hoạt động chung của Khối, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong Khối… Đại diện các đơn vị xuất sắc nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Phát biểu tại Hội nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn cũng đánh giá cao các hoạt động của Khối thi đua trong thời gian qua. “Các tổ chức trong Khối đã luôn sát cánh cùng Mặt trận trong triển khai các Chương trình phối hợp thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam, các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, ủng hộ vì người nghèo, công tác cứu trợ, phối hợp thực hiện nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội từ Trung ương đến cơ sở”. Trong những tháng cuối năm 2018, đồng chí Trần Thanh Mẫn đề nghị Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp cần tiếp tục đổi mới để hoạt động phối hợp theo hướng nền nếp, khoa học, tránh hình thức, có trọng tâm, trọng điểm. Cần quan tâm đến việc nắm chắc tình hình nhân dân, tình hình của đoàn viên, hội viên để chủ động kiến nghị, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quốc hội; triển khai có hiệu quả Nghị quyết của Đảng đối với Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội và Liên hiệp Hội; triển khai các nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra của Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XI, Đại hội Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lần thứ XII; đồng thời, tổ chức thành công Đại hội lần thứ XII Công đoàn Việt Nam; Đại hội lần thứ VII Hội Nông dân Việt Nam. Năm 2018 là năm chuẩn bị Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ IX. Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Trần Thanh Mẫn lưu ý, các tổ chức trong Khối cần tiếp tục hưởng ứng thực hiện Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2018 - 2020; phối hợp triển khai các chương trình giám sát cấp Trung ương và hoạt động phản biện xã hội theo Quyết định số 217, 218 của Bộ Chính trị; phối hợp trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII của Đảng về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Trần Thanh Mẫn tin tưởng rằng, trong những tháng cuối năm 2018, Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp sẽ có nhiều sáng tạo, sáng kiến, phối hợp thực hiện hiệu quả, đạt được những kết quả thiết thực hơn nữa. “Mỗi thành viên trong Khối cần quyết đoán, quyết tâm, quyết liệt, quyết làm, phối hợp hiệu quả, có nhiều sáng kiến, để hoàn thành mục tiêu đề ra”, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh. Nhân dịp này, 1 Cờ thi đua của Chính phủ và 6 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ đã được trao cho các đơn vị các thành tích xuất sắc trong hoạt động thi đua, khen thưởng. Mai Thảo

Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Đẩy mạnh thi đua nhằm đúng hướng chính

TĐKT - Trong cuộc đời mình, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn là một tấm gương mẫu mực về tinh thần yêu nước, đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Không chỉ là người tiên phong, lãnh đạo phong trào yêu nước của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng chí còn là người có nhiều đóng góp làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến, kiến quốc. Những tư tưởng, quan điểm của đồng chí về thi đua yêu nước vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày hôm nay. Chủ tịch Tôn Đức Thắng với các đại biểu tham dự Đại hội Ba sẵn sàng toàn miền Bắc (ảnh tư liệu) Người khởi xướng phong trào công nhân Việt Nam Đồng chí Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888 trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang. Từ những năm đầu thế kỷ XX, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, và đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong. Đồng chí là một trong những người công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Ngay khi còn là học sinh của Trường Bách nghệ Sài Gòn, cùng với việc học giỏi nhất trường, Tôn Đức Thắng còn là "người chỉ huy" nhiều cuộc bãi khóa để phản đối sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với phong trào nông dân ở nhiều nơi. Năm 1916, Tôn Đức Thắng làm việc trên chiến hạm France. Tại đây, Tôn Đức Thắng đã tham gia vào sự kiện kéo cờ đỏ trên chiến hạm France ở Biển Đen vào ngày 20/4/1919 và sau đó bị trục xuất khỏi nước Pháp. Năm 1920, trở về Sài Gòn, Tôn Đức Thắng tích cực tham gia hoạt động nghiệp đoàn và phong trào của giai cấp công nhân, thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật ở Sài Gòn - hình thức tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Từ khi thành lập, Công hội đã liên tục lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn, mà điển hình là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/1925). Trong những năm 1926 - 1927, Công hội Sài Gòn là cơ sở vững chắc cho sự hình thành và phát triển tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, không chỉ ở Sài Gòn mà trên cả xứ Nam kỳ. Khi Kỳ bộ Nam kỳ thành lập, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ, Bí thư Thành bộ Sài Gòn, phụ trách phong trào công nhân. Với chức trách được giao, đồng chí đã góp phần tích cực thúc đẩy việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta. Công hội do đồng chí Tôn Đức Thắng sáng lập đã bắc nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác - Lênin đến với giai cấp công nhân, tạo thuận lợi cho việc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930). Đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ là chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân, một trong những người sáng lập tổ chức công đoàn của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta. Những đóng góp to lớn đối với công tác thi đua, khen thưởng Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, với uy tín lớn lao trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, đồng chí Tôn Đức Thắng đã được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Ngày 1/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 195-SL thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương bao gồm các thành viên là các đại biểu Chính phủ, quốc hội và các đoàn thể nhân dân, đồng chí Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban. Trên cương vị công tác của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến, kiến quốc. Ngay từ khi mới đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Vận động Thi đua ái quốc, đồng chí Tôn Đức Thắng đã quan tâm đến việc đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Để đảm bảo tốt việc thi đua, ngày 19/11/1948, Ban Vận động Thi đua ái quốc đã có công văn đệ trình lên Chính phủ đề nghị sửa đổi tổ chức thi đua ái quốc, kèm theo công văn là tài liệu về cải tiến tổ chức thi đua ái quốc, quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức, phân công nhiệm vụ, quyền hạn, cách làm việc của Ban. Ban đã đặt ra các Tiểu ban: Thi đua, Kiểm tra, Chấm thi giúp cho Ban điều hành, định thể lệ thưởng, phạt công minh. Ngoài những hoạt động trên, Ban còn thành lập Tiểu ban tuyên truyền để cổ động thi đua, chú trọng việc ra báo tường, đặc san, sáng kiến trên mọi mặt công tác. Đối với việc khen thưởng, đồng chí Tôn Đức Thắng cho rằng: "Nên dè dặt hết sức trong sự phạt, thưởng, kỳ nào cũng thế. Nếu phần thưởng đến những nhóm hay người không thật đặc biệt xứng đáng thì làm cho nhân dân hiểu lầm là: “Thì gọi là cũng được rồi.” Làng và tỉnh tìm những phần thưởng trong khu vực mình. Các phần thưởng nên chỉ có tính cách tượng trưng mà tốn kém ít. Nên dùng những phần thưởng luân chuyển (ví dụ cờ hay biển), sau mỗi kỳ, người hay nhóm tích cực nhất trong mỗi ngành hay mỗi xã, mỗi tỉnh được giữ.” (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, “Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu”, NXB Văn học, 2013, tr425,426). Để đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng, họp từ 21/1 đến 3/2/1950, do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo, Trưởng Ban thi đua ái quốc Trung ương Tôn Đức Thắng đã đọc báo cáo:“Đẩy mạnh thi đua nhằm đúng hướng chính”. Với phương pháp tư duy nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, đồng chí đã phê phán nghiêm khắc những khuyết điểm về lãnh đạo và tổ chức đã làm cho phong trào thi đua ít hiệu quả. “Vì thi đua nhiều mà không nhằm hướng chính nên phong trào thi đua thành loãng và dần dần trở nên bình thường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001,t27). Đồng thời, đồng chí vạch rõ : “Hướng chính của thi đua ái quốc lúc này là động viên nhân lực, vật lực, tài lực để phục vụ tiền tuyến”. Những uốn nắn đó đã góp phần chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước tiến lên một bước mới; góp phần vào sự lớn mạnh của cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn mới. Tại Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu lần thứ nhất năm 1952, với tư cách đại diện Ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn quốc, đồng chí đã căn dặn các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu: “Có được danh dự lớn lao này, các đồng chí tuyệt đối không được tự kiêu, tự mãn, có được vinh dự lớn lao này, các đồng chí lại càng phải ra sức thi đua ái quốc, ra sức học tập đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và gương thi đua của Hồ Chủ tịch, ra sức học tập huấn thị của Hồ Chủ tịch trong đại hội này. Các đồng chí càng phải ra sức học tập các bạn bè chung quanh, học tập nhân dân. Ở đây ra về, các đồng chí cần phải ra sức phổ biến những kinh nghiệm thi đua tổng kết được ở các hội nghị và ở đại hội này, để dìu dắt mọi người cùng thi đua, trở thành chiến sĩ thi đua như mình và hơn mình. Ra sức học tập, ra sức sản xuất và chiến đấu để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ hòa bình thế giới, đó là nhiệm vụ của các đồng chí”. (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, “Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu”, NXB Văn học, 2013, tr63,64). Dù ở trên cương vị công tác nào, đồng chí cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới các phong trào thi đua của các bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể, địa phương. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (9/1969), đồng chí Tôn Đức Thắng được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa II, họp ở Hà Nội ngày 23/9/1969. Trên cương vị mới, đồng chí luôn luôn căn dặn, nhắc nhở, giáo dục cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở phải hết lòng vì dân, vì nước và luôn luôn phải coi dân là gốc vì sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Tiếp nối những tư tưởng, tâm huyết của đồng chí Tôn Đức Thắng, những năm qua cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng trong cả nước đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực, xây dựng ngành thi đua, khen thưởng ngày càng trưởng thành và phát triển. Ngành đã đóng góp tích cực vào sự đổi mới của đất nước, ngày càng khẳng định vai trò tham mưu với Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành trong việc ban hành những chủ trương, chính sách, pháp luật và thực hiện nhiều biện pháp cụ thể để thi đua, khen thưởng ngày càng thiết thực. Nhờ đó, phong trào thi đua yêu nước đã được đổi mới nội dung, hình thức thi đua phong phú và thiết thực hơn, thu hút được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, đã góp phần thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết các vấn đề về xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hội nhập quốc tế. Công tác khen thưởng đảm bảo khen đúng, khen trúng, khen kịp thời; đã chú trọng việc phát hiện tập thể, cá nhân người lao động trực tiếp có thành tích xuất sắc để khen thưởng. Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng, ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng và những cống hiến to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, chúng ta càng thêm kính trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đồng chí - một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một nhà lãnh đạo mẫu mực của Đảng, của dân tộc, đã hiến dâng cả cuộc đời cho lý tưởng cộng sản, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hàng chục năm đã trôi qua nhưng những tư tưởng của đồng chí Tôn Đức Thắng về thi đua yêu nước - thi đua phải nhằm đúng hướng chính, luôn luôn quan tâm đổi mới công tác thi đua, khen thưởng - vẫn còn nguyên giá trị, là bài học kinh nghiệm quý báu đối với các thế hệ những người làm công tác thi đua, khen thưởng hôm nay và mai sau. Nguyệt Hà

Trang