BTĐKT - Ở tuổi ngoài 50, anh Nguyễn Tuấn Đông, xã Yên Châu, tỉnh Sơn La vẫn không ngừng học tập, rèn luyện và chủ động thích ứng với cuộc sống. Từ một người gặp khó khăn trong đi lại do tai nạn từ nhỏ, anh đã vượt qua nhiều trở ngại để học tập, học nghề, lao động tự lập, tham gia thể thao dành cho người khuyết tật và từng bước làm chủ các tiện ích công nghệ số phục vụ cuộc sống.
Một tai nạn khi còn nhỏ khiến một bên chân của anh bị teo nhỏ, hạn chế khả năng vận động. Những ngày đến trường, anh phải nhảy lò cò từng bước, có khi được bạn bè cõng đến lớp. Với sự động viên của gia đình, thầy cô và bạn bè, anh vẫn kiên trì học tập và hoàn thành chương trình trung học phổ thông. Chính những năm tháng khó khăn ấy đã hun đúc ở anh nghị lực vươn lên và suy nghĩ: Những điều không thể lựa chọn thì phải biết thích nghi, còn những điều có thể thay đổi thì cần cố gắng bằng chính sức lực của mình.
Anh Nguyễn Tuấn Đông tại buổi Lễ trao học bổng do Hội Khuyến học tỉnh Sơn La tổ chức
Sau khi rời ghế nhà trường, anh lựa chọn học nghề sửa chữa kính mắt và đồng hồ - công việc phù hợp với điều kiện sức khỏe, đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo và chính xác. Sau thời gian học nghề, tích lũy kinh nghiệm và dành dụm vốn, anh từng bước gây dựng cửa hàng kinh doanh, sửa chữa kính mắt, đồng hồ. Từ chỗ từng phải nhờ người khác hỗ trợ trong việc đi lại, anh đã tự lao động, tạo thu nhập, lập gia đình và cùng vợ xây dựng cuộc sống bằng chính sức lao động của mình.
Không chỉ nỗ lực trong lao động, anh Nguyễn Tuấn Đông còn tích cực rèn luyện thể thao và nhiều năm tham gia các giải thể thao dành cho người khuyết tật, đặc biệt ở môn điền kinh. Anh đã đạt nhiều thành tích như: Huy chương Bạc cấp quốc gia năm 2014; Huy chương Đồng tại Giải thể thao người khuyết tật cấp tỉnh năm 2016; Huy chương Bạc và Huy chương Vàng cấp tỉnh năm 2018; Huy chương Bạc cấp tỉnh năm 2021, cùng nhiều giấy khen của tổ chức Hội và các đoàn thể. Đối với anh, thể thao không chỉ giúp nâng cao sức khỏe mà còn là quá trình rèn luyện tính kỷ luật, sự kiên trì và niềm tin vào khả năng vượt qua giới hạn của bản thân.
Trong những năm gần đây, anh tiếp tục học thêm một kỹ năng mới - sử dụng công nghệ số. Từ chiếc điện thoại thông minh, anh làm quen với internet, mạng xã hội; tìm kiếm thông tin, trao đổi với người thân, bạn bè và các tổ chức Hội; tiếp cận các chính sách dành cho người khuyết tật và các tiện ích trên môi trường số. Anh đã kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trên ứng dụng VNeID, sử dụng ứng dụng ngân hàng, quét mã QR, thanh toán không dùng tiền mặt, mua hàng trực tuyến và khai thác các tiện ích số phục vụ công việc, sinh hoạt hằng ngày. Đối với anh, công nghệ không phải để tìm kiếm một thành tích, mà xuất phát từ những nhu cầu thiết thực của cuộc sống. Cần liên lạc, anh học sử dụng zalo; cần tìm thông tin, anh tra cứu trên internet; cần giao dịch thuận tiện, anh sử dụng ngân hàng số và mã QR; khi việc đi lại không thuận lợi, anh lựa chọn mua hàng trực tuyến. Mỗi kỹ năng mới giúp anh giảm bớt sự phụ thuộc vào người khác và chủ động hơn trong cuộc sống.
Câu chuyện của anh là minh chứng sinh động cho tinh thần học tập suốt đời. Từ học chữ, học nghề, học cách rèn luyện thể thao đến học sử dụng công nghệ số, mỗi chặng đường đều giúp anh có thêm kiến thức, kỹ năng và sự chủ động; mạnh dạn tiếp cận những điều mới, từ một ứng dụng trên điện thoại đến việc tự tìm kiếm thông tin hay thực hiện một giao dịch mà trước đây phải nhờ người khác. Không chỉ nỗ lực vươn lên trong cuộc sống, anh còn chia sẻ, động viên những người có cùng hoàn cảnh tích cực rèn luyện sức khỏe, tự tin và chủ động tham gia các hoạt động cộng đồng. Tinh thần ấy đã được ghi nhận trong quá trình anh tham gia các phong trào học tập, rèn luyện và hoạt động dành cho người khuyết tật.
Từ những bước chân từng không trọn vẹn, anh luôn kiên trì đến trường, học nghề, tạo dựng gia đình, tham gia thi đấu thể thao và hôm nay tiếp tục chủ động hòa nhập với môi trường số. Điều đáng quý ở anh không chỉ là những tấm huy chương hay giấy khen, mà còn là tinh thần không ngừng học hỏi, thích ứng với hoàn cảnh và nỗ lực tự mình làm những việc có thể. Anh là một tấm gương về nghị lực vượt khó, tinh thần tự lập và ý chí học tập suốt đời, góp phần lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng.
Đinh Thùy Vui
Điển hình tiên tiến
BTĐKT - Trong đội ngũ những người lao động đang ngày đêm góp sức bảo đảm an toàn, hiệu quả cho các nhà máy thủy điện, anh Hoàng Hải, kỹ sư sửa chữa tự động, Phân xưởng Sửa chữa, Công ty Thủy điện Sơn La là một gương điển hình tiêu biểu với tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và niềm say mê nghiên cứu, sáng tạo kỹ thuật.
Anh Hoàng Hải (đứng giữa hàng đầu) được tuyên dương “Người lao động ngành Điện tiêu biểu” năm 2026
Gắn bó với công tác sửa chữa, bảo dưỡng các tổ máy của Nhà máy Thủy điện Sơn La và Nhà máy Thủy điện Lai Châu, anh Hoàng Hải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động nghiên cứu, tìm các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả công việc. Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, anh còn tích cực tham gia phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; đào tạo, hướng dẫn đội ngũ kỹ sư, công nhân trong tổ tự động về sửa chữa, bảo dưỡng các hệ thống tự động.
Trong quá trình công tác, anh đã tham gia khắc phục nhiều khiếm khuyết khó của các hệ thống DCS (hệ thống điều khiển phân tán), kích từ tồn tại từ khi đưa vào vận hành, góp phần bảo đảm hai nhà máy Thủy điện Sơn La và Lai Châu vận hành an toàn, hiệu quả. Những công việc này đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu, kinh nghiệm thực tiễn, sự cẩn trọng và khả năng xử lý chính xác các vấn đề kỹ thuật phát sinh.
Anh Hoàng Hải cùng đồng nghiệp chủ động nghiên cứu, tìm các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả công việc
Không dừng lại ở phạm vi đơn vị, anh Hoàng Hải còn tích cực nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và chia sẻ kinh nghiệm với nhiều nhà máy thủy điện trong ngành. Anh đã tham gia đào tạo hệ thống kích từ ABB cho các Nhà máy Thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Sê San 3, Sê San 4, Ialy, Pleikrong; đào tạo biến tần Siemens cho các Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Sê San 3; đào tạo thí nghiệm kích từ cho công nhân theo tại nhiều nhà máy thủy điện. Anh cũng trực tiếp hỗ trợ các đơn vị xử lý nhiều vấn đề kỹ thuật phức tạp như khắc phục khiếm khuyết về truyền thông và đồng bộ thời gian của trạm OPY tại Nhà máy Thủy điện Hòa Bình; phân tích sự cố nhảy chế độ điều khiển của kích từ tại Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang; hỗ trợ Nhà máy Thủy điện Ialy trong chuyển giao công nghệ hệ thống điều tốc và kích từ; phân tích lỗi sai thời gian của HMI hệ thống kích từ tại các Nhà máy Thủy điện Sơn La, Lai Châu, Huội Quảng; hỗ trợ Nhà máy Thủy điện Huội Quảng kết nối hệ thống DCS với trạm 220kV sau cải tạo.
Những nỗ lực trong lao động, nghiên cứu và sáng tạo của anh Hoàng Hải đã được ghi nhận bằng Giải Ba Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (Vifotec) năm 2022 của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Anh cũng được bình chọn là “Người lao động ngành Điện tiêu biểu” năm 2022, 2026.
Ở anh Hoàng Hải nổi bật hình ảnh người kỹ sư ngành Điện tận tâm với công việc, chủ động sáng tạo, không ngừng học hỏi và sẵn sàng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với đồng nghiệp. Từ những công việc cụ thể hằng ngày đến việc hỗ trợ kỹ thuật cho các đơn vị trong ngành, anh đã góp phần lan tỏa tinh thần lao động sáng tạo, nâng cao năng lực làm chủ khoa học, công nghệ của người lao động ngành Điện. Danh hiệu “Người lao động ngành Điện tiêu biểu năm 2026” là sự ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp của anh Hoàng Hải, đồng thời là nguồn động viên để anh tiếp tục nỗ lực, cống hiến cùng Công ty Thủy điện Sơn La và ngành Điện thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đinh Thùy Vui
Phụ nữ An Ninh đổi mới nghề truyền thống, tạo sinh kế bền vững
BTĐKT - Phong trào thi đua yêu nước đang được cụ thể hóa bằng những mô hình thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế, qua đó khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân. Tại xã An Ninh, tỉnh Tây Ninh, phụ nữ địa phương đã tạo dấu ấn từ mô hình Câu lạc bộ “Nữ khởi nghiệp”, gắn nghề chằm nón truyền thống với vẽ mỹ thuật, vừa giữ gìn giá trị văn hóa, vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ nông thôn. Điểm nổi bật của mô hình là cách làm mới trên nền nghề cũ. Thay vì chỉ sản xuất những chiếc nón lá truyền thống, các thành viên mạnh dạn sáng tạo, đưa hình ảnh đồng quê, hàng tre, hoa sen và các họa tiết dân gian lên từng sản phẩm. Nhờ đó, những chiếc nón mộc mạc trở nên sinh động, có giá trị thẩm mỹ cao hơn và từng bước tạo được dấu ấn riêng trên thị trường. Thi đua từ những việc làm thiết thực Trước đây, nghề chằm nón ở An Ninh chủ yếu được phụ nữ thực hiện vào thời gian nông nhàn để kiếm thêm thu nhập. Giá trị sản phẩm chưa cao khiến một số người có ý định bỏ nghề. Trước thực tế đó, phụ nữ địa phương đã lựa chọn cách làm phù hợp: Không từ bỏ nghề truyền thống mà đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm. Thông qua Câu lạc bộ “Nữ khởi nghiệp”, chị em có điều kiện liên kết, hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm. Từ những đôi tay vốn đã quen với từng công đoạn chằm nón, phụ nữ tiếp tục học hỏi kỹ năng vẽ, sáng tạo mẫu mã, từng bước biến sản phẩm thủ công thành hàng hóa có giá trị cao hơn. Những đôi tay khéo léo đang “thổi hồn” vào nón lá truyền thống Mô hình hiện có 12 phụ nữ tham gia. Việc tận dụng thời gian nhàn rỗi để làm nghề ngay tại nhà giúp chị em vừa chăm lo gia đình, vừa có thêm thu nhập. Trung bình mỗi ngày, một thành viên có thể hoàn thiện khoảng 7 sản phẩm. Đặc biệt, nón được trang trí nghệ thuật có giá khoảng 120.000 đồng/chiếc, cao hơn đáng kể so với nón lá thông thường. Những kết quả đó cho thấy hiệu quả của một mô hình thi đua xuất phát từ thực tiễn. Khi người dân được khơi dậy khả năng sáng tạo và biết phát huy lợi thế sẵn có, nghề truyền thống không chỉ được duy trì mà còn có thể trở thành sinh kế, góp phần nâng cao đời sống. Mô hình hay, tạo chuyển biến từ nhận thức đến hành động Hiệu quả lớn nhất của mô hình không chỉ nằm ở giá trị kinh tế mà còn ở sự thay đổi trong tư duy của phụ nữ nông thôn. Từ chỗ làm nghề theo phương thức truyền thống, chị em đã chủ động học hỏi, sáng tạo mẫu mã, quan tâm đến thị trường và tìm cách nâng cao giá trị sản phẩm. Những chiếc nón lá được vẽ trang trí thủ công góp phần nâng cao giá trị sản phẩm địa phương Theo bà Trịnh Thị Hải Yến, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã An Ninh, khi sản phẩm được thị trường đón nhận, chị em càng thêm tin tưởng và gắn bó với nghề. Đây là động lực để các thành viên tiếp tục sáng tạo, phát triển những mẫu nón mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Mô hình cũng tạo môi trường để phụ nữ hỗ trợ nhau phát triển kinh tế. Những người trước đây chủ yếu làm nội trợ hoặc sản xuất nông nghiệp nay có thêm cơ hội học nghề, nâng cao kỹ năng, chia sẻ kinh nghiệm và từng bước tự tin tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp. Qua đó, phong trào thi đua yêu nước được chuyển hóa thành những hành động cụ thể, gần gũi với đời sống: thi đua lao động, sáng tạo; thi đua phát triển kinh tế gia đình; thi đua giữ gìn nghề truyền thống và cùng nhau vươn lên. Phát huy vai trò của tổ chức Hội Để mô hình hoạt động hiệu quả, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã An Ninh đã đồng hành cùng hội viên trong kết nối, định hướng và khuyến khích chị em phát huy thế mạnh. Sự hỗ trợ của tổ chức Hội góp phần tạo động lực để phụ nữ mạnh dạn phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống. Từ thực tiễn mô hình cho thấy, việc phát hiện và lựa chọn đúng những cách làm phù hợp với điều kiện địa phương có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức phong trào thi đua. Mỗi hội viên không chỉ là người hưởng ứng phong trào mà còn có thể trở thành chủ thể sáng tạo, trực tiếp tạo ra sản phẩm và giá trị cho gia đình, cộng đồng. Đây cũng là điểm có ý nghĩa trong công tác phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến. Một mô hình nhỏ nhưng có cách làm sáng tạo, hiệu quả thực tế sẽ tạo sức lan tỏa nếu được tổ chức Hội quan tâm, hỗ trợ và giới thiệu rộng rãi. Hướng tới nhân rộng và phát triển bền vững Từ kết quả bước đầu, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã An Ninh định hướng tiếp tục gắn sản phẩm nón lá với quảng bá văn hóa, du lịch trải nghiệm; giới thiệu sản phẩm tại các sự kiện, hội chợ và tăng cường kết nối tiêu thụ. Đây là hướng đi nhằm mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm thủ công, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập cho phụ nữ tại địa phương. Điều đáng ghi nhận là mô hình không đòi hỏi nguồn lực quá lớn mà dựa trên những lợi thế sẵn có của địa phương, kỹ năng của người dân và sự sáng tạo trong cách làm. Đây là cơ sở để mô hình có khả năng tiếp tục phát triển và trở thành kinh nghiệm tham khảo trong xây dựng các mô hình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn. Không chỉ giúp tăng thu nhập, việc tham gia mô hình còn giúp phụ nữ địa phương mạnh dạn, tự tin hơn trong cuộc sống Từ một nghề truyền thống từng chủ yếu được làm lúc nông nhàn, phụ nữ An Ninh đã mạnh dạn đổi mới để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn. Những chiếc nón được vẽ thủ công không chỉ mang vẻ đẹp của quê hương mà còn thể hiện tinh thần cần cù, sáng tạo và ý chí vươn lên của người phụ nữ. Mô hình Câu lạc bộ “Nữ khởi nghiệp” vì thế không chỉ là câu chuyện về những chiếc nón lá. Đó còn là minh chứng sinh động cho hiệu quả của phong trào thi đua yêu nước khi được gắn với nhu cầu thực tế của người dân. Thi đua để đổi mới, sáng tạo để nâng cao giá trị, liên kết để cùng phát triển và nhân rộng những cách làm hiệu quả – đó chính là hướng đi đang tạo thêm sức sống cho nghề truyền thống, đồng thời góp phần xây dựng đời sống kinh tế ngày càng ổn định cho phụ nữ xã An Ninh. Xuân PhúcBTĐKT - Từ 0,5 ha đất canh tác ban đầu, bằng tinh thần dám nghĩ, dám làm và tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua lao động, sản xuất, ông Tống Viết Vinh (phường Yên Thắng, tỉnh Ninh Bình) từng bước hình thành vùng sản xuất rau màu công nghệ cao rộng 5 ha. Mô hình đạt doanh thu hơn 8 tỷ đồng, lợi nhuận 1,6 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 8 - 10 lao động địa phương. Năm 2026, ông được bình chọn danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới”.
Ông Tống Viết Vinh bên khu nông nghiệp công nghệ cao
Sau khi rời quân ngũ năm 1988, ông Vinh trở về quê và bắt đầu hành trình lập nghiệp bằng nhiều công việc khác nhau, từ buôn bán nông sản đến tìm kiếm những hướng phát triển kinh tế phù hợp. Chính quá trình trải nghiệm đó giúp ông nhận thấy muốn nâng cao thu nhập từ nông nghiệp thì không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm sản xuất truyền thống mà cần thay đổi phương thức tổ chức sản xuất.
Năm 2013, khi tỉnh Ninh Bình triển khai chủ trương dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng, ông Vinh đã chủ động nắm bắt cơ hội. Toàn bộ 0,5 ha đất canh tác của gia đình được dồn đổi thành một thửa liền khoảnh. Đây là bước khởi đầu cho quá trình tích tụ ruộng đất và xây dựng vùng sản xuất tập trung sau này.
Thời gian đầu, gia đình ông chủ yếu trồng ngô, lạc, đậu đỗ... Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chưa cao. Từ thực tế sản xuất, ông bắt đầu tìm hướng thay đổi. Năm 2014, thông qua các chương trình tham quan, học tập mô hình do Hội Nông dân huyện Yên Mô (cũ) tổ chức ở trong và ngoài tỉnh, ông Vinh tiếp cận nhiều cách làm mới trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ cao. Việc học hỏi từ thực tiễn đã giúp ông có thêm cơ sở để lựa chọn hướng đi phù hợp với điều kiện đất đai, lao động và thị trường.
Đầu năm 2015, ông quyết định thuê thêm 2 ha đất của các hộ liền kề để mở rộng diện tích sản xuất. Hệ thống tưới tiết kiệm được đưa vào sử dụng; những cây trồng có giá trị như dưa lê, dưa chuột bao tử, bí đỏ... được lựa chọn thay thế dần những cây trồng hiệu quả thấp.
Từ những kết quả ban đầu, ông tiếp tục chuyển nhượng và thuê thêm đất. Đến nay, tổng diện tích canh tác tập trung của gia đình đạt 5 ha, hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn.
Từ đổi mới phương thức sản xuất đến hiệu quả kinh tế
Điểm nổi bật trong cách làm của ông Tống Viết Vinh là luôn gắn phong trào thi đua lao động, sản xuất với yêu cầu nâng cao chất lượng và giá trị nông sản. Thay vì chạy theo sản lượng, gia đình ông lựa chọn hướng sản xuất an toàn, bền vững, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của thị trường.
Trên toàn bộ 5 ha rau, củ, quả, gia đình ông không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật độc hại. Phân hữu cơ ủ hoai mục được sử dụng để cải tạo đất, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng; kết hợp phủ màng nhằm hạn chế cỏ dại và giữ ẩm.
Theo ông Vinh, chất lượng sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu để bảo đảm sức khỏe cho người sản xuất, người lao động và người tiêu dùng, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm đó được cụ thể hóa bằng việc đầu tư đồng bộ cho quy trình sản xuất.
Trang trại được lắp đặt hệ thống tưới tự động, sử dụng nguồn nước đã qua bể lắng, lọc. Ông đầu tư xây dựng 1 ha nhà màng nhằm hạn chế tác động của thời tiết, côn trùng gây hại; đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi quá trình sinh trưởng và phòng trừ sâu bệnh.
Việc chuẩn hóa quy trình sản xuất từng bước tạo nền tảng để sản phẩm nâng cao uy tín trên thị trường. Năm 2019, mô hình rau, củ, quả của gia đình được Hội Nông dân tỉnh Ninh Bình hỗ trợ cấp tem truy xuất nguồn gốc. Đến năm 2020, sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP.
Không chỉ chú trọng khâu sản xuất, gia đình ông Vinh còn thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm trong quá trình thu hoạch, sơ chế và bảo quản. Nông sản được bảo quản trong kho lạnh trước khi đưa ra thị trường. Nhờ chất lượng được kiểm soát, sản phẩm của trang trại được nhiều công ty, trường học và cửa hàng nông sản an toàn trên địa bàn tỉnh lựa chọn.
Hiệu quả của hướng đi này được thể hiện rõ qua kết quả sản xuất, kinh doanh. Năm 2025, mô hình rau màu công nghệ cao của gia đình ông Tống Viết Vinh đạt doanh thu hơn 8 tỷ đồng, lợi nhuận 1,6 tỷ đồng.
Đây là kết quả nổi bật của quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa, từ phương thức canh tác truyền thống sang ứng dụng công nghệ và tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường. Quan trọng hơn, mô hình đã chứng minh khả năng tạo ra giá trị cao từ chính nguồn lực đất đai ở địa phương khi người nông dân biết tích tụ ruộng đất, lựa chọn cây trồng phù hợp và mạnh dạn đầu tư.
Lan tỏa tinh thần thi đua từ hiệu quả sản xuất
Hiệu quả của mô hình không chỉ được đo bằng doanh thu, lợi nhuận mà còn thể hiện ở những giá trị xã hội được tạo ra. Hiện trang trại duy trì việc làm thường xuyên cho 8 - 10 lao động, với mức thu nhập bình quân khoảng 8 triệu đồng/người/tháng.
Trong số những lao động gắn bó với trang trại có bà Nguyễn Thị Ngần, một phụ nữ đơn thân, thuộc hộ cận nghèo tại địa phương. Nhờ có việc làm ổn định và tích lũy qua nhiều năm, bà Ngần đã cải thiện thu nhập, xây được ngôi nhà mới và thoát diện hộ cận nghèo.
Từ hiệu quả của mô hình, ông Vinh tiếp tục hướng đến những cách làm mới. Gia đình đang có kế hoạch mở rộng sản xuất theo hướng kết hợp du lịch trải nghiệm nông nghiệp, với các hạng mục như khu đóng gói, kho lạnh bảo quản và nhà trưng bày sản phẩm. Qua đó, du khách có thể tham quan, trải nghiệm hái quả và mua sản phẩm ngay tại vườn.
Tinh thần thi đua của người nông dân còn được thể hiện ở trách nhiệm với cộng đồng. Bên cạnh phát triển kinh tế gia đình, ông Vinh tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo tại địa phương.
Từ một hộ sản xuất nhỏ, bằng sự chủ động, sáng tạo và tinh thần không ngừng đổi mới, ông Vinh đã từng bước nâng tầm giá trị trên đồng đất quê hương. Hiệu quả từ mô hình không chỉ mang lại thu nhập, tạo việc làm cho lao động địa phương mà còn cho thấy khi người nông dân mạnh dạn thay đổi tư duy, ứng dụng khoa học kỹ thuật và thi đua làm giàu chính đáng, nông nghiệp hoàn toàn có thể trở thành hướng phát triển bền vững. Những cách làm hiệu quả như vậy đang góp thêm động lực để phong trào thi đua lao động, sản xuất ngày càng lan tỏa, tạo sức bật cho nông nghiệp và nông thôn Ninh Bình trong giai đoạn mới.
Tùng Chi
Huỳnh Ngọc Tiến - Tấm gương vượt nghịch cảnh, lan tỏa nghị lực sống
BTĐKT - Trong phong trào thi đua yêu nước, những điển hình tiên tiến không chỉ được ghi nhận bằng thành tích, mà còn bởi nghị lực vượt khó, khát vọng vươn lên và những đóng góp thiết thực cho cộng đồng. Câu chuyện của anh Huỳnh Ngọc Tiến, vận động viên bơi lội khiếm thị của đội tuyển Thành phố Hồ Chí Minh, là một minh chứng sinh động cho tinh thần ấy. Từ biến cố mất hoàn toàn thị lực ở tuổi 17, anh đã nỗ lực viết lại cuộc đời bằng ý chí, nghị lực và một trái tim luôn hướng về cộng đồng. Không đầu hàng số phận Năm 17 tuổi, khi đang là học sinh lớp 11 tại một vùng quê nghèo ở Phú Yên, Huỳnh Ngọc Tiến mang trong mình những ước mơ đẹp của tuổi trẻ. Anh từng mong muốn thi vào trường Công an nhân dân để khoác lên mình màu áo xanh, phục vụ Tổ quốc. Ngoài giờ học, anh theo ghe đi biển phụ giúp gia đình. Một tai nạn bỏng hóa chất bất ngờ đã khiến cuộc đời anh rẽ sang hướng khác. Thị lực ngày càng suy giảm rồi mất hoàn toàn. Việc học phải dừng lại, ước mơ dang dở. Gia đình vốn khó khăn, trong khi em gái mắc bệnh tim bẩm sinh, khiến việc điều trị càng trở thành gánh nặng. Từ một chàng trai khỏe mạnh, Tiến phải học lại cách thích nghi với cuộc sống trong bóng tối. “Việc học phải dừng lại giữa chừng, ước mơ không thể thực hiện được và đau nhất là cảm giác mình trở thành người vô dụng, trở thành gánh nặng của gia đình”, anh nhớ lại. Nhưng nghịch cảnh không thể khuất phục ý chí của chàng trai trẻ. Sau hai năm điều trị không mang lại kết quả, năm 19 tuổi, Tiến quyết định một mình vào Thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp. Không người thân, không tiền bạc và mất hoàn toàn thị lực, anh phải đối diện với vô vàn khó khăn. Song, thay vì buông xuôi, anh chọn bước tiếp. Tại Giải vô địch Quốc gia thể thao người khuyết tật năm 2025, Huỳnh Ngọc Tiến xuất sắc giành 5 Huy chương Vàng ở cả 5 nội dung tham dự Tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh được Trung tâm Bảo trợ Khiếm thị Nhật Hồng cưu mang, tạo điều kiện học nghề, rèn luyện kỹ năng sống và tìm kiếm công việc ổn định. Anh học nghề vật lý trị liệu, từng bước tự nuôi sống bản thân và đồng hành, chăm sóc những người có hoàn cảnh tương tự. Trong hành trình ấy, những người thầy đã trở thành điểm tựa quan trọng giúp Tiến lấy lại sự tự tin. Thầy Hoàng Tuấn giúp anh định hình hướng đi mới; các thầy Thủ, thầy Hiếu truyền dạy nghề vật lý trị liệu cơ xương khớp. Đặc biệt, huấn luyện viên Ngọc Trương phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và dẫn dắt anh trở thành vận động viên chuyên nghiệp của đội tuyển bơi người khuyết tật Thành phố Hồ Chí Minh. Chinh phục đường đua, vượt qua giới hạn Với Huỳnh Ngọc Tiến, bơi lội không chỉ là môn thể thao mà còn là hành trình giúp anh vượt qua mặc cảm, khẳng định giá trị bản thân và tìm lại niềm tin vào cuộc sống. Mỗi vòng tay quạt nước là một lần anh vượt qua giới hạn của chính mình. Từ những bước đi đầu tiên, Tiến dần chinh phục các đường bơi ngày càng dài và khắc nghiệt. Năm 2024, anh tham gia giải bơi thiện nguyện Deadfish ở cự ly 10 km nhằm gây quỹ hỗ trợ trẻ em vùng cao. Năm 2025, anh tiếp tục thử thách bản thân với cự ly 21,1 km để gây quỹ hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Với một vận động viên khiếm thị, chinh phục hơn 20 km trên đường bơi không chỉ là thử thách về thể lực mà còn là cuộc chiến của niềm tin, bản lĩnh và ý chí. Mỗi ki-lô-mét hoàn thành là một dấu mốc trên hành trình vượt lên chính mình. Với Huỳnh Ngọc Tiến, bơi lội không chỉ là môn thể thao mà còn là hành trình giúp anh vượt qua mặc cảm Đặc biệt, tại Giải vô địch Quốc gia thể thao người khuyết tật năm 2025, Huỳnh Ngọc Tiến xuất sắc giành 5 Huy chương Vàng ở cả 5 nội dung tham dự. Thành tích ấy là kết quả của quá trình tập luyện bền bỉ và tinh thần không ngừng vượt qua giới hạn. Nhưng với Tiến, điều đáng tự hào nhất không phải là những tấm huy chương. Anh chia sẻ: “Điều tôi tự hào nhất không phải là những tấm huy chương, mà là khoảnh khắc năm 19 tuổi dám một mình lên thành phố lập nghiệp”. Với anh, thành công lớn nhất là từ một người từng cảm thấy mình là gánh nặng, hôm nay anh đã có thể tự lập, trở thành người có ích cho xã hội và khiến gia đình tự hào. Thành công để cống hiến Điều đáng quý ở Huỳnh Ngọc Tiến không chỉ nằm ở nghị lực vượt khó mà còn ở tinh thần biết sẻ chia. Ngay từ thời gian sống tại Trung tâm Nhật Hồng, anh đã tình nguyện dạy bơi cho những người khiếm thị khác. Từng nhận được sự giúp đỡ, anh mong muốn trao lại cơ hội cho những người đang gặp khó khăn. Tiến tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, các chương trình gây quỹ hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; góp phần nâng cao nhận thức về phòng, chống đuối nước và khuyến khích người khuyết tật tự tin hòa nhập xã hội. Từ chính trải nghiệm của mình, anh lan tỏa thông điệp giản dị nhưng giàu ý nghĩa: Khuyết tật không đồng nghĩa với bất lực. Khi có ý chí, nghị lực và cơ hội, mỗi người đều có thể tạo dựng một cuộc sống có ích. Hiện nay, Huỳnh Ngọc Tiến vừa là vận động viên chuyên nghiệp, vừa là huấn luyện viên dạy bơi, kỹ thuật viên vật lý trị liệu. Không bằng lòng với những gì đã đạt được, anh tiếp tục học thêm châm cứu để nâng cao chuyên môn, với mong muốn hỗ trợ được nhiều người hơn. Điều khiến câu chuyện của Tiến có sức lan tỏa chính là anh không dừng lại ở việc vượt qua số phận của mình, mà luôn hướng đến việc giúp người khác có thêm cơ hội vượt qua nghịch cảnh. Anh đang ấp ủ ước mơ mở một lớp dạy bơi miễn phí cho trẻ khiếm thị, giúp các em phòng, chống đuối nước và có thêm cơ hội theo đuổi đam mê thể thao. Lan tỏa tinh thần thi đua yêu nước Từ một chàng trai mất hoàn toàn thị lực ở tuổi 17, Huỳnh Ngọc Tiến đã từng bước làm chủ cuộc sống bằng nghị lực, mồ hôi và lòng nhân ái. Câu chuyện của anh cho thấy sức mạnh của phong trào thi đua yêu nước không chỉ được tạo nên từ những thành tích lớn lao, mà còn bắt nguồn từ những con người bình dị biết vượt lên hoàn cảnh, sống có trách nhiệm và đóng góp cho cộng đồng. Ở Tiến, thành tích thể thao chỉ là một phần của hành trình. Điều đáng trân trọng hơn là tinh thần không đầu hàng số phận, dám bước ra khỏi vùng tối của nghịch cảnh để sống một cuộc đời có ích. Năm Huy chương Vàng, những cự ly bơi hàng chục ki-lô-mét và những công việc anh đang đảm nhận là minh chứng cho một nghị lực bền bỉ. Câu chuyện ấy cũng gửi gắm một thông điệp sâu sắc: Khiếm khuyết không phải là rào cản để sống có ích; nghịch cảnh không phải là điểm kết thúc, mà có thể trở thành điểm khởi đầu cho một hành trình mới. Với những nỗ lực bền bỉ, thành tích nổi bật và đóng góp thiết thực cho cộng đồng, Huỳnh Ngọc Tiến xứng đáng là gương điển hình tiên tiến tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước. Tấm gương của anh không chỉ truyền cảm hứng cho người khuyết tật mà còn lan tỏa đến cộng đồng về ý chí, nghị lực, lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm. Phát hiện, tuyên truyền và nhân rộng những điển hình như Huỳnh Ngọc Tiến chính là góp phần làm cho phong trào thi đua yêu nước ngày càng đi vào chiều sâu, tạo động lực để mỗi người vượt qua giới hạn của bản thân, sống đẹp, sống có ích và cùng chung sức xây dựng cộng đồng ngày càng tốt đẹp hơn. Xuân PhúcCô giáo Hoàng Thị Kim Oanh - Tấm gương tận tụy, sáng tạo vì học sinh vùng cao
BTĐKT - Hơn 24 năm gắn bó với sự nghiệp trồng người, cô giáo Hoàng Thị Kim Oanh, Tổ trưởng tổ Khoa học xã hội, Chi ủy viên Chi bộ Trường THCS Ít Ong, xã Mường La, tỉnh Sơn La luôn là một nhà giáo tận tâm, trách nhiệm, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học. Từ những điểm trường vùng đặc biệt khó khăn đến các ngôi trường trung tâm, ở đâu cô cũng nỗ lực cống hiến, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và truyền cảm hứng học tập mạnh mẽ cho các thế hệ học trò. Từ năm 2002 đến nay, cô Hoàng Thị Kim Oanh đã có 24 năm trực tiếp đứng lớp, từng công tác tại 6 đơn vị trường THCS trên địa bàn huyện Mường La (cũ). Đặc biệt, trong giai đoạn từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2015, cô đã chủ động xung phong nhận nhiệm vụ tại Trường THCS Hua Trai - một đơn vị thuộc vùng đặc biệt khó khăn của huyện. Trong điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, cô vẫn kiên trì đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp học sinh vùng cao từng bước hình thành kĩ năng tự học và thêm yêu thích môn Ngữ văn. Cũng tại nơi đây, cô trực tiếp phụ trách, bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn gặt hái nhiều giải cao ở cấp huyện, cấp tỉnh, góp phần đặt nền móng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn của nhà trường. Cô Hoàng Thị Kim Oanh trong một giờ dạy học Trở về công tác tại Trường THCS Lê Quý Đôn và Trường THCS Ít Ong, cô tiếp tục phát huy năng lực chuyên môn, đảm nhận vai trò Tổ phó, Tổ trưởng tổ Văn - Sử, (nay là tổ Khoa học xã hội). Với trình độ nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, cô xuất sắc đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi cấp huyện năm 2008 và Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm 2010. Nhờ uy tín chuyên môn cao, cô luôn được Phòng Giáo dục và Đào tạo xã, huyện tín nhiệm tham gia hội đồng ra đề thi, hội đồng thanh tra, kiểm tra chuyên môn và đảm nhận trọng trách thành viên Ban giám khảo các hội thi giáo viên dạy giỏi cấp xã, cấp huyện. Không chỉ tận tâm với từng giờ lên lớp, cô Hoàng Thị Kim Oanh luôn trăn trở tìm ra những giải pháp mới nhằm tối ưu hóa chất lượng dạy học. Trong giảng dạy môn Ngữ văn, cô chủ động xây dựng lộ trình ôn tập khoa học, chú trọng rèn kỹ năng làm bài cho học sinh. Nhờ vậy, chất lượng điểm thi vào lớp 10 môn Ngữ văn của nhà trường luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, ổn định ở mức cao trong khối thi đua. Bên cạnh đó, cô còn đi đầu trong việc ứng dụng các phần mềm tương tác trực tuyến để duy trì tiến độ học tập và rèn tính tự giác cho học trò. Đây cũng là một minh chứng cụ thể cho tinh thần “Đổi mới, sáng tạo trong quản lý, giảng dạy và học tập” mà cô luôn theo đuổi. Cô Hoàng Thị Kim Oanh cùng đồng nghiệp trong buổi sinh hoạt tổ chuyên môn Với vai trò tổ trưởng tổ chuyên môn và là hạt nhân cốt cán chuyên môn của ngành Giáo dục Mường La, cô Hoàng Thị Kim Oanh luôn tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ đồng nghiệp. Cô đã trực tiếp bồi dưỡng, giúp đỡ 2 giáo viên trong tổ đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi cấp huyện năm 2021, 2022 và 1 giáo viên đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm 2022. Đặc biệt, cô dành nhiều tâm huyết cho công tác bồi dưỡng học sinh mũi nhọn. Các đội tuyển Ngữ văn do cô phụ trách nhiều năm liền đạt thành tích cao tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh, đưa môn Ngữ văn trở thành thế mạnh cốt lõi của đơn vị. Không dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức đơn thuần, cô luôn chú trọng khơi dậy niềm đam mê văn học, tư duy độc lập và khả năng tự học của học sinh. Cô Hoàng Thị Kim Oanh - Hướng dẫn nhóm học sinh giỏi môn Ngữ văn nghiên cứu tài liệu học tập trong khuôn viên nhà trường Tinh thần đổi mới, sáng tạo của cô còn được thể hiện rõ qua hoạt động nghiên cứu khoa học và viết sáng kiến kinh nghiệm. Đến nay, cô có 14 sáng kiến cấp cơ sở được công nhận của Hội đồng xét, công nhận sáng kiến, hiệu quả áp dụng và khả năng nhân rộng của sáng kiến UBND huyện Mường La và UBND xã Mường La. Các sáng kiến tập trung vào những vấn đề thực tiễn cấp thiết như: Phát triển năng lực học sinh, rèn kỹ năng sống, nâng cao tính tự giác học trực tuyến và tích hợp năng lực số trong dạy học. Trong đó, sáng kiến về rèn kỹ năng sống cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ văn đã được UBND huyện Mường La nhân rộng áp dụng tại Trường THCS Ít Ong và một số trường trên địa bàn. Không dừng lại ở đó, cô tiếp tục ứng dụng thành công giải pháp tích hợp năng lực số trong giảng dạy môn Ngữ văn cho học sinh lớp 6G năm học 2025 - 2026, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời kỳ chuyển đổi số. Những nỗ lực bền bỉ của cô đã được các Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều danh hiệu cao quý. Năm 2023, cô vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Tháng 4 năm 2026, cô xuất sắc được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Bên cạnh đó là chuỗi thành tích 12 năm liên tục đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở và 4 lần được Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La tặng Bằng khen. Song song với công tác chuyên môn, cô Oanh còn là một đảng viên gương mẫu, có trách nhiệm cao với cộng đồng. Với vai trò Chi ủy viên, cô đã tích cực triển khai phong trào “Thứ Bảy về với nhân dân”, trực tiếp xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể mang lại hiệu quả thiết thực cho địa phương, nhiều năm liền được Đảng ủy cấp trên khen thưởng. Trong các hoạt động phong trào quần chúng, cô đạt giải “Cuộc thi viết giới thiệu điểm du lịch Thủy điện Sơn La” năm 2022 và tích cực tham gia giải chạy vũ trang do địa phương tổ chức. Cô Hoàng Thị Kim Oanh - Thực hiện nhiệm vụ chính trị làm công tác bầu cử tại tổ Bầu cử số 03, xã Mường La Hành trình gần một phần tư thế kỷ gắn bó với giáo dục vùng cao của cô Hoàng Thị Kim Oanh là câu chuyện về lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm và ý chí đổi mới không ngừng. Từ những lớp học còn nhiều khó khăn đến môi trường giáo dục hiện đại, cô luôn giữ vững ngọn lửa nhiệt huyết, tận tâm với học trò, trách nhiệm với đồng nghiệp và tích cực đóng góp cho ngành Giáo dục địa phương. Với những thành tích xuất sắc và sức lan tỏa mạnh mẽ, cô Hoàng Thị Kim Oanh là một tấm gương điển hình tiên tiến tiêu biểu, góp phần làm đẹp thêm hình ảnh người nhà giáo trong thời kỳ đổi mới. Đinh Thùy Vui Phó Trưởng phòng Thi đua, khen thưởng tỉnh Sơn LaĐưa thủ tục hành chính đến gần dân, lan tỏa tinh thần thi đua xây dựng chính quyền thân thiện
BTĐKT - Trong phong trào thi đua yêu nước, cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng nền hành chính phục vụ đang trở thành những nội dung thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống của người dân. Từ yêu cầu đó, nhiều địa phương đã chủ động đổi mới cách làm, đưa dịch vụ công đến gần người dân hơn, nhất là những người cao tuổi, người yếu thế, người còn gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ. Mô hình tuyên truyền và hỗ trợ lưu động nộp hồ sơ thủ tục hành chính của phường Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp) là một cách làm thiết thực, thể hiện tinh thần thi đua vì nhân dân phục vụ. Từ đổi mới cách làm đến gần dân, sát dân Nhằm giảm thời gian, chi phí đi lại cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời xây dựng hình ảnh chính quyền thân thiện. Vừa qua, Ủy ban nhân dân phường Sa Đéc tổ chức ra mắt mô hình tuyên truyền và hỗ trợ lưu động cho người dân, doanh nghiệp và người dân yếu thế thực hiện hồ sơ thủ tục hành chính tại khu phố Sa Nhiên và khu phố Đông Khánh. Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở việc hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính mà còn ở cách chính quyền chủ động “đến với dân”, thay vì chờ người dân phải tìm đến cơ quan hành chính. Đây chính là sự chuyển biến từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, lấy sự thuận tiện và hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả công việc. Cán bộ UBND phường Sa Đéc giới thiệu mô hình tuyên truyền và hỗ trợ lưu động cho người dân, doanh nghiệp và người dân yếu thế thực hiện hồ sơ thủ tục hành chính trên địa bàn phường Theo mô hình, vào thứ Ba và thứ Năm hằng tuần, Trung tâm Phục vụ hành chính công phường phân công công chức đến làm việc tại trụ sở các khu phố để trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục thuộc các lĩnh vực hộ tịch, bảo trợ xã hội, chứng thực và chế độ người có công. Cùng với đó, lực lượng công an phường hỗ trợ người dân thực hiện các thủ tục liên quan đến cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước; thông báo lưu trú, đăng ký tạm trú, thường trú; đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và tích hợp giấy tờ cá nhân vào tài khoản định danh điện tử mức độ 2. Sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường cũng góp phần tạo nên một mô hình có sự phối hợp của nhiều lực lượng. Không chỉ hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính, các đoàn thể còn tuyên truyền, hướng dẫn người dân tiếp cận chuyển đổi số, từng bước hình thành thói quen sử dụng các dịch vụ công trên môi trường điện tử. Thi đua cải cách hành chính từ những việc làm cụ thể Cải cách hành chính nếu chỉ dừng ở việc rút ngắn quy trình, giảm giấy tờ hay ứng dụng công nghệ sẽ chưa đủ. Điều quan trọng hơn là làm sao để người dân thực sự cảm nhận được sự thay đổi trong cách phục vụ của chính quyền. Từ góc độ đó, mô hình của phường Sa Đéc cho thấy một hướng tiếp cận gần gũi: Đưa cán bộ, công chức đến những địa điểm sinh hoạt gần dân, trực tiếp hướng dẫn từng hồ sơ, giải đáp từng vướng mắc. Với người am hiểu công nghệ, việc thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến có thể tương đối đơn giản; nhưng với người cao tuổi, người yếu thế hoặc người chưa quen sử dụng điện thoại thông minh, đây vẫn là một trở ngại không nhỏ. Việc bố trí cán bộ trực tiếp hỗ trợ tại khu phố vì thế không chỉ giúp người dân giảm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ công. Đây là biểu hiện cụ thể của tinh thần thi đua “lấy dân làm trung tâm”, hướng đến mục tiêu mọi người dân đều được tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ hành chính. Mô hình cũng cho thấy hiệu quả của việc huy động sức mạnh tổng hợp trong cải cách hành chính. Cơ quan hành chính, lực lượng công an và các tổ chức đoàn thể cùng tham gia, mỗi lực lượng đảm nhận một phần việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Cách làm này vừa tạo sự thuận tiện cho người dân, vừa phát huy vai trò của các tổ chức trong tuyên truyền, vận động và hỗ trợ cộng đồng. Từng bước mở rộng, nhân rộng cách làm hiệu quả Một điểm đáng ghi nhận là mô hình không dừng lại ở phạm vi thí điểm tại hai khu phố. Sau thời gian hoạt động ổn định, phường Sa Đéc dự kiến mở rộng việc tiếp nhận các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai, xây dựng, đăng ký hoạt động hộ kinh doanh và lưu thông hàng hóa. Công chức, lực lượng công an phường các tổ chức cùng đoàn thể tham gia hỗ trợ người dân thực hiện các thủ tục hành chính Đặc biệt, địa điểm thực hiện mô hình sẽ được luân phiên thay đổi theo chu kỳ ba tháng tại các trụ sở khu phố trên địa bàn phường. Cách làm này nhằm tạo điều kiện để nhiều người dân, doanh nghiệp có thể tiếp cận thủ tục hành chính nhanh chóng, hiệu quả, hạn chế khoảng cách về địa lý và điều kiện tiếp cận dịch vụ công. Đây cũng là điểm có ý nghĩa trong việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng những mô hình hay trong phong trào thi đua yêu nước. Một sáng kiến dù bắt đầu từ quy mô nhỏ nhưng nếu giải quyết được vấn đề thiết thực của người dân, có khả năng duy trì và nhân rộng thì sẽ tạo ra giá trị xã hội lớn hơn. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo Điểm cốt lõi của cải cách hành chính suy cho cùng vẫn là phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Một thủ tục được giải quyết nhanh hơn, một người dân được hướng dẫn tận tình, một trường hợp khó khăn được hỗ trợ kịp thời hay một người cao tuổi có thể hoàn thành hồ sơ mà không phải đi lại nhiều lần - đó chính là những kết quả cụ thể của thi đua cải cách hành chính. Từ mô hình của phường Sa Đéc có thể thấy, thi đua yêu nước không nhất thiết phải bắt đầu từ những việc lớn. Thi đua có thể được thể hiện ngay trong từng nhiệm vụ hằng ngày, bằng tinh thần trách nhiệm, thái độ tận tình, cách làm sáng tạo và sự chủ động của đội ngũ cán bộ, công chức. Khi chính quyền chủ động tìm đến người dân, khi cán bộ sẵn sàng hướng dẫn người dân ngay tại khu phố, khi công nghệ được sử dụng để giảm thủ tục và khi các đoàn thể cùng vào cuộc hỗ trợ chuyển đổi số, khoảng cách giữa chính quyền và nhân dân sẽ ngày càng được rút ngắn. Mô hình tuyên truyền và hỗ trợ lưu động nộp hồ sơ thủ tục hành chính tại phường Sa Đéc vì thế không chỉ là một giải pháp cải cách hành chính, mà còn là một cách làm cụ thể để lan tỏa tinh thần thi đua “vì nhân dân phục vụ”. Từ những việc làm thiết thực, gần gũi và xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân, phong trào thi đua yêu nước tiếp tục được cụ thể hóa trong từng cơ quan, đơn vị, từng địa bàn dân cư; qua đó góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, thân thiện, hiệu lực, hiệu quả và ngày càng gần dân hơn. Xuân PhúcThi đua đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
BTĐKT - Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, Học viện Kỹ thuật Quân sự luôn khẳng định vị thế là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là trường đại học trọng điểm quốc gia. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các phong trào thi đua yêu nước đã trở thành động lực quan trọng để Học viện không ngừng đổi mới, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới giáo dục - đào tạo, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho quân đội và đất nước Những năm qua, đặc biệt trong giai đoạn 2016 đến nay, nhất quán phương châm "Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị", Học viện đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Không chỉ mở rộng quy mô đào tạo, Học viện còn tập trung đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, lấy nghiên cứu làm nền tảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới. Học viện Kỹ thuật Quân sự vinh dự nhiều lần được đón các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đến thăm và làm việc Thực hiện Đề án đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ kỹ thuật các cấp trong quân đội, Học viện đã hoàn thiện quy hoạch hệ thống ngành, chuyên ngành đào tạo theo định hướng trường đại học nghiên cứu; chủ động mở nhiều ngành học mới thuộc các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin, khoa học dữ liệu, tự động hóa chỉ huy… Đồng thời, tham mưu đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực lượng tử, nguyên tử và địa vật lý. Đây đều là những lĩnh vực giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng hiện đại cũng như nền kinh tế tri thức của đất nước. Song song với đổi mới chương trình đào tạo, Học viện xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, triển khai tự đánh giá chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn AUN, xây dựng mạng lưới bảo đảm chất lượng đồng bộ từ cấp Học viện đến từng đơn vị. Chất lượng đào tạo ngày càng được khẳng định thông qua thành tích nổi bật tại các kỳ thi Olympic trong nước và quốc tế ở nhiều lĩnh vực như toán học, tin học, vật lý, cơ học, hóa học, ngoại ngữ... Hiệu quả của phong trào thi đua đổi mới giáo dục được thể hiện bằng những con số ấn tượng. Từ năm 2016 đến nay, Học viện đã đào tạo hàng trăm tiến sĩ, hàng nghìn thạc sĩ, kỹ sư quân sự, kỹ sư dân sự cùng nhiều cán bộ kỹ thuật phục vụ các quân, binh chủng ( 202 tiến sĩ, 2.404 thạc sĩ, 3.057 học viên kỹ sư quân sự, 694 học viên hệ liên thông đại học, 263 học viên hệ văn bằng 2, 2.216 học viên đào tạo theo chức vụ ngắn hạn, 1.785 học viên đào tạo theo chức vụ dài hạn). Đội ngũ học viên tốt nghiệp đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, đủ khả năng khai thác, làm chủ và nghiên cứu phát triển các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nhiều cựu học viên đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh quân đội và các chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Không chỉ đào tạo cán bộ cho quân đội, Học viện còn có đóng góp quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc được Bộ Quốc phòng cho phép tuyển sinh nhiều ngành dân sự thuộc các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch, công nghệ bán dẫn, an toàn thông tin... tiếp tục khẳng định uy tín và năng lực đào tạo của Học viện trong hệ thống giáo dục đại học quốc gia. Lá cờ đầu trong nghiên cứu khoa học phục vụ quốc phòng, an ninh và phát triển đất nước Nếu giáo dục - đào tạo là nền tảng thì nghiên cứu khoa học chính là lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất tinh thần thi đua sáng tạo của Học viện Kỹ thuật Quân sự. Tính riêng trong gần một thập kỷ trở lại đây, Học viện luôn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu nghiên cứu khoa học. Hàng nghìn nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai (mở mới/nghiệm thu 1.374/1.438 nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp); hàng nghìn bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí trong nước và quốc tế (5.826 bài báo trong nước, 3.936 bài báo quốc tế); nhiều sáng chế, giải pháp hữu ích, sáng kiến cải tiến kỹ thuật được bảo hộ và ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn (17 văn bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích, 122 sáng kiến cải tiến kỹ thuật). Nhiều công trình đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam, Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội cùng nhiều giải thưởng uy tín khác. Nghiên cứu khoa học là phong trào thi đua nổi bật, được triển khai hiệu quả, sôi nổi tại Học viện Kỹ thuật Quân sự Điều đáng ghi nhận là các kết quả nghiên cứu của Học viện không dừng lại ở giá trị học thuật mà trực tiếp giải quyết những bài toán cấp thiết của thực tiễn quân sự, quốc phòng. Từ cải tiến, hiện đại hóa các hệ thống radar, tên lửa, pháo tự hành, thiết bị huấn luyện, trường bắn điện tử đến nghiên cứu, chế tạo nhiều loại vũ khí, khí tài, đạn dược thế hệ mới… các nhà khoa học của Học viện đã từng bước làm chủ nhiều công nghệ lõi, góp phần nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ quốc phòng của Việt Nam. Đặc biệt, nhiều sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đã tạo dấu ấn mạnh mẽ như hệ thống điều khiển hỏa lực tích hợp AI, thiết bị chế áp flycam, các hệ thống giám sát an ninh thông minh, robot phục vụ giáo dục, phần mềm kiểm phiếu bầu cử, hệ thống quản lý biên giới... Không chỉ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, nhiều sản phẩm còn được ứng dụng rộng rãi trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng công an và địa phương, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia. Trong giai đoạn đại dịch COVID-19, tinh thần thi đua vì cộng đồng của đội ngũ cán bộ, nhà khoa học Học viện tiếp tục được khẳng định. Bất chấp nguy hiểm, nhiều nhà khoa học đã trực tiếp vào tâm dịch để nghiên cứu, chế tạo robot y tế, buồng khử khuẩn, cáng áp lực âm, lò hỏa táng và nhiều thiết bị y tế khác phục vụ phòng, chống dịch, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và lực lượng tuyến đầu. Những sản phẩm ấy không chỉ thể hiện trình độ khoa học công nghệ mà còn phản ánh trách nhiệm xã hội, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ - nhà khoa học quân đội. Hoạt động nghiên cứu của Học viện còn góp phần giải quyết nhiều vấn đề phục vụ phát triển kinh tế - xã hội như xây dựng công trình biển đảo, bảo vệ môi trường, phát triển vật liệu mới, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Điều đó cho thấy giá trị lan tỏa của khoa học quân sự đối với sự phát triển chung của đất nước. Mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện Bên cạnh giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, Học viện luôn coi hợp tác quốc tế là một trong những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và hội nhập. Trong nhiều năm qua, Học viện đã đào tạo hàng trăm cán bộ kỹ thuật cho Quân đội nhân dân Lào và Quân đội Hoàng gia Campuchia, góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam với các nước láng giềng, đồng thời nâng cao vị thế của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. Học viện Kỹ thuật Quân sự luôn là lá cờ đầu trong các phong trào thi đua yêu nước Song hành với nhiệm vụ chuyên môn, Học viện luôn chú trọng xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn cao; đẩy mạnh các phong trào thi đua quyết thắng gắn với thực hiện các cuộc vận động lớn của quân đội. Việc duy trì nhiều năm liền danh hiệu đơn vị vững mạnh toàn diện "Mẫu mực, tiêu biểu" là minh chứng sinh động cho hiệu quả của phong trào thi đua trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Học viện. Gần 60 năm xây dựng và phát triển, với những đóng góp đặc biệt xuất sắc trong giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và xây dựng đơn vị, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng nhiều huân chương cao quý của Việt Nam, Lào và Campuchia. Những thành tựu ấy là kết quả của quá trình bền bỉ đổi mới, sáng tạo và thi đua không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu hiện đại hóa quân đội đặt ra những nhiệm vụ mới, Học viện tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ chiến lược, xứng đáng là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự hàng đầu của đất nước, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mai ThảoHơn 40 năm nghĩa tình tìm đồng đội - Tấm gương sáng của người bác sĩ, cựu chiến binh
BTĐKT - Ở tuổi 82, bác sĩ, cựu chiến binh Trần Văn Bản, Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn miệt mài trở lại những chiến trường xưa để tìm kiếm đồng đội. Hơn 40 năm qua, bằng trách nhiệm và nghĩa tình sâu nặng, ông đã góp phần tìm kiếm, xác định vị trí, quy tập hài cốt liệt sĩ, giúp nhiều gia đình tìm lại người thân đã hy sinh vì Tổ quốc. Việc làm thầm lặng ấy là biểu hiện sinh động của tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, phẩm chất bộ đội Cụ Hồ và là tấm gương tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước. Giữ trọn lời hẹn với đồng đội Sinh ra và trưởng thành trong những năm tháng chiến tranh, bác sĩ Trần Văn Bản từng trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam. Chứng kiến nhiều đồng chí, đồng đội ngã xuống, ông luôn canh cánh một lời hẹn: Khi đất nước hòa bình, sẽ tìm cách đưa những người đã hy sinh trở về với gia đình. Bác sĩ Trần Văn Bản (bên phải) cùng ôn lại kỷ niệm lưu giữ trong kỷ vật của các đồng đội Sau ngày đất nước thống nhất, lời hẹn ấy trở thành động lực để ông bắt đầu hành trình tìm kiếm đồng đội. Từ năm 1979 đến nay, ông nhiều lần trở lại các chiến trường cũ, tìm kiếm thông tin, xác định vị trí an táng và hỗ trợ quy tập hài cốt liệt sĩ. Những ngày đầu, công việc gặp nhiều khó khăn do phương tiện thiếu thốn, thông tin thất lạc, địa hình thay đổi. Không nản lòng, ông chủ động thu thập tư liệu, tìm gặp nhân chứng, khảo sát thực địa và đối chiếu từng thông tin để lần tìm dấu tích đồng đội. Khi còn là bác sĩ quân y, ông đã lưu giữ thông tin về những đồng đội hy sinh. Họ tên, quê quán và những dữ liệu cần thiết được ông ghi trên giấy, đặt trong lọ Penicillin rồi chôn cùng liệt sĩ. Những ghi chép ấy về sau trở thành nguồn tư liệu quý, hỗ trợ xác định danh tính, quê quán của nhiều liệt sĩ. Hành trình của nghĩa tình Hơn 40 năm qua là hành trình của những chuyến đi, khảo sát địa hình, gặp gỡ nhân chứng và lần tìm từng dấu tích chiến tranh. Với bác sĩ Trần Văn Bản, mỗi thông tin tìm được đều có thể mở ra cơ hội để một gia đình được đón người thân trở về. Ông đã góp phần tìm kiếm, quy tập và lập sơ đồ vị trí cho hơn 2.000 liệt sĩ; trực tiếp đưa hơn 50 bộ hài cốt liệt sĩ trở về với gia đình; đồng thời hỗ trợ, kết nối thân nhân để tiếp nhận hơn 300 bộ hài cốt liệt sĩ. Một dấu ấn nổi bật là đợt tìm kiếm tại khu vực phường 15, quận Tân Bình trước đây vào tháng 5/1994. Tại đây, ông tham gia, chủ trì xác định vị trí và đưa 43 hài cốt liệt sĩ hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 lên từ 13 hố giếng sâu. Sau nhiều thập kỷ, những người lính năm xưa đã có cơ hội trở về với quê hương, gia đình. Đằng sau mỗi con số là một gia đình, một nỗi mong chờ kéo dài nhiều năm. Vì thế, công việc ông theo đuổi không đơn thuần là tìm kiếm hài cốt, mà còn là hành trình nối lại những mạch nguồn ký ức, giúp thân nhân liệt sĩ vơi đi phần nào nỗi đau và sự chờ đợi. Tiếp tục cống hiến Điều đáng quý ở bác sĩ Trần Văn Bản không chỉ là những kết quả đạt được mà còn ở tinh thần trách nhiệm được ông duy trì bền bỉ đến hôm nay. Trong chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, dù tuổi cao, ông vẫn phối hợp, hỗ trợ Đội quy tập của Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh; tham gia phân loại mẫu hài cốt, cung cấp thông tin, tư liệu và kinh nghiệm phục vụ công tác chuyên môn. Với ông, khi còn sức khỏe, còn nhớ thông tin về đồng đội thì còn phải tiếp tục làm. Sự tận tâm ấy thể hiện rõ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ: Luôn đặt nghĩa tình đồng đội, trách nhiệm với Tổ quốc và cộng đồng lên trên lợi ích riêng. Không chỉ tìm kiếm đồng đội đã hy sinh, ông còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Cùng các cựu chiến binh, ông góp sức chăm lo đời sống đồng đội, hỗ trợ phát triển kinh tế, xây dựng nhà tình nghĩa, góp công xây dựng bia tưởng niệm liệt sĩ; đồng thời tham gia khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho người dân có hoàn cảnh khó khăn tại những địa bàn từng là chiến khu. Những việc làm ấy tạo thành một mạch xuyên suốt: Sống có trách nhiệm, biết tri ân quá khứ và hướng những việc làm cụ thể đến cộng đồng. Bác sĩ Trần Văn Bản cùng cơ quan chức năng lấy mẫu của hài cốt liệt sĩ tìm thấy tại công viên Lê Thị Riêng để gửi đi xét nghiệm ADN Một trong những dấu ấn đáng nhớ trong hành trình tri ân đồng đội của bác sĩ Trần Văn Bản là việc tham gia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng các cán bộ, chiến sĩ và lực lượng tìm kiếm, ông trực tiếp tham gia khảo sát, xác định vị trí, cung cấp thông tin và kinh nghiệm thực tế để phục vụ quá trình tìm kiếm những người lính đã hy sinh trong chiến tranh. Với ông, mỗi cuộc tìm kiếm không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là sự trở về với ký ức của một thời chiến đấu. Những dấu tích được tìm thấy tại nơi từng diễn ra chiến sự là cơ sở để đưa các liệt sĩ về với đồng đội, quê hương và gia đình. Hình ảnh người bác sĩ, cựu chiến binh tuổi cao vẫn có mặt tại hiện trường, cùng cán bộ, chiến sĩ thực hiện công việc tìm kiếm, một lần nữa cho thấy sự bền bỉ, trách nhiệm và nghĩa tình sâu nặng của ông đối với những đồng đội đã hy sinh. Lan tỏa giá trị thi đua yêu nước Trong phong trào thi đua yêu nước, những điển hình tiên tiến có sức thuyết phục không chỉ bởi thành tích mà còn bởi sự bền bỉ, tự nguyện và những giá trị nhân văn được lan tỏa từ việc làm hằng ngày. Bác sĩ, cựu chiến binh Trần Văn Bản là một tấm gương như vậy. Hơn 40 năm kiên trì tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, ông đã góp phần tri ân những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; hỗ trợ nhiều gia đình tìm lại người thân và cung cấp những tư liệu có giá trị cho công tác chuyên môn. Qua đó, ông góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và nâng cao trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì đất nước. Bác sĩ Trần Văn Bản cùng các cán bộ chiến sĩ tham gia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng Tấm gương bác sĩ Trần Văn Bản cho thấy thi đua yêu nước không nhất thiết bắt đầu từ những việc lớn lao. Đó có thể là sự tận tụy với công việc, giữ lời hứa với đồng đội, không quên những người đã nằm lại nơi chiến trường và chung tay chăm lo cho những hoàn cảnh khó khăn. Khi những việc làm tốt được duy trì bằng trách nhiệm và tình cảm chân thành, chúng sẽ tạo nên sức lan tỏa lâu dài trong cộng đồng. Ở tuổi 82, hành trình của bác sĩ, cựu chiến binh Trần Văn Bản vẫn tiếp tục. Những bước chân trở lại chiến trường xưa có thể chậm hơn, nhưng nghĩa tình với đồng đội vẫn nguyên vẹn. Ông là hình ảnh đẹp về người lính sau chiến tranh: Trở về với cuộc sống đời thường nhưng chưa bao giờ quên những người đã nằm lại. Với tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái và nghĩa tình đồng đội sâu sắc, bác sĩ Trần Văn Bản xứng đáng là tấm gương tiêu biểu về phẩm chất bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới; là điển hình tiên tiến góp phần lan tỏa phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và phong trào thi đua yêu nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Câu chuyện của ông nhắc nhở mỗi người hôm nay rằng: Tri ân không chỉ nằm ở lời nói, mà cần được thể hiện bằng những hành động thiết thực, bền bỉ và đầy trách nhiệm. Xuân PhúcBTĐKT - Trong phong trào thi đua yêu nước, việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và sức mạnh đoàn kết của toàn xã hội. Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, hòa thượng Thạch Hà, Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Cà Mau, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Cà Mau, là điển hình tiêu biểu đã và đang góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào Khmer, đồng hành cùng sự phát triển của quê hương.
Trưởng lão hòa thượng Thích Thiện Pháp (bên phải) trao Bằng tuyên dương công đức đến hòa thượng Thạch Hà
Là người có uy tín lớn trong đồng bào dân tộc Khmer và tăng ni, phật tử, nhiều năm qua hòa thượng Thạch Hà luôn phát huy vai trò nêu gương của một chức sắc tôn giáo, tận tụy với công việc, gần gũi với nhân dân và tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước do Đảng, Nhà nước và địa phương phát động. Dù ở bất kỳ cương vị nào, hòa thượng cũng luôn lấy lợi ích của cộng đồng làm mục tiêu phấn đấu, góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa đạo và đời, giữa tôn giáo với chính quyền và nhân dân.
Trong công tác tuyên truyền, hòa thượng đặc biệt chú trọng vận động tăng ni, phật tử và đồng bào dân tộc Khmer thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với phương châm “sống tốt đời, đẹp đạo”, hòa thượng thường xuyên lồng ghép nội dung tuyên truyền trong các buổi thuyết pháp, sinh hoạt tôn giáo, giúp bà con nâng cao nhận thức về trách nhiệm công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Không chỉ tuyên truyền những giá trị đạo đức tốt đẹp của Phật giáo, hòa thượng còn kiên trì định hướng nhận thức cho tăng ni, phật tử trước những luận điệu xuyên tạc, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo của các thế lực xấu. Bằng uy tín và sự thuyết phục, hòa thượng giúp đồng bào hiểu rõ chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, củng cố niềm tin của đồng bào đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, nhất là vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Song hành với công tác tuyên truyền là những hoạt động an sinh xã hội đầy ý nghĩa. Với quan điểm phụng sự đạo pháp gắn liền với phụng sự dân tộc, hòa thượng luôn quan tâm chăm lo đời sống của người nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, học sinh vượt khó, người già neo đơn và các gia đình chính sách. Hòa thượng đã tích cực vận động các tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm, tăng ni và phật tử chung tay thực hiện nhiều chương trình từ thiện, nhân đạo, góp phần chia sẻ khó khăn với cộng đồng.
Trưởng lão hòa thượng Thích Thiện Pháp trao Quyết định chuẩn y Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Cà Mau đến hòa thượng Thạch Hà
Trong giai đoạn 5 năm gần đây, hòa thượng đã vận động nguồn lực xã hội thực hiện các hoạt động an sinh với tổng kinh phí trên 3 tỷ đồng. Nguồn kinh phí này được sử dụng để hỗ trợ xây dựng nhà ở, trao học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, chăm lo người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ đồng bào dân tộc và nhiều hoạt động nhân đạo khác. Những việc làm thiết thực ấy không chỉ mang lại giá trị vật chất mà còn lan tỏa tinh thần tương thân tương ái, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt.
Điều đáng quý ở hòa thượng Thạch Hà là sự tận tâm và bền bỉ trong mọi hoạt động. Với hòa thượng, mỗi việc làm dù lớn hay nhỏ đều hướng đến mục tiêu phụng sự cộng đồng, giúp người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính lối sống giản dị, gần gũi và trách nhiệm đã tạo nên uy tín sâu rộng trong đồng bào dân tộc Khmer cũng như tăng ni, phật tử trên địa bàn tỉnh.
Không chỉ là một chức sắc tôn giáo mẫu mực, hòa thượng còn là cầu nối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền với đồng bào dân tộc, tôn giáo. Những ý kiến đóng góp của hòa thượng luôn xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo tại địa phương. Thông qua các hoạt động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước, hòa thượng tích cực vận động tăng ni tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự và xây dựng đời sống văn hóa.
Những kết quả đạt được của hòa thượng Thạch Hà là minh chứng sinh động cho hiệu quả của phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào các dân tộc và tôn giáo. Bằng tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái và sự cống hiến không ngừng nghỉ, hòa thượng đã góp phần tạo dựng niềm tin, tăng cường sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau.
Với những đóng góp nổi bật, hòa thượng Thạch Hà đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau tặng Bằng khen vào các năm 2021 và 2023; được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc tặng Bằng khen năm 2023. Những phần thưởng cao quý không chỉ ghi nhận quá trình cống hiến bền bỉ của cá nhân hòa thượng mà còn khẳng định vai trò quan trọng của các chức sắc tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn cả nước tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước theo tinh thần đổi mới, sáng tạo và phát triển bền vững, những tấm gương như hòa thượng Thạch Hà có ý nghĩa đặc biệt. Đó là hình ảnh đẹp của người chức sắc tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, tích cực chăm lo đời sống nhân dân và góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Từ những việc làm bình dị nhưng giàu ý nghĩa, hòa thượng đã lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc, truyền cảm hứng để nhiều tập thể, cá nhân tiếp tục hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, chung sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh.
Xuân Phúc

















