Xây dựng nông thôn mới

Chương trình OCOP là một chương trình phát triển kinh tế nông thôn trọng tâm

TĐKT - Sáng 23/3, Hội nghị tổng kết Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018-2020 diễn ra tại Hà Nội. Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chủ trì Hội nghị. Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng phát biểu tại Hội nghị Hội nghị nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn, tồn tại, vướng mắc trong triển khai Chương trình OCOP gần 3 năm qua, đồng thời xác định những định hướng, mục tiêu của giai đoạn 2021 - 2025, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của đất nước, những thách thức và cơ hội mới đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đến nay, 63/63 tỉnh, thành đã triển khai Chương trình OCOP; 59/63 tỉnh, thành tổ chức đánh giá xếp hạng sản phẩm. 2.439 tổ chức kinh tế tham gia sản xuất sản phẩm OCOP được xếp hạng, trong đó khu vực kinh tế tư nhân chiếm 59% (27,5% là doanh nghiệp), còn lại là kinh tế tập thể, hợp tác xã chiếm 41%. Sản phẩm OCOP được phát triển đa dạng theo 6 nhóm (thực phẩm; đồ uống; thảo dược; vải - may mặc; lưu niệm - nội thất - trang trí; du lịch) không chỉ là sinh kế của người dân, mà còn là con đường phát triển kinh tế đa dạng, phát huy lợi thế, tính đặc sắc và văn hóa của mỗi một địa phương từ xã, đến huyện, đến tỉnh. Trong thời gian qua, nhất là trong thời điểm dịch COVID-19, sản phẩm OCOP đã được cung ứng rất tốt cho thị trường, có sự tăng trưởng về doanh thu và giá bán, là minh chứng về tiềm năng, hiệu quả của Chương trình OCOP. Bên cạnh những địa phương thực hiện Chương trình có chiều sâu như tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hà Nội cả khu vực 3 Tây (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) đều có những địa phương tích cực triển khai nhanh chóng và hiệu quả. Điều này cho thấy sự phù hợp của Chương trình trong phát triển sản xuất, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở khu vực còn khó khăn này. Một thành công quan trọng nữa của Chương trình OCOP là công tác xúc tiến thương mại được các bộ, ngành, địa phương triển khai rất tích cực và hiệu quả. Bộ Công thương đã nhanh chóng ban hành quyết định quy chuẩn trung tâm/điểm bán hàng OCOP, giúp cho cả nước có trên 142 trung tâm/điểm bán hàng OCOP. Hội chợ, triển lãm OCOP cấp tỉnh, khu vực với hơn 10.000 gian hàng dần trở thành thương hiệu địa phương và điểm đến của du lịch. Hệ thống bán lẻ hiện đại trong toàn quốc (các trung tâm thương mại lớn như hệ thống Central Retail, Saigon Co.op, Mega Market...) đã tích cực tham gia tiêu thụ các sản phẩm OCOP. Đáng chú ý, trong bối cảnh mới triển khai, thời gian rất ngắn so với quốc tế, Việt Nam đã có đề xuất và thúc đẩy Sáng kiến mạng lưới kết nối quốc tế về phong trào OCOP/OVOP/OTOP trong phát triển ngành nghề nông thôn khối ASEAN và một số nước triển khai Phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP), được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng ghi nhận và biểu dương những kết quả tích cực Chương trình OCOP đã đạt được trong thời gian qua. Bên cạnh những kết quả nổi bật, Phó Thủ tướng nêu rõ, Chương trình OCOP còn bộc lộ một số tồn tại. Sự chủ động vào cuộc ở một số địa phương còn hạn chế. Một số địa phương lại có biểu hiện chạy theo thành tích, chưa đi vào thực chất, đặc biệt là chưa dựa vào lợi thế, thế mạnh của các sản phẩm đặc trưng. Nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm đến các giải pháp hỗ trợ thực chất đối với chủ thể OCOP, đặc biệt là nâng cao năng lực về tổ chức, quản trị, chế biến và thương mại sản phẩm. Nhiều sản phẩm chỉ quan tâm đến mẫu mã, bao bì, chưa chú trọng vào yếu tố chất lượng, đặc biệt là gắn với thị hiếu người tiêu dùng. Công tác xúc tiến thương mại còn manh mún, thiếu đồng bộ, chưa tạo được điểm nhấn nổi trội và đặc sắc để tạo hình ảnh, thay đổi nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm OCOP, thương hiệu OCOP Việt Nam. Năng lực của các tổ chức kinh tế OCOP còn khiêm tốn nên việc quản trị, phát triển chuỗi giá trị gắn với vùng nguyên liệu địa phương của các sản phẩm OCOP còn gặp khó khăn. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, việc đẩy mạnh chương trình OCOP có vai trò quan trọng, là hạt nhân để đẩy mạnh các sản phẩm có chất lượng cao, khối lượng lớn, có giá trị gia tăng cao; từ đó thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế nông thôn, đời sống người dân ở nông thôn sẽ cải thiện. Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, muộn nhất vào tháng 6/2021. "Trong đó, phải tiếp tục xác định Chương trình OCOP là một chương trình phát triển kinh tế nông thôn trọng tâm, cần được ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. Phải xác định đây là chương trình mang tính dài hạn" - Phó Thủ tướng nhấn mạnh. Phó Thủ tướng đề nghị tập trung đầu tư phát triển 6 nhóm sản phẩm đã được xác định, trong đó lưu ý những sản phẩm có lợi thế, đặc trưng của địa phương, gắn với yếu tố văn hóa, con người ở mỗi khu vực, vùng miền, dân tộc để phục vụ phát triển kinh tế. Trong quá trình triển khai, Phó Thủ tướng lưu ý, tuyệt đối không được làm theo phong trào, để xảy ra tình trạng "xuê xoa" trong quá trình thẩm định, đánh giá, công nhận sản phẩm OCOP, làm ảnh hưởng tiêu cực đến thương hiệu của các sản phẩm OCOP khác. Theo Phó Thủ tướng, cần chú trọng phát triển các loại hình tổ chức kinh tế tham gia Chương trình OCOP. Trong đó, cần ưu tiên hỗ trợ một cách thực chất hơn, đặc biệt là các hợp tác xã, doanh nghiệp, phát huy vai trò đầu tàu trong các chuỗi giá trị sản phẩm OCOP. Đối với đề xuất, kiến nghị của các bộ, ngành, địa phương, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, tiếp thu để tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành Trung ương có liên quan, xây dựng Chương trình OCOP giai đoạn 2021 - 2025. Nguyệt Hà  

Hội Nông dân tỉnh Yên Bái: Đồng hành cùng nông dân phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới

TĐKT  - Trong những năm qua bức tranh nông nghiệp, nông thôn và đời sống người nông dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã có nhiều đổi thay rõ rệt. Phong trào xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai sâu rộng, góp phần phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho hội viên nông dân. Tính đến 30/10/2020, đã có 4 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới toàn tỉnh lên 67 xã, chiếm 44,6% tổng số xã toàn tỉnh. Qua đó, vai trò của các cấp Hội Nông dân trong tỉnh ngày càng được khẳng định, người nông dân phát huy ngày càng rõ nét vai trò chủ thể trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Gặp mặt đầu xuân các lãnh đạo, cán bộ Hội Nông dân tỉnh qua các thời kỳ Trong năm 2020, dịch bệnh Covid-19 và diễn biến thời tiết khắc nghiệt, cực đoan đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của người dân. Song dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc tích cực của các cấp Hội Nông dân với các giải pháp đồng bộ, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đảm bảo kế hoạch đề ra. Các dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm như dịch tai xanh, lở mồm long móng, dịch tả lợn châu Phi, cúm gia cầm được khống chế. Hoạt động nổi bật của Hội Nông dân tỉnh trong năm qua là tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”. Cụ thể, các cấp Hội đã phát động và tổ chức cho hội viên nông dân đăng ký thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi năm 2020. Kết quả đã có 62.269 hộ hội viên đăng ký. Tập trung nguồn lực, vận động cán bộ, hội viên nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nông, lâm nghiệp, phòng trừ sâu bệnh; sản xuất hàng hóa theo hướng đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường. Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, các cấp Hội đã phối hợp với các ngành, doanh nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân vay vốn, cung ứng vật tư phân bón trả chậm, tập huấn khoa học kỹ thuật, xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ, “liên kết” theo hình thức kinh tế tập thể hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT) sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm gắn với bảo vệ môi trường, tăng năng suất, chất lượng vật nuôi cây trồng, tăng thu nhập cho nông dân. Bước đầu đã hình thành vùng sản xuất tập trung chuyên canh, điển hình như: Mô hình trồng lúa nếp 87, tẻ đỏ, nuôi lợn thương phẩm của Hội Nông dân xã Hát Lừu; mô hình nuôi dê ở xã Xà Hồ, xã Bản Công, vùng chuyên canh trồng ngô trên đất nương đồi ở xã Trạm Tấu, Pá Hu, Tà Xi Láng, vùng trồng cây Sơn tra tại các xã Xà Hồ, Bản Công, Bản Mù, Tà Xi Láng, Làng Nhì; các tổ hợp tác chăn nuôi gà địa phương, gà đen... (huyện Trạm Tấu); Mô hình trồng lúa chất lượng cao tại xã Nghĩa Lợi; mô hình chăn nuôi thủy sản xã Phù Nham; mô hình nuôi dê sinh sản xã Nghĩa Phúc; mô hình trồng ớt ngọt xã Thanh Lương, xã Phù Nham; mô hình trồng nấm rơm phường Tân An... (thị xã Nghĩa Lộ). Cùng với đó, đã xuất hiện nhiều mô hình, tấm gương nông dân nghèo vươn lên làm giàu. Điển hình như gia đình ông: Thào A Chú, bản Pú Nhu Háng Sung với mô hình chăn nuôi vịt đẻ trứng; Chang Thị Ca, bản Nả Háng Tủa Chử, xã Púng Luông với mô hình chăn nuôi gà đen địa phương, gà đẻ trứng; Sùng Chứ Cớ, bản Pú Cang, xã Nậm Khắt với mô hình chế biến chè Shan tuyết; mô hình nuôi lợn của hội viên Nguyễn Hữu Dũng ở thị trấn Mù Cang Chải...; mô hình nuôi dê của hội viên Mùa A Câu ở xã Mồ Dề, mô hình nuôi ong của hội viên Hảng A Lẩu ở xã Dế Xu Phình; mô hình nuôi trâu bò của hội viên Vừ A Tủa ở xã Hồ Bốn… (huyện Mù Cang Chải); hộ hội viên Dương Thị Lan - xã Tân Lập tiêu biểu, sáng tạo, đột phá trong sản xuất, kinh doanh giỏi với mô hình sản xuất - kinh doanh tổng hợp; mô hình trồng cây cam Vinh của hộ Hoàng Trọng Sắc - xã Mường Lai, nuôi thỏ thương phẩm của hộ Nông Đức Ái tại xã Mường Lai; ông Quốc Việt Hùng ở xã Khánh Thiện; mô hình nuôi gà thương phẩm sạch của hộ Mông Văn Sư, thôn Bến Muỗm, xã Vĩnh Lạc, mô hình nuôi vịt bầu của ông Lý Phương Nhẫn, xã Lâm Thượng… (huyện Lục Yên). Đồng chí Giàng A Câu - Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh thăm mô hình trồng cây lá khôi tại huyện Yên Bình Tích cực hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau” do Thủ tướng Chính phủ phát động và phát huy tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, các cấp Hội đã phối hợp tổ chức thăm hỏi, động viên, tặng quà cho các hộ gia đình chính sách, hộ hội viên gặp thiên tai. Đến nay, các cấp Hội đã vận động quyên góp được 727,87 triệu đồng, 7.094 ngày công, vật tư, con giống hỗ trợ, giúp đỡ 156 hộ nghèo làm nhà và phát triển kinh tế hộ; phối hợp với các ngành, vận động tương trợ, giúp đỡ hộ hội viên nông dân nghèo về giống, vốn, kinh nghiệm sản xuất để vươn lên thoát nghèo. Điển hình như: Hội Nông dân các cơ sở huyện Trấn Yên đã giúp đỡ 112 hộ tổng số tiền 587 triệu đồng, 770 ngày công lao động, hỗ trợ cây con giống trị giá 185 triệu đồng; Hội Nông dân thị xã Nghĩa Lộ đã vận động, giúp đỡ 44 hội viên nông dân thoát nghèo; Hội Nông dân huyện Yên Bình vận động hỗ trợ xóa nhà tạm cho 2 hộ hội viên nông dân... Với tinh thần cả nước chung tay đẩy lùi bệnh dịch Covid-19, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã trực tiếp và phối hợp quyên góp, ủng hộ trên 900 triệu đồng tiền mặt. Trong đó, cán bộ, công chức tổ chức Hội các cấp ủng hộ tối thiểu 1 ngày lương. Phối hợp vận động quyên góp các nhu yếu phẩm gồm: Trên 135.000 khẩu trang; 2.920 chai nước sát khuẩn; 500 mũ chắn giọt bắn; 500 bánh xà phòng. Vận động quyên góp lương thực, thực phẩm gồm: Trên 6,8 tấn gạo; 3,5 tấn thực phẩm gồm rau củ, thịt, cá…; 235 thùng mỳ tôm; hàng nghìn quả trứng; hàng trăm hộp sữa... Hội viên nông dân xuống đồng gieo cấy vụ Xuân Hè 2021 Cùng với phát triển kinh tế, các cấp hội đã vận động 96.864 hộ nông dân đăng ký xây dựng gia đình văn hóa. Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân tích cực tham gia thực hiện các tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới bằng những việc làm cụ thể như tuyên truyền vận động hội viên nông dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nếp sống văn hóa ở nông thôn; tham gia xây dựng gia đình văn hóa, bản làng văn hóa, xã văn hóa, thực hiện và đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Không để truyền đạo trái phép, không để cho con em bỏ học; duy trì hoạt động của các câu lạc bộ. Hội Nông dân tỉnh phối hợp tổ chức 3 hội nghị tập huấn tuyên truyền xây dựng nông thôn mới năm 2020 cho 180 học viên là Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Chi Hội trưởng Hội Nông dân thị xã Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn, huyện Trạm Tấu. Thực hiện Chương trình hành động 190-CTr/TU, ngày 26/11/2019 của Tỉnh ủy Yên Bái về thực hiện Kết luận số 63-KL/TU ngày 18/10/2019 của BCH Trung ương Đảng khóa XII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 27 BCH Đảng bộ tỉnh về thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh năm 2020; Kế hoạch 86-KH/HNDT, ngày 03/01/2020 của Hội Nông dân tỉnh, ngay từ đầu năm, Tỉnh Hội đã ban hành các văn bản, hướng dẫn thực hiện Chương trình hành động 190-CTr/TU; nhất là các chỉ tiêu khó như về thu hút doanh nghiệp/nhà đầu tư, thực hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)... Đồng thời chỉ đạo Hội Nông dân các huyện, thị, thành phố chủ động phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế cấp huyện tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp/đơn vị hoàn thiện hồ sơ đăng ký sản phẩm chuẩn hóa OCOP; hàng tháng xây dựng báo cáo kết quả triển khai thực hiện Chương trình hành động 190-CTr/TU theo quy định. Kết quả đã có 10/10 chỉ tiêu được giao theo Chương trình hành động 190 đạt và vượt. Phát huy những kết quả đã đạt được, trong năm 2021, Hội Nông dân tỉnh tiếp tục thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân các cấp và Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân Việt Nam toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 - 2023; vận động nông dân phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững... Thu Phương

Diện mạo nông thôn mới huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

TĐKT  - Xuất phát là một huyện miền núi với mặt bằng phát triển dưới mức trung bình của tỉnh Lâm Đồng, qua 10 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, diện mạo nông thôn huyện Đạ Tẻh có nhiều đổi mới rõ rệt, khang trang, sạch đẹp, văn minh, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng truyền thống của mỗi vùng miền. Ngày 12/1/2021, huyện Đạ Tẻh đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019. Huyện Đạ Tẻh được thành lập theo Quyết định số 67-HĐBT ngày 6/6/1986 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), trên cơ sở chia tách ra từ huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Sau Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, thực hiện chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phân bổ dân cư, nhân dân các tỉnh Hà Tây (cũ), Nam Định, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế vào nơi đây xây dựng vùng kinh tế mới, cùng với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tại chỗ hàn gắn vết thương chiến tranh; sau năm 1980, một bộ phận bà con dân tộc các tỉnh biên giới phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn vào đây lập nghiệp. Do đó, dân cư nơi đây có sắc thái văn hóa phong phú đa dạng, đậm đà bản sắc các dân tộc Việt Nam; đặc biệt có ý chí và quyết tâm cao trong học tập, lao động để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Qua 30 năm thành lập, với sự quyết tâm xây dựng và phát triển địa phương, năm 2016, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Đạ Tẻh đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.   Đoàn viên, thanh niên huyện Đạ Tẻh đảm nhận nhiệm vụ thu gom, phân loại rác (Theo Ban Tuyên giáo huyện Đạ Tẻh) Năm 2010, khi bắt tay vào triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới, toàn huyện chỉ có 5 xã thuộc diện xã nghèo và xã đặc biệt khó khăn; bình quân mỗi xã đạt 3,3 tiêu chí xã nông thôn mới, chủ yếu đạt chuẩn tiêu chí bưu điện và an ninh trật tự; hầu hết các tiêu chí về kết cấu hạ tầng và sản xuất không đạt chuẩn; địa bàn các xã trải dài, kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển chậm, đầu tư nhỏ lẻ, chắp vá. Về giao thông đối ngoại, trên địa bàn huyện chỉ có 2 tuyến tỉnh lộ, không có quốc lộ... Phát huy truyền thống địa phương hơn 30 năm tuổi, từng được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Đạ Tẻh không ngừng nỗ lực thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng NTM. Trong 10 năm, tổng nguồn lực huy động thực hiện Chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 đạt khoảng trên 3.087,7 tỷ đồng. Từ nguồn vốn huy động được, huyện đã đầu tư tăng cường kết cấu hạ tầng thiết yếu theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Hệ thống đường giao thông toàn huyện dài 341,9 km, được nhựa hóa, bê tông hóa, cứng hóa đạt chuẩn 277,5 km, đạt 81,2%, tăng 34,6% so với năm 2010.   Cánh đồng lúa nếp quýt xã Đại Kho Huyện cũng đã đầu tư và đưa vào sử dụng một số công trình thủy lợi quan trọng ở một số địa phương khó khăn về nguồn nước tưới và nước sinh hoạt như: Hồ thôn 10 xã Đạ Kho, hồ thôn 5 xã Quốc Oai, hồ Con Ó xã Mỹ Đức; hồ Hương Thanh – Hương Sơn xã Đạ Lây; hồ thủy lợi Đạ Lây; hoàn thành kiên cố hóa kênh ĐN12 xã Quảng Trị, kênh ĐN14 xã Triệu Hải; đã cơ bản hoàn thành kiên cố hóa kênh Chính 5,88 km, kênh Nam 4,99km; kiên cố hóa tuyến kênh dẫn nước từ kênh Nam đến cánh đồng thôn 1, 2 xã An Nhơn. Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện có 8 hồ chứa nước thủy lợi với dung tích hữu ích 30,34 triệu m3 nước, 1 trạm bơm và 1 đập dâng; tổng chiều dài kênh 229,9 km (trong đó đã kiên cố 115,4 km, kênh đất 114,5km); đáp ứng nhiệm vụ tưới, tiêu cho 9.834 ha gieo trồng. Ngành điện huyện Đạ Tẻh tiếp tục có sự đầu tư, mở rộng, nâng cấp hệ thống trụ, trạm biến áp và dây dẫn để đảm bảo cung cấp nguồn điện ổn định, sử dụng điện an toàn. Một số địa bàn vùng xa đã có điện hạ thế phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Những năm gần đây, từ sự hỗ trợ vật tư của Nhà nước, các xã đã thực hiện khá tốt phong trào xây dựng đường điện thắp sáng đường quê dọc các tuyến đường từ trung tâm xã đến các thôn với chiều dài 55,4 km; tại một số điểm giao thông đã được xây dựng các trụ đèn sử dụng năng lượng mặt trời để đảm bảo an toàn và văn minh ở nông thôn. Năm 2010, tỷ lệ hộ dùng điện đạt 83%; đến năm 2020, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,85%; 8/8 xã đạt chuẩn tiêu chí điện và duy trì kết quả đạt chuẩn đến nay. Hiện có 23/38 trường đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 65,7%; có 8/8 xã đạt chuẩn cơ sở vật chất văn hóa, tăng 7 xã so với năm 2010. Đặc biệt, trong 10 năm qua huyện Đạ Tẻh ưu tiên chuyển đổi sang trồng cây có hiệu quả kinh tế cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, tập trung vào nhóm cây trồng chủ lực là: Dâu tằm, lúa chất lượng cao, tre tầm vông, cao su, cây ăn quả, từ đó, kinh tế nông nghiệp ở nông thôn có chuyển biến khá nhanh. Trên địa bàn huyện đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô khá, như: Vùng sản xuất trồng dâu nuôi tằm 1.500 ha trên địa bàn 8/8 xã, doanh thu bình quân đạt 220 triệu đồng/ha; cây ăn trái 1.200 ha (quýt, sầu riêng, bưởi da xanh) ở xã Đạ Lây, Mỹ Đức, Quốc Oai, Quảng Trị, một số mô hình đạt doanh thu từ 700 - 1.000 triệu đồng/ha; cao su diện tích 3.500 ha; sản xuất lúa chất lượng cao, quy mô 1.600 ha, doanh thu đạt từ 90 – 120 triệu đồng/ha, riêng sản xuất lúa VĐ 20, nếp quýt đã áp dụng quy trình VietGAP 400 ha, GlobalGAP 20 ha, hợp đồng liên kết, bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp; nhãn hiệu gạo nếp quýt được xác định, chọn lựa là sản phẩm OCOP 4 sao của tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2020 và đang từng bước tiếp cận với thị trường nước ngoài.   Mô hình trồng dâu nuôi tằm của người dân huyện Đạ Tẻh Đối với vùng đồng bào dân tộc gốc Tây Nguyên, có điều kiện đặc thù riêng, huyện đã hình thành các khu vực sản xuất tập trung hiệu quả: tại đồi đất đỏ xã Mỹ Đức đã xây dựng vùng sản xuất cao su tập trung 62 ha từ năm 2012 và tiếp tục mở rộng tại khu vực Trảng Cỏ, xã Quốc Oai 120 ha; tại Tố Lan, xã An Nhơn thực hiện mô hình trồng tre tầm vông, diện tích 25 ha, tiếp tục mở rộng thêm 20 ha trong năm 2019... Do đó, từ 2.316 hộ nghèo (năm 2010), đến nay huyện chỉ còn 430 hộ, chiếm 3,49%. Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người đạt 46,38 triệu đồng/năm. Có 100% xã, thị trấn được công nhận đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự” theo quy định; lực lượng công an 100% xã, thị trấn được xây dựng, củng cố trong sạch, vững mạnh, đạt danh hiệu đơn vị tiên tiến trở lên. Sau 10 năm xây dựng nông thôn mới, hoạt động lĩnh vực văn hóa tinh thần được phát huy và tăng cường công tác xã hội hóa; diện mạo nông thôn huyện Đạ Tẻh thay đổi rõ rệt, khang trang, sạch đẹp, văn minh, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng truyền thống bản địa và của các vùng miền trên cả nước hội tụ về nơi đây tạo ra sự phát triển phong phú đa dạng và thống nhất; các hoạt động về cổ động trực quan được đẩy mạnh; quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; sử dụng hiệu quả của nhà sinh hoạt cộng đồng và các công trình phúc lợi về lĩnh vực văn hóa; hoạt động thể dục, thể thao quần chúng là một trong những đơn vị lá cờ đầu của tỉnh; công tác khuyến học, khuyến tài được chú trọng… Ngày 12/1/2021, huyện Đạ Tẻh đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019. Đây là động lực để huyện Đạ Tẻh tiếp tục phấn đấu trở thành đơn vị kinh tế chủ lực của 3 huyện phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng, có hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ và ngày càng hiện đại vào năm 2025. Phấn đấu, năm 2025, huyện sẽ có 8/8 xã đạt chuẩn xã NTM nâng cao; 5/8 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu về tiêu chí: Môi trường, an ninh trật tự, giáo dục, hành chính công, sản xuất. Hưng Vũ  

Bản Diềm: Giữ gìn và phát triển nghề mây tre đan truyền thống

TĐKT - Họ gồm một nhóm những người già và người neo đơn, chủ yếu là phụ nữ dân tộc Thái, tập hợp cùng nhau để làm việc, để giữ gìn nghề truyền thống và thổi hồn vào từng sản phẩm. Từ việc chẻ mây, vót mây đến nhuộm nan tự nhiên đều được làm thủ công một cách tỉ mỉ. Những sản phẩm của nhóm mây tre đan bản Diềm (thôn bản Diềm, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) giờ đây đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường và đang vươn tầm xuất khẩu. Chị Lang Thị Hoa thuyết minh về ý tưởng phát triển mây tre đan bản Diềm. Bản Diềm là một bản vùng sâu biên giới Việt - Lào, nơi sinh sống của hơn 100 hộ đồng bào người Thái, người Đan Lai. Người dân sống chủ yếu dựa vào khai thác lâm sản phụ nên đời sống gặp rất nhiều khó khăn. Nghề đan lát sản phẩm thủ công từ mây, tre, nứa, vật liệu tết bện gắn liền với đời sống người dân nơi đây từ xa xưa, cung cấp các sản phẩm cho sinh hoạt hàng ngày như quạt, mâm mây, rổ rá, gùi, ép xôi… Từ năm 2014, nhóm mây tre đan bản Diềm được thành lập, mở ra một hướng phát triển đầy tiềm năng tại địa phương. Chị Lang Thị Hoa, người sáng lập và là trưởng nhóm mây tre đan bản Diềm, cho biết: “Nhóm có 22 thành viên, đều là người trong bản, người già cao tuổi neo đơn, không đi lao động ngoài trời được. Người nhiều tuổi nhất là 81 tuổi, ít tuổi nhất là 52 tuổi.” Ban đầu, nhóm gặp rất nhiều khó khăn, thiếu và yếu cả về nhân lực cho đến điều kiện, cơ sở vật chất. Có thời điểm sản phẩm làm ra không tiêu thụ được nên nhiều thành viên đã phải chuyển sang nghề khác. Có thời điểm sản phẩm tìm được đầu ra nhưng thiếu nguyên liệu sản xuất. Chính vì những khó khăn đó nên đôi khi sản phẩm làm ra không nhiều, thu nhập cũng không ổn định. HTX sáng tạo thêm các sản phẩm mới như bàn mây, ghế mây, mâm mây Đứng trước khó khăn, chị Lang Thị Hoa vẫn không chùn bước. Chị tự mình đi vận động, liên hệ, tìm các dự án hỗ trợ liên kết tiêu thụ sản phẩm. May mắn, các chị nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ dự án VIE 028, dự án Oxfam, dự án VIRI về phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam. Chị kể: “Chúng tôi được tập huấn, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, phổ biến kiến thức, nâng cao tay nghề, tìm thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, Viện Nghiên cứu ngành nghề Việt Nam cũng mời nghệ nhân vào tận Nghệ An giảng dạy cho chúng tôi.” Dần dần, nhóm đã giải quyết việc làm cho người dân trong thôn, bản và giúp họ có thu nhập ổn định. Qua bàn tay khéo léo của người dân tộc Thái, cùng với hoa văn đặc sắc đậm chất dân tộc, các sản phẩm mây tre đan bản Diềm từng bước chiếm được cảm tình của khách hàng trong và ngoài nước. Bà Vi Thị Nội là người đầu tiên mạnh dạn duy trì và nghiên cứu thêm những hoa văn dựa trên các tấm thổ cẩm ngày xưa và đưa các hoa văn đó ứng dụng trong nghề mây tre đan. Hoa văn đầu tiên bà Nội sưu tầm là đao tèm - có nghĩa là ngôi sao. Giờ bà Nội đã có được 12 hoa văn. Những hoa văn đó đều do bà Nội tự cài lên nan rổ rá và mặt mâm, tạo nét khác biệt, thu hút người tiêu dùng. Sau khi tiến lên thành lập HTX, nhóm đã được hỗ trợ vốn, đầu tư trang thiết bị, máy móc, giúp tăng năng suất làm việc. Hàng hóa của HTX sản xuất ra ngày càng nhiều, hàng sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Mỗi tháng HTX nhận từ 5 đến 6 đơn hàng với hàng trăm sản phẩm… Sản phẩm của HTX được mọi người dân trong huyện biết đến và đã được giới thiệu tại một số hội chợ và lễ hội lớn trong và ngoài tỉnh. Mới đây, sản phẩm còn được xuất bán ra thị trường nước ngoài như Đức, Pháp. Các thành viên của HTX giới thiệu sản phẩm của mình Sau hơn 5 năm phát triển, HTX đang có doanh thu trên 300 triệu đồng/năm. Thu nhập của các thành viên ngày càng được nâng lên, hiện đạt 3 - 3,5 triệu đồng/người/tháng. Những con số không gây ấn tượng quá mạnh, nhưng ở một bản nghèo như Bản Diềm, thì đây là mức thu nhập “đổi đời”. Không chỉ là nơi lưu giữ nghề truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, HTX còn tạo được sinh kế cho phụ nữ nghèo miền biên ải xa xôi của tỉnh Nghệ An. Đa số thành viên trong nhóm không những là phụ nữ mà còn là trụ cột gia đình, một lúc nuôi 3 - 4 miệng ăn, con bị dị tật bẩm sinh. Tuy vậy, điều mà nhóm không bao giờ thiếu chính là tình làng nghĩa xóm, tình bạn và trên hết là tình đoàn kết giữa các thành viên. Các thành viên trong HTX đã thành lập quỹ tương trợ để giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Hằng tháng, sau khi lấy tiền công, mỗi người đóng góp 20.000 đồng vào quỹ tương trợ. Quỹ này sẽ lần lượt cho các thành viên trong nhóm vay để phát triển sản xuất hoặc giúp những gia đình gặp hoạn nạn, khó khăn. Trong không gian chật chội chỉ hơn 15m2, hơn 20 con người với tiếng trò chuyện, tiếng cười không ngớt trên môi vẫn hăng say làm việc chăm chỉ để tạo ra những sản phẩm tốt nhất, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng và bảo tồn nghề truyền thống của dân tộc. Nguyệt Hà

Cựu chiến binh xã Tân Thạch góp sức xây dựng quê hương

TĐKT - Với phương châm “Nêu gương, tình thương, trách nhiệm”, những năm qua, hội viên Hội Cựu chiến binh xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre luôn đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế gia đình và tích cực đóng góp xây dựng quê hương giàu đẹp. Hội Cựu chiến binh xã Tân Thạch, huyện Châu Thành hiện có 240 hội viên sinh hoạt ở 9 chi hội. Đây là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên tục trong 14 năm liền. Những năm qua, Hội CCB xã Tân Thạch đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân; tham mưu cho Đảng ủy xã thực hiện tốt công tác phối hợp liên tịch tứ trụ. Hội có 66 hội viên tham gia làm tổ trưởng, tổ phó tổ nhân dân tự quản, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; củng cố và đưa các phong trào ở cơ sở vững mạnh. Qua đó, đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, các hội viên đã đoàn kết, sáng tạo, giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng. Thực hiện mô hình “Tổ nghĩa tình”, từ năm 2017 đến tháng 6/2020, Hội đã vận động đóng góp được hơn 240 triệu đồng, giúp cho hơn 480 lượt người các nhu yếu phẩm (bao gồm gạo, dầu ăn, đường, sữa, bột ngọt...); tặng 2 xe lăn, 4 nhà tình nghĩa, tình thương cho hội viên gặp khó khăn. Cùng với mô hình “5+1”, “Tổ nghĩa tình” đã giúp cho 13 hộ hội viên thoát nghèo bền vững và 4 hộ cận nghèo vươn lên. Hưởng ứng phong trào thi đua Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới, hội viên CCB xã đã đóng góp trên 91 triệu đồng, hiến hơn 500m2 đất và nhiều ngày công lao động để xây dựng 3km đường, 5 cầu bê tông với kinh phí trên 1 tỷ đồng. Đặc biệt, hội viên nhiệt tình đóng góp và vận động nhân dân đóng góp xây dựng các tuyến đường ánh sáng an ninh, khu dân cư sáng - xanh - sạch - đẹp - nghĩa tình, với tổng chiều dài hơn 8km, gần 500 bóng đèn, 234 trụ đa năng (kinh phí trên 267 triệu đồng). Mô hình khu dân cư sáng – xanh - sạch - đẹp - an toàn - nghĩa tình đã mang lại hiệu ứng tích cực. Với tuyến đường ánh sáng an ninh, từ đây, người dân trong xã, đặc biệt là Cồn Cát, Cồn Phụng sẽ thuận lợi hơn trong quá trình lưu thông sản xuất. Ánh sáng đã phủ khắp các tuyến đường làng, đảm bảo an ninh, an toàn, mang lại không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân. Từ những hoạt động thiết thực, Hội CCB xã Tân Thạch đã từng bước khẳng định vai trò là tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt trên trận tuyến mới. Tiếp nối và phát huy phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, dù ở cương vị, công tác nào, CCB cũng luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu trong mọi lĩnh vực, tiếp tục đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng quê hương ngày càng phát triển toàn diện. Trang Lê  

Tà Mít phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới

TĐKT - Từ một xã thuần nông, Tà Mít (huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) đang “thay da đổi thịt” từng ngày. Phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới hiệu quả, diện mạo Tà Mít ngày càng đổi mới, đời sống nhân dân nâng cao, quốc phòng - an ninh đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững. Xã Tà Mít là xã vùng sâu của huyện Tân Uyên, cách trung tâm huyện 60 km, tổng diện tích tự nhiên 10.500,06 ha. Hiện nay xã có 3 bản với 290 hộ, 1.527 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 90,3%, dân tộc Dao 9,7%. Xã Tà Mít đang thay da đổi thịt từng ngày Ông Phạm Đức Công, Chủ tịch UBND xã Tà Mít cho biết: Cuối năm 2011, Tà Mít đã đẩy mạnh thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thời điểm đó, xã vừa hoàn thành chương trình di dân tái định cư với nhiều khó khăn, qua rà soát xã chỉ đạt 3/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Xác định việc tăng cường phát triển kinh tế là một trong những giải pháp quan trọng góp phần xây dựng thành công nông thôn mới, cấp ủy, chính quyền xã đã tập trung phát huy lợi thế vùng lòng hồ, diện tích đất đồi rộng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; thâm canh tăng vụ, nâng cao thu nhập cho người dân; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm; tích cực thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng đàn gia súc. Đặc biệt, khuyến khích người dân chủ động, phát huy nội lực, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao thu nhập. Đầu năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của xã là 39,3%, thu nhập bình quân người/năm là 11,2 triệu đồng. Xã đã chỉ đạo đồng bộ quy hoạch trong sản xuất lương thực, tuyên truyền, vận động nhân dân sản xuất, tuân thủ quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc, duy trì và phát triển diện tích lúa, phát triển các mô hình kinh tế nâng cao thu nhập. Cụ thể: Thực hiện đề án quế, đến nay toàn xã trồng được 675 ha quế/176 hộ gia đình. Thực hiện có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị gắn với thế mạnh tiềm lực của địa phương về nuôi cá lồng với 1.154,7 ha diện tích mặt nước, đến nay toàn xã đã phát triển được hơn 100 lồng cá có giá trị kinh tế cao như cá lăng, cá rô phi, cá tầm... với tổng sản lượng nuôi trồng đạt trên 100 tấn, giá trị đạt trên 5 tỷ đồng. Cùng với đó, xã đẩy mạnh sản xuất, nâng cao thu nhập, chú trọng công tác chăn nuôi, tốc độ tăng đàn gia súc cả năm đạt trên 6%, đàn gia cầm tăng gấp 2 lần so với năm 2016. Đến cuối năm 2018, các chỉ tiêu phát triển kinh tế của xã đều đạt và vượt; thu nhập trung bình đạt 29 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,46%. Bắt đầu triển khai từ năm 2018, xã Tà Mít được sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh Lai Châu với số tiền hơn 1,5 tỷ đồng từ chương trình xây dựng nông thôn mới. Với nguồn vốn này, xã đã giải ngân cho 11 hộ gia đình tham gia nuôi cá lồng để làm 55 lồng cá và hỗ trợ toàn bộ cá giống, một phần thức ăn. Mô hình nuôi cá lồng tại Tà Mít phát huy hiệu quả kinh tế Mới đầu triển khai, xã gặp khó khăn do người dân chưa hưởng ứng, bà con chủ yếu lo sợ dịch bệnh và đầu ra sản phẩm không ổn định. Để người dân tham gia nhiệt tình, xã Tà Mít đã tăng cường cán bộ xuống với dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, phân tích cho họ hiểu về nuôi cá lồng, sau đó tuyên truyền, vận động người dân. Mưa dầm thấm lâu, dần dần bà con cũng ủng hộ. Khi người dân tin tưởng, xã Tà Mít đã chủ động phối hợp với Công ty cổ phần Sông Thiên Đức ở tỉnh Bắc Ninh chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn các hộ dân lựa chọn giống, cách chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh. Cùng với đó, xã Tà Mít còn tổ chức cho bà con đi tham quan học tập kinh nghiệm nuôi cá lồng ở huyện Than Uyên (tỉnh Lai Châu) và huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Sau hơn 2 năm triển khai, thấy hiệu quả của mô hình, bà con xã Tà Mít đã nhân rộng diện tích nuôi cũng như số lượng lồng cá. Năm 2019, người dân trong xã đã tự liên kết, hợp tác với nhau thành lập Hợp tác xã Phát triển. Việc phát triển nuôi cá lồng, đánh bắt thủy sản khu vực lòng hồ thủy điện tại xã Tà Mít đã giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động nhàn rỗi, 100% người dân thuộc 277 hộ xã Tà Mít trong độ tuổi lao động có việc làm. Từ đó, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ đói nghèo, ổn định cuộc sống cho đồng bào tái định cư. Tính đến nay, xã đã giải quyết việc làm mới cho 24 hộ theo mô hình nuôi cá lồng, với thu nhập trung bình 200 triệu đồng/hộ/năm; 68 hộ nuôi lợn sạch, dê trên các khu rừng ven hồ, tận dụng thức ăn tự nhiên gắn với chủ động thức ăn trồng sắn, chuối, cỏ. Mô hình chăn nuôi gia cầm của thanh niên xã Tà Mít Nhờ sự đồng thuận, ý thức vươn lên thoát nghèo của nhân dân; sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của các cấp, các ngành, đến cuối năm 2018 xã Tà Mít được công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đây là niềm vinh dự và niềm tự hào của toàn thể Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên địa bàn xã, từ nay đời sống của nhân dân đã ổn định, kết cấu hạ tầng kinh tế được đầu tư xây dựng, nhân dân chú tâm phát triển kinh tế để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn. Xác định, xây dựng nông thôn mới là quá trình liên tục, lâu dài và là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, nhà nước đóng vai trò định hướng, hỗ trợ, người dân là chủ thể, thời gian tới, xã Tà Mít tiếp tục triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao toàn diện chất lượng các tiêu chí, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khang trang, đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân.  Phương Thanh

Kiểm tra, giám sát phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng NTM" tại An Giang

TĐKT - Từ ngày 27 - 29/12, Đoàn công tác của Ban Thi đua - Khen thưởng (TĐKT) Trung ương do đồng chí Lê Văn Vũ, Vụ trưởng Vụ TĐKT các tỉnh, thành phố trung ương dẫn đầu, đã tới kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới (NTM) tại tỉnh An Giang. Cùng đi có Tổng Biên tập Tạp chí TĐKT Phạm Hồng Long, các đồng chí là lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng, chuyên viên một số vụ, đơn vị thuộc Ban TĐKT Trung ương và cơ quan liên quan. Đồng chí Lê Văn Vũ, Vụ trưởng Vụ TĐKT các tỉnh, thành phố trung ương phát biểu tại buổi làm việc với tỉnh An Giang Để triển khai có hiệu quả phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng NTM" giai đoạn 2016 - 2020, UBND tỉnh An Giang đã ban hành Kế hoạch 27/KH - UBND ngày 19/1/2017 phát động phong trào thi đua "An Giang chung sức xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020". Đồng thời, tổ chức ký kết giao ước thi đua giữa các huyện với tỉnh, gắn trách nhiệm, nội dung xây dựng NTM của cấp ủy, chính quyền địa phương với nhiệm vụ, công việc thường xuyên; đưa nhiệm vụ xây dựng NTM vào chỉ tiêu thi đua, khen thưởng và đánh giá cán bộ hằng năm. Trong giai đoạn 2016 - 2020, nhận thức về chương trình xây dựng NTM trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng được nâng lên, giảm bớt tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Phong trào thực sự đi vào tâm thức của người dân, tạo sự đồng thuận cao, từ đó thu hút nguồn lực vận động từ cộng đồng dân cư tham gia đóng góp tài lực và vật lực trong xây dựng NTM. Cảnh quan, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, đặc biệt là hệ thống giao thông nông thôn, kết cấu hạ tầng xã hội và đời sống người dân được nâng lên rõ rệt. Toàn tỉnh An Giang hiện có 61/119 xã đạt chuẩn NTM, 3/11 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM, có 6 xã được công nhận xã đạt chuẩn NTM nâng cao. Tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là 11.757.495 triệu đồng. Qua 5 năm triển khai thực hiện Chương trình, người dân trên địa bàn tỉnh đã hiến trên 178.087 m2 đất ở, đất sản xuất nhằm phục vụ cho các công trình NTM. Tổng Biên tập Tạp chí Thi đua Khen thưởng Phạm Hồng Long phát biểu tại buổi làm việc Nhiều mô hình, cách làm hay đã được các ngành, đoàn thể, địa phương trong tỉnh sáng tạo, vận dụng, mang lại hiệu quả cao như: Mô hình "Ấp tự quản bảo vệ môi trường", "Hành lang giao thông thông thoáng, mỗi nhà làm hàng rào cây xanh, cột cờ thẳng tắp", mô hình "Hội Mái ấm tình thương", mô hình "Đội thiện nguyện xây dựng cầu", mô hình "Nông dân giỏi tham gia phát triển sản xuất xây dựng NTM" gắn với tiêu chí ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, "Camera giám sát an ninh trật tự"... Đặc biệt, An Giang đi đầu cả nước về vận động mua xe cứu thương miễn phí. Người người, nhà nhà tham gia đóng góp mua xe chuyển viện giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, với đề án xã hội hóa xây dựng cầu giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh, mỗi huyện, thị xã, thành phố đã thành lập ít nhất 2 đội xây dựng nhà cho người nghèo và xây cầu nông thôn thiện nguyện. Nhờ đó, chỉ trong giai đoạn 2016 - 2020, toàn tỉnh đã xây dựng được 294 cây cầu, tổng chiều dài 9.570 m, tổng kinh phí 339,85 tỷ đồng, trong đó, vốn huy động từ các nguồn lực xã hội chiếm 78,1%. Tại buổi làm việc với Đoàn công tác, đại diện tỉnh An Giang đề nghị Ban TĐKT Trung ương tiếp tục tham mưu Chính phủ ban hành kế hoạch phát động phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng NTM giai đoạn 2021 - 2025", trong đó, chú trọng cơ chế khen thưởng cho các địa phương có thành tích nổi bật, thành tích cao trong quá trình triển khai thực hiện phong trào. Cần có cơ chế khen thưởng rõ ràng, tách bạch nguồn vốn đầu tư phát triển bằng giá trị công trình đối với những địa phương, đơn vị được khen thưởng cấp Nhà nước, nhằm khích lệ tinh thần, tạo động lực mạnh mẽ cho các địa phương phấn đấu. Tỉnh An Giang cũng đề nghị Ban TĐKT Trung ương tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sớm bố trí nguồn vốn đầu tư khen thưởng bằng công trình đối với 3 tập thể được khen thưởng cấp Nhà nước để tỉnh phân bổ về cho các địa phương triển khai thực hiện các công trình phúc lợi xã hội. Cụ thể, đối với tỉnh An Giang, định mức khen thưởng tỉnh dẫn đầu phong trào thi đua đề nghị khen thưởng bằng công trình trị giá 30 tỷ đồng; đối với huyện NTM Thoại Sơn, đề nghị khen thưởng bằng công trình trị giá 10 tỷ đồng; đối với xã Thoại Giang - huyện Thoại Sơn, đề nghị khen thưởng bằng công trình trị giá 1 tỷ đồng. Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Lê Văn Vũ, Vụ trưởng Vụ TĐKT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ban TĐKT Trung ương đánh giá cao và chúc mừng những kết quả nổi bật tỉnh An Giang đã đạt được trong triển khai thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” thời gian qua. Đoàn công tác ghi nhận, tiếp thu các đề xuất, kiến nghị của tỉnh An Giang và cho biết sẽ tổng hợp các ý kiến để báo cáo, nghiên cứu, tham mưu, đề xuất trong nội dung hướng dẫn triển khai thực hiện phong trào giai đoạn tới. Tại buổi làm việc, Tổng Biên tập Tạp chí Thi đua Khen thưởng Phạm Hồng Long cũng đề nghị tỉnh An Giang quan tâm giới thiệu, tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, nhân rộng điển hình hình tiên tiến trên báo chí. Là cơ quan ngôn luận của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Tạp chí Thi đua Khen thưởng sẽ hỗ trợ địa phương đẩy mạnh công tác này trên các ấn phẩm của Tạp chí nói riêng và trên các cơ quan báo chí ở trung ương nói chung. Tham quan thực tế mô hình nông trại Phan Nam (TP Long Xuyên) Nhân dịp này, Đoàn công tác đã tham quan thực tế một số mô hình, điển hình tiêu biểu của tỉnh An Giang trong triển khai thực hiện phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng NTM": Nông trại Phan Nam (TP Long Xuyên); Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời... Nguyệt Hà

Kiểm tra, giám sát thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” tại tỉnh Hậu Giang

TĐKT - Từ ngày 24 - 26/12, Đoàn công tác của Ban Thi đua - Khen thưởng (TĐKT) Trung ương đã kiểm tra, giám sát việc thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” tại tỉnh Hậu Giang. Đoàn công tác do đồng chí Phạm Đức Toàn, Ủy viên Hội đồng TĐKT Trung ương, Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương làm Trưởng đoàn; cùng đi có các đồng chí lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng, chuyên viên của Ban TĐKT Trung ương. Trong dịp này, Ban TĐKT Trung ương tổ chức 2 đoàn công tác tại tỉnh Hậu Giang và An Giang, đoàn đi khảo sát thực tế nhiều mô hình tại cơ sở nhằm trao đổi kinh nghiệm để tiếp tục triển khai thực hiện phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" trong thời gian tới. Làm việc với đoàn công tác, về phía tỉnh Hậu Giang có các đồng chí: Đồng Văn Thanh, Chủ tịch UBND tỉnh; Trương Cảnh Tuyên, Phó Chủ tịch, kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới; Trần Chí Hùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm Chánh Văn phòng điều phối; Huỳnh Thành Hữu, Phó Chánh văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang; Lê Phước Thái, Giám đốc Sở Tài chính; Nguyễn Minh Trí, Phó Giám đốc Sở Nội vụ kiêm Trưởng ban Ban TĐKT tỉnh… Lãnh đạo UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM tỉnh Hậu Giang chụp hình lưu niệm với đoàn công tác của Ban TĐKT Trung ương. Thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, Tỉnh ủy Hậu Giang đã ban hành Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 12/01/2016 về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch và tiếp tục tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện các nội dung, nhiệm vụ chung được kế thừa từ giai đoạn 2011 - 2015; đồng thời tập trung chỉ đạo một số nhiệm vụ mới có tính đột phá nhằm xây dựng nông thôn mới hiệu quả, bền vững. Ban Chỉ đạo từ tỉnh đến huyện thường xuyên củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra. Ban chỉ đạo các cấp đã kịp thời ban hành kế hoạch, chương trình hành động và phân công cụ thể cho từng thành viên. Thường xuyên tổ chức các đoàn công tác của Ban chỉ đạo tỉnh tiến hành kiểm tra, giám sát, rà soát, đánh giá việc thực hiện các tiêu chí trong chương trình xây dựng nông thôn mới tại các xã. Các sở, ban, ngành cấp tỉnh cơ bản thực hiện tốt vai trò là thành viên ban chỉ đạo, chủ động, tích cực tham mưu cho UBND tỉnh trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới như: Ban hành chương trình, kế hoạch, hướng dẫn tổ chức thực hiện theo lĩnh vực được phân công; tham mưu cho UBND tỉnh ban hành một số cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh; thường xuyên nắm bắt cơ sở để kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở; hằng năm tổ chức đánh giá, công nhận, tái công nhận đối với các tiêu chí mà ngành được phân công phụ trách…Từ đó, đã góp phần thực hiện thắng lợi trong việc thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu của chương trình. Tỉnh đã phát động các phong trào, nhiều mô hình hay, hiệu quả, hưởng ứng phong trào thi đua Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới, phối hợp thống nhất thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” gắn với giảm nghèo bền vững, thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, được các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội từ cấp tỉnh đến cơ sở tích cực thực hiện. Từ đó, xuất hiện nhiều mô hình hay, hiệu quả như: “Khu dân cư thực hiện hài hòa xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường“, “Tổ nhân dân tự quản kiểu mẫu“, “5 không - 3 sạch”, “Mô hình xóa trắng ấp nghèo“ (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu Giang); mô hình “Chi hội phụ nữ 5 không, 3 sạch xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” (Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh), Sở Công thương phát động kế hoạch “Ngành Công thương chung sức xây dựng nông thôn mới”. Song song đó, cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” luôn được Ban chỉ đạo phong trào tỉnh quan tâm chỉ đạo, cụ thể hóa thông qua cuộc thi “Mô hình có cảnh quan, môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp”. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có phong trào thi đua “Lực lượng vũ trang tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới”, mô hình “Trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên trong xây dựng nông thôn mới tại gia đình”, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh phát động phong trào “Tuổi trẻ Hậu Giang chung tay xây dựng nông thôn mới”... Qua đó, nhận thức của cán bộ và người dân về xây dựng nông thôn mới đã có chuyển biến rõ rệt, xây dựng nông thôn mới đang trở thành phong trào rộng khắp trong toàn tỉnh. Từ năm 2016 đến nay, tỉnh đã khen thưởng cho 107 tập thể và 1094 cá nhân có nhiều cống hiến trong thực hiện xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh. Từ những chủ trương, chính sách, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ chăm lo cho người dân trong phát triển sản xuất, chăm lo cho đời sống văn hóa, tinh thần, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội đã giúp cho người dân nông thôn yên tâm sản xuất; cùng với những chính sách chăm lo đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, ưu đãi cho phát triển kinh tế tập thể... góp phần nâng cao hiệu quả phát triển sản xuất, nâng cao giá trị lao động cho lao động nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân. Thu nhập bình quân đầu người/năm các xã nông thôn mới tỉnh Hậu Giang cuối năm 2020 đạt trên 50 triệu đồng/người (tăng gấp 1,6 lần so với năm 2015). Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đã thực sự trở thành một phong trào nòng cốt, trọng tâm đi vào cuộc sống và có sức lan tỏa sâu rộng ở địa phương, thu hút được người dân và cộng đồng hăng hái tham gia. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xây dựng nông thôn mới chuyển biến rõ nét. Nhiều cán bộ thực sự tâm huyết, trách nhiệm cao với phong trào. Người dân có ý thức trong xây dựng nông thôn mới. Bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến, đời sống người dân được nâng lên. Đạt được kết quả trên là nhờ có sự quan tâm trực tiếp của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, phát huy tiềm năng, lợi thế sẵn có của mỗi địa phương, đơn vị; có nhiều sáng kiến, cách làm hay. Phong trào thi đua được triển khai thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, kịp thời với nhiều biện pháp, nội dung phù hợp, sát với thực tế. Phong trào thi đua đã đi vào đời sống, được các cấp, các ngành hưởng ứng và người dân nhiệt tình ủng hộ, tích cực tham gia. Thông qua việc triển khai thực hiện phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới đã thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước trên địa bàn tỉnh. Trước đó, đoàn công tác đã đến khảo sát thực tế mô hình trồng khóm (dứa) tại xã Hỏa Tiến, thành phố Vị Thanh, mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt xã Hỏa Tiến có 4 sản phẩm OCOP chế biến từ khóm (dứa), đã góp phần ổn định đầu ra cho sản phẩm, tạo công ăn việc làm cho người dân, mang lại thu nhập ổn định. Tham quan mô hình trồng khóm (dứa) và 4 sản phẩm được chế biến từ khóm (dứa) Đoàn cũng thăm quan mô hình trồng nhãn của gia đình ông Trần Văn Đôi, ấp Nhơn Phú 2, xã Nhơn Nghĩa A, huyện Châu Thành A. Gắn bó với nhãn gần chục năm qua, nhờ giống cây trồng này mà kinh tế gia đình ngày càng ổn định. Ông Đôi cho biết: “Hiện nay gia đình tôi có hơn 1ha trồng được 700 gốc nhãn, mỗi năm đạt khoảng 150 tấn nhãn. Sau khi trừ chi phí, tôi thu về khoảng hơn 200 triệu đồng. Nhưng để nhãn đạt năng suất cao, khoảng 200kg/gốc, chúng tôi phải học hỏi nhiều nơi, rút kinh nghiệm qua từng năm.” Đoàn công tác đi thực tế khảo sát mô hình trồng nhãn của gia đình ông Trần Văn Đôi, ấp Nhơn Phú 2, xã Nhơn Nghĩa A, Huyện Châu Thành A Đoàn công tác trao đổi với gia đình ông Trần Văn Đôi về mô hình trồng nhãn Bên cạnh đó là mô hình chăn nuôi ba ba của bà Trương Ánh Nguyệt, ở ấp Láng Hầm B, xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A. Hiện trang trại nuôi cua đinh và ba ba của bà Nguyệt rộng hơn 1,5ha, được chia thành nhiều khu như: Khu nuôi thương phẩm, khu sinh sản cho cua đinh và ba ba, khu nuôi dưỡng con giống... Bình quân mỗi năm bà xuất bán ra thị trường khoảng 2.000 cua đinh thương phẩm, còn ba ba xuất bán khoảng 2 tấn, chủ yếu cho các nhà hàng và quán ăn. Ngoài nuôi ba ba và cua đinh, bà Nguyệt còn đứng ra thành lập HTX nuôi cua đinh, ba ba Thạnh Lợi xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A, với hơn 20 thành viên do bà làm giám đốc. Ban đầu bà cung cấp cua đinh và ba ba bố mẹ cho các thành viên nuôi theo hình thức trả chậm qua nhiều năm. HTX xuất bán khoảng 20 tấn ba ba thịt và 5.000 con cua đinh giống và 15.000 con ba ba giống đem lại lợi nhuận trước thuế 1,5 tỷ đồng. Mô hình chăn nuôi ba ba của bà Trương Ánh Nguyệt ở ấp Láng Hầm B, xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A. Tại mô hình nuôi cá tra của công ty TNHH Thuận Hưng tại xã Đại Thành, thành phố Ngã Bảy, ông Trần Văn Phong, quản lý của công ty cho biết: Công ty kiểm soát từ đầu ra và đầu vào từ con giống, thức ăn cho đến truy xuất cá thành phẩm. Hiện nay công ty có khoảng 30ha nuôi cá tra. Đoàn công tác trao đổi về mô hình nuôi cá tra tại công ty TNHH Thuận Hưng tại xã Đại Thành, thành phố Ngã Bảy Mô hình nuôi cá tra của công ty TNHH Thuận Hưng tại xã Đại Thành, thành phố Ngã Bảy Tại thành phố Ngã Bảy, Đoàn công tác cũng đã tham quan mô hình văn hóa cộng đồng tại ấp Đông Bình, xã Tân Thành. Đây sẽ là nơi học tập, hội họp, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của nhân dân, từ đó góp phần xây dựng đời sống văn hóa vui tươi, phấn khởi trong nhân dân ngay từ địa bàn dân cư. Để đạt mục tiêu đã đề ra, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang kiến nghị Trung ương sớm ban hành văn bản triển khai xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, bộ tiêu chí nông thôn mới các cấp giai đoạn 2021 - 2025 (tỉnh, huyện, xã); văn bản quy định hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp giai đoạn 2021 - 2025. Kiến nghị Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương sớm tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021 - 2025. Qua các buổi làm việc, đồng chí Phạm Đức Toàn, Trưởng đoàn công tác đánh giá cao hiệu quả của các mô hình xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Đồng thời ghi nhận kết quả đạt được trong các phong trào của tỉnh, tiếp thu tổng hợp ý kiến của các cơ quan, chính quyền cũng như các hộ dân, HTX để báo cáo, đề xuất trong nội dung hướng dẫn trong giai đoạn tới. Xuân Phúc

Hiệu quả từ chương trình xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An: Bức tranh nông nghiệp, nông thôn và đời sống nhân dân khởi sắc toàn diện

TĐKT - Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cùng với cả nước, công tác xây dựng nông thôn mới (NTM) ở Nghệ An đã thực sự trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, được cả hệ thống chính trị đồng lòng, chung sức vào cuộc. Sau 10 năm xây dựng NTM, bức tranh nông nghiệp, nông thôn và đời sống người dân khu vực nông thôn đã có sự thay đổi toàn diện, rất đáng tự hào. Nghệ An đã có những bước tiến vượt bậc, đứng thứ 5 trong cả nước về xây dựng NTM. Trong quá trình xây dựng NTM, Nghệ An đã huy động được hơn 56 nghìn tỷ đồng từ Trung ương, các chương trình, dự án, các đơn vị, doanh nghiệp... để thực hiện xây dựng NTM. Với sự chỉ đạo quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở, sự đầu tư nguồn lực đúng trọng tâm, trọng điểm nên kết quả xây dựng NTM mà Nghệ An đạt được đồng đều và toàn diện. Bình quân toàn tỉnh hiện đạt gần 16 tiêu chí/xã, không còn xã dưới 5 tiêu chí. Ngoài 3 đơn vị cấp huyện, 225 xã và 674 thôn bản đạt chuẩn nông thôn mới, Nghệ An hiện có thêm 1 huyện (Yên Thành) và 35 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí; khả năng đạt và vượt mục tiêu có 61,5% số xã đạt chuẩn trong năm nay. Năm 2020, Nghệ An tiếp tục phấn đấu có thêm 25 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt chuẩn của toàn tỉnh lên trên 65%. Con đường hoa sắc tím trên địa bàn xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc Xây dựng NTM được tổ chức triển khai đồng bộ các cơ chế chính sách, thực hiện thường xuyên, đúng định hướng, đa dạng, sáng tạo và chú trọng về phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng thời bám sát tình hình thực tế của địa phương. Thực hiện tốt các chính sách khuyến khích hỗ trợ xây dựng NTM: Từ năm 2012 đến nay, tỉnh đã hỗ trợ gần 638.126 tấn xi măng trị giá hơn 990 tỷ đồng để làm gần 3.553 km đường giao thông nông thôn. Cả hệ thống chính trị đồng sức, đồng lòng xây dựng NTM là cảm nhận rõ được ở Nghệ An hôm nay. Các phong trào thi đua được phát động sâu rộng, thiết thực. Phong trào hiến đất mặt đường, đất vườn, đất ở có giá trị để làm đường giao thông, nhà văn hóa thôn, trường học; cuộc vận động “xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”... sôi nổi trong nhân dân. Chủ trương xây dựng NTM được các cấp triển khai hiệu quả từ tuyên truyền đến thực hiện, kiểm tra, giám sát và được nhân dân đồng lòng hưởng ứng. Để xây dựng NTM, nông dân Nghệ An đã đóng góp hàng triệu ngày công, trên 5.500 tỷ đồng...   Thảm hoa đa sắc màu trên địa bàn xã Tân Phú, huyện Tân Kỳ Đặc biệt, Nghệ An là một trong những tỉnh thực hiện thành công về chuyển cơ cấu nông nghiệp, tạo ra những sản phẩm chủ lực, đặc sản địa phương. Trong sản xuất nông, lâm, thủy sản đã có nhiều bước tiến mới về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tỉnh đã có những mô hình nổi tiếng cả nước về ứng dụng công nghệ cao như Trang trại TH, những đột phá trong khâu giống trong sản xuất lúa, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản. Hiện nay, Nghệ An đã phê duyệt quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với 8 nhóm cây trồng (rau, lúa, lạc, chè, mía, cây ăn quả, cây dược liệu, giống cây lâm nghiệp), 5 con vật nuôi (bò sữa, bò thịt, lợn thịt, gia cầm và tôm thẻ chân trắng) chủ lực để thực hiện ứng dụng công nghệ cao vào các khâu chính như giống, canh tác, nuôi trồng và bảo quản sau thu hoạch. Nghệ An có những vùng chuyên canh cây nguyên liệu rộng lớn (cam, cao su, mía, chè, cà phê, chanh leo, dứa, lạc, sắn,…) và hàng trăm nhà máy công trình khắp các huyện, thành thị; hình thành nhiều vùng sản xuất nguyên liệu tập trung gắn với chế biến, xuất khẩu (chè, cao su, mía, vùng nuôi tôm ven biển). Xây dựng thành công nhiều mô hình liên kết, các cánh đồng lớn theo chuỗi giá trị, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích, góp phần cải thiện thu nhập cho người dân. Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở một số khâu của quá trình sản xuất đã đạt 9.502 ha (chiếm 3,1% diện tích canh tác nông nghiệp); giá trị sản xuất bình quân của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ 200 - 250 triệu đồng/ha/năm. Hiện cả tỉnh có 182 sản phẩm nông nghiệp lợi thế, có 158 làng nghề và quy mô ngày càng lớn, từ đó tạo thêm việc làm tại chỗ cho người dân. Trên cơ sở quy hoạch và đề án xã NTM được phê duyệt, đến nay tất cả các xã thuộc 20 huyện, thành phố, thị xã, đặc biệt là 3 xã xây dựng NTM kiểu mẫu đã hoàn thành công tác rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch. Chủ tịch UBND tỉnh trao tặng Bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc Công tác xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân được chú trọng, năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 18,79% thì nay giảm chỉ còn 5,54%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 14,16 triệu đồng năm 2010 đến nay đã đạt gần 38 triệu đồng/người/năm; Thu nhập khu vực nông thôn tăng mạnh, từ 12 triệu đồng/người/năm 2010 nay tăng lên hơn 27,5 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 2,3 lần. Ghi nhận thực tế, toàn tỉnh có 330/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 75,6%; 390/431 xã đạt tiêu chí số 12 về lao động có việc làm, chiếm 90,5%. Bộ mặt nông thôn Nghệ An ngày càng khởi sắc, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập bền vững cho người dân nông thôn. Xây dựng con đường hoa góp phần làm đẹp đường làng, ngõ xóm được nhiều địa phương tỉnh Nghệ An thực hiện; đời sống mới, tinh thần mới đã hiện hữu rõ trên quê hương Nghệ An.   Chủ tịch UBND tỉnh Thái Thanh Quý và Phó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thông trao tặng Bằng khen cho các cá nhân có thành tích xuất sắc Với phương châm xây dựng NTM “chỉ có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc”, trong thời gian tới, tỉnh Nghệ An tiếp tục đẩy mạnh triển khai xây dựng nông thôn mới đảm bảo đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề ra. Quan điểm chỉ đạo của tỉnh giai đoạn 2021 - 2025 là tiếp tục chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đảm bảo đi vào thực chất và bền vững đi vào chiều sâu; phát huy những thế mạnh, tiềm năng, lợi thế của địa phương. Trong đó, tập trung vào 3 nhóm mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển bền vững gồm: Thúc đẩy phát triển sản xuất, các mô hình phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho người dân khu vực nông thôn và bảo vệ môi trường nông thôn; hoàn thiện nhóm các tiêu chí về văn hóa, giáo dục, y tế; hoàn thiện nhóm các tiêu chí hạ tầng kinh tế xã hội. Các cấp, các ngành phải quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của tỉnh để cụ thể hóa vào các nội dung, chương trình, kế hoạch thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong quá trình triển khai thực hiện. Anh Quân  

Hiệu quả từ mô hình Câu lạc bộ nữ tiểu thương chợ Lộc Điền

TĐKT – Tại xã Lộc Điền (huyện Lộc Ninh, tỉnh Tiền Giang), đa phần người dân sống bằng nghề tiểu thương. Để nâng cao nhận thức của hội viên phụ nữ tại địa phương, năm 2018, Hội Phụ nữ xã Lộc Điền đã ra mắt mô hình “Câu lạc bộ (CLB) nữ tiểu thương chợ Lộc Điền” nhằm thu hút hội viên phụ nữ cùng nghề “tiểu thương” vào sinh hoạt, đồng thời tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ, xây dựng hình ảnh người phụ nữ văn minh, hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bà Trần Thị Kim Hương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Lộc Điền cho biết: Những năm trước, khi chợ Lộc Điền mới được quy hoạch và xây dựng lại, cơ sở hạ tầng chưa ổn định, vẫn còn tình trạng tranh chỗ, ngồi tạm, chiếm dụng vỉa hè... Do phần lớn tiểu thương ở chợ là nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Lộc Điền quyết tâm xây dựng lại mô hình CLB nữ tiểu thương nhằm đẩy mạnh tuyên truyền giúp các tiểu thương sớm ổn định kinh doanh, đoàn kết tương trợ nhau cùng phát triển. Những ngày đầu mới thành lập, CLB có 22 thành viên tham gia. Các thành viên sinh hoạt theo quy chế mỗi tháng 1 lần, với hình thức tự nguyện. Sau khi ra mắt, Ban chủ nhiệm dưới sự hướng dẫn của Hội Phụ nữ xã Lộc Điền đã tập trung đưa CLB đi vào nền nếp, chuẩn bị các nội dung sinh hoạt cụ thể, vừa gắn công tác vận động, tuyên truyền, tạo môi trường chia sẻ kinh nghiệm học hỏi trong buôn bán, kinh doanh để phát triển kinh tế gia đình; vừa giao lưu văn hóa, văn nghệ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạo ra không khí khấn khởi, thoải mái cho các thành viên. “Tham gia sinh hoạt tại CLB, hội viên được hướng dẫn một số chính sách mới về sản xuất - kinh doanh; cách phân biệt hàng giả, hàng kém chất lượng; nhãn mác, hạn sử dụng sản phẩm; cách sắp xếp hàng hóa buôn bán gọn gàng, ngăn nắp... từng bước hướng tới xây dựng chợ văn minh thương nghiệp.”  bà Hương chia sẻ. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, Ban chủ nhiệm CLB tiểu thương đã thường xuyên đến tuyên truyền kiến thức phòng dịch bệnh, các kỹ năng bảo vệ bản thân và khách hàng, như: Cách đeo khẩu trang đúng cách, rửa tay sát khuẩn bằng cồn. Đồng thời, vận động hội viên tích cực phối hợp, tạo điều kiện cho ngành chức năng trong việc phun hóa chất khử trùng, sát khuẩn ở các khu vực trong chợ để phòng dịch bệnh lây lan... Nhờ vậy, chị em tiểu thương có thể yên tâm giao thương. Ban Chủ nhiệm CLB còn tích cực tuyên truyền, vận động các hộ kinh doanh khác cùng thực hiện cam kết mua bán thực phẩm có nguồn gốc, đảm bảo tươi ngon, tuyệt đối không dùng hóa chất hay thủ thuật để trục lợi, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Bên cạnh công tác tuyên truyền, CLB còn thường xuyên lắng nghe ý kiến đóng góp của các hộ kinh doanh, kịp thời cùng Ban quản lý chợ giải quyết những khó khăn, vướng mắc hay có sự điều chỉnh cho phù hợp. CLB đã xây dựng thành công mô hình góp vốn xoay vòng với tổng 24 triệu đồng và nhận ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội giúp thành viên vay ưu đãi để mở rộng hoạt động buôn bán, kinh doanh, ổn định cuộc sống.      Nhờ có quy chế hoạt động rõ ràng, hình thức tuyên truyền, vận động linh hoạt, mô hình vốn xoay vòng hoạt động hiệu quả, CLB đã ngày càng thu hút sự quan tâm của chị em tiểu thương. Chỉ sau hơn 1 năm hoạt động, tổng số thành viên lên 25 hội viên. Có thể khẳng định, CLB nữ tiểu thương chợ Lộc Điền đã và đang trở thành điểm tựa cho nhiều chị em phát huy thế mạnh trong kinh doanh, góp phần xây dựng nông thôn mới, chợ văn minh. Bảo Linh

Trang