Chuyên đề

Gần 200 hộ dân thuộc xã Nậm Chua, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đón điện ngay trước thềm Tết Nguyên đán Canh Tý 2020

Ngày 18/01/2020, Công ty Điện lực Điện Biên đã thực hiện đóng điện 2TBA Nậm Ngà 1 và Nậm Ngà 2 thuộc xã Nậm Chua, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên và cấp điện lưới quốc gia cho hơn 100 hộ dân, đây là dự án thuộc chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 - 2020 theo Quyết định số 2081/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ… Công nhân Điện lực Mường Chà thực hiện thao tác đóng điện tại xã Nậm Chua Xã Nậm Chua huyện Nậm Pồ cách trung tâm TP Điện Biên Phủ gần 150 km đường đèo núi, chủ yếu là đồng bào dân tộc Kháng và H’Mong sinh sống, tuy giao thông đi lại khó khăn nhưng với mong muốn bà con nhân dân có điện lưới quốc gia trước Tết Nguyên đán Canh Tý 2020. Trong những ngày vừa qua, công nhân Điện lực Mường Chà thuộc Công ty Điện lực Điện Biên đã khẩn trương triển khai các công đoạn nghiệm thu, kiểm tra kỹ thuật vận hành và tiến hành đóng điện hai trạm biến áp Nậm Ngà 1, Nậm Ngà 2 thuộc Xã Nậm Chua. Công trình cấp điện cho gần 200 hộ dân thuộc hai bản Nậm Ngà 1, Nậm Ngà 2 với hơn 7 km đường dây trung thế, gần 10 km đường dây hạ thế. Khi có thông tin đóng điện bà con đã tập trung ở trạm biến áp từ rất sớm, nhiều hộ dân đã mua sẵn ti vi, tủ lạnh, tủ mát. Háo hức nhất là đám trẻ con vì chuẩn bị được xem tivi. Công nhân Điện lực Mường Chà tư vấn sử dụng điện tại nhà Ông Lý Văn Thăn - Trưởng bản Nậm Ngà 1 Ông Lý Văn Thăn - Trưởng bản Nậm Ngà 1 không giấu nổi sự vui mừng khi biết rằng, vào đúng dịp Canh tý sắp tới, người dân trong bản sẽ được sử dụng điện lưới quốc gia. Ông cho biết từ năm 1977, ông theo gia đình đi khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới. Thiếu thốn điện, nước, mọi sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều năm qua bản làng chìm trong bóng tối, khi con gà lên chuồng cũng là lúc người dân trong bản đi ngủ.  “Vậy là bao năm mong đợi, đến nay người dân chúng tôi cũng sắp có điện lưới quốc gia. Bà con ở đây vui mừng lắm, ai cũng ủng hộ, đặc biệt từ khi thấy các chú công nhân điện lực dựng trụ, kéo dây điện thì càng vững tin hơn. Từ nay, bản chúng tôi sẽ không còn lo thiếu điện, ảnh hưởng đến việc sản xuất, sinh hoạt”. - Ông Lý Văn Thăn hồ hởi. Kỹ thuật viên an toàn - Điện lực Mường Chà tư vấn sử dụng điện an toàn, hiệu quả cho nhân dân. Ngay sau khi đóng điện, Điện lực Mường Chà đã bố trí lực lượng đến từng hộ dân kiểm tra hệ thống điện, hướng dẫn sử dụng các thiết bị điện an toàn, tiết kiệm. Đời sống của bà con Nậm Chua từ đây bước sang trang mới, con trẻ sẽ có điều kiện học hành tốt hơn, niềm hạnh phúc vỡ òa khi đón ánh điện về bản. Đó cũng chính là động lực, niềm hạnh phúc của anh em công nhân điện lực xa nhà trong những ngày giáp tết./.  

Trung tâm Điều tra - Xử lý dữ liệu đo đạc và bản đồ: Hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao

Trung tâm Điều tra - Xử lý dữ liệu đo đạc và bản đồ là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT). Trung tâm có các nhiệm vụ sau: Khảo sát, lập dự án, thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình đo đạc và bản đồ; Kiểm tra, nghiệm thu chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ; Xây dựng lưới trọng lực, thiên văn, toạ độ, độ cao; Đo vẽ, thành lập bản đồ địa hình; Đo vẽ, thành lập bản đồ địa hình đáy biển; Đo vẽ, thành lập bản đồ địa chính; Thành lập bản đồ hành chính;  Đo vẽ, thành lập bản đồ địa giới hành chính; Xây dựng cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ; Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý; Thành lập bản đồ chuyên đề, atlas địa lý; Khảo sát địa hình; đo đạc công trình; Kiểm định các thiết bị đo đạc. Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra hoạt động của hệ thống trạm CORS tại tỉnh Quảng Ninh Trong năm 2019, Trung tâm đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao như sau: -Xây dựng hệ thống thông tin địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội; - Thực hiện Thiết kế kỹ thuật - dự toán “Phân định ranh giới quản lý hành chính trên biển, đảo Việt Nam” các tỉnh: Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh; - Thực hiện xong TKKT-DT “Hoàn chỉnh lưới điểm GPS khung quy chiếu GPS cơ sở khu vực miền Bắc” thuộc dự án “Hoàn chỉnh hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia Việt Nam”; - Thực hiện Dự án bổ sung, cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý các tỷ lệ khu vực các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ tỉnh Thừa Thiên Huế; - Thực hiện TKKT-DT “Xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính” tại tỉnh Đồng Nai, Bình Phước; - Thực hiện dự án “Đo nối các trạm Geodetic CORS vào hệ thọa độ nhà nước; Đo nối và tính toán độ cao của cac điểm mốc lắp đặt ăng-ten thu tín hiệu GNSS tại tất cả các trạm Geodetic và NRTK CORS trên cả nước”; - Thực hiện nhiệm vụ vận hành thử nghiệm dự án đầu tư “Xây dựng mạng lưới trạm định vị toàn cầu bằng vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam”; - Thực hiện TKKT-DT “Đo GNSS xác định độ cao đỉnh Phan Xi Păng”; - Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng quy định kỹ thuật xác định độ cao bằng công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu”; Doanh thu năm 2019 đạt trên 34 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2018; thu nhập bình quân của cán bộ Trung tâm khoảng 6,7 triệu đồng/người/tháng, tăng 8,9% so với năm 2018. Một số thành tích tiêu biểu của Trung tâm: * Tập thể: - Được tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ TNMT năm 2013. - Được tặng bằng Khen của Thủ tướng chính phủ năm 2015. - Cờ thi đua của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014. - Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước CHDCND Lào được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ TNMT năm 2018. * Cá nhân: - Được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ TNMT các năm: 2012, 2018. - Được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2014. - Thủ tướng Lào tặng Huy chương Lao động đã có thành tích xuất sắc trong quá trình thực hiện dự án “XDCSDL nền thông tin cơ bản phục vụ quy hoạch, phát triển KTXH và giám sát TNMT cho CHDCND Lào” năm 2017. - Giám đốc đơn vị được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2019. Thứ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Thị Phương Hoa trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2019 cho đ/c Trần Doãn Mạnh - Giám đốc Trung tâm  

Cục Thống kê TP Cần Thơ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội thành phố

5 năm qua, Cục Thống kê thành phố Cần Thơ đã đạt được những thành tựu ấn tượng, góp phần đắc lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ, cũng như ngành Thống kê đất nước. Giai đoạn 2013 - 2018 đã chứng kiến bước chuyển mình, bứt phát mạnh mẽ của Cục Thống kế thành phố Cần Thơ. Trong giai đoạn này, đội ngũ cán bộ làm công tác Thống kê trong toàn thành phố đã nỗ lực phấn đấu, nêu cao tinh thần lao động sáng tạo, cống hiến, lập những thành tích nổi trội và toàn diện, chung tay mang đến những sắc diện mới cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ. Cục Thống kê đã xây dựng và công bố Lịch phổ biến thông tin thống kê hàng năm. Hoạt động phổ biến thông tin được đẩy mạnh theo hướng kịp thời, đầy đủ, bình đẳng, khách quan và minh bạch đến mọi đối tượng sử dụng thông tin thống kê bằng nhiều hình thức nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thường xuyên, đột xuất của cấp ủy, chính quyền các cấp và các đối tượng dùng tin khác. Các hình thức phổ biến thông tin thống kê được đa dạng hóa thông qua Trang thông tin điện tử của Cục, Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố, qua các ấn phẩm của Ngành và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Bên cạnh đó, thực hiện Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008, đơn vị đã tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo chất lượng để công bố 71 quy trình vào ngày 29/6/2015. Đến nay, các quy trình ban hành vẫn đang tiếp tục được thực hiện và duy trì, góp phần thực hiện tốt công tác cải cách hành chính của cơ quan Cục Thống kê. Ký kết Giao ước thi đua năm 2017, khối các Chi cục Nổi bật nhất trong giai đoạn này là Cục thống kê Thành phố Cần Thơ đã hoàn thành xuất sắc công tác Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016; Tổng điều tra kinh tế năm 2017 và Tổng điều tra Tổng duyệt Tổng điều tra Dân số và nhà ở trong những tháng đầu năm 2019. Với cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, Cục Thống kê đã cung cấp kịp thời các tiêu chí về nông thôn, nông nghiệp đầy đủ về nội dung, tin cậy về chất lượng nhằm phục vụ cho công tác xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Qua nghiệm thu, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản Trung ương đã đánh giá thành phố Cần Thơ đạt loại khá, Cục được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tặng 2 Bằng khen cho tập thể, 4 Bằng khen cho cá nhân; UBND thành phố tặng 15 Bằng khen cho các tập thể và cá nhân. Với cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2017, Cục Thống kê đã phối hợp chặt chẽ với Cục Thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát thực tế, xác minh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp và đối chiếu số liệu để thống nhất danh sách doanh nghiệp. Qua nghiệm thu, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương đã đánh giá thành phố Cần Thơ đạt loại giỏi. Gần đây nhất, cuộc Điều tra tổng duyệt Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tại Cần Thơ đã được lãnh đạo Tổng cục đánh giá cao về quá trình triển khai cũng như thực hiện đạt hiệu quả cao, góp phần vào thành công cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019. Qua đó, đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế Cục trong toàn ngành Thống kê đất nước. Có được thành công kể trên là nhờ cấp ủy, cùng với Ban Lãnh đạo Cục đoàn kết nhất trí cao, thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ trong cơ quan; nhờ đội ngũ công chức thống kê tâm huyết với nghề không ngừng nghiên cứu, cải tiến phương pháp điều tra, bảo đảm đúng phương án điều tra của trung ương, phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, cũng như đẩy mạnh cải cách hành chính; nhờ lực lượng giám sát viên thành phố, quận, huyện luôn sẵn sàng hỗ trợ điều tra viên hoàn thành cuộc điều tra đạt chất lượng cao nhất với tiến độ nhanh nhất. Chính những cán bộ, những điều tra viên, giám sát viên đó là những nhân tố tích cực hưởng ứng thực hiện các phong trào thi đua của ngành và địa phương như: Phong trào “Ngành Thống kê Cần Thơ phát huy truyền thống đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao giai đoạn 2016 - 2020”; phong trào thi đua lập thành tích Kỷ niệm 15 năm thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương;... mang đến những hiệu quả thiết thực cho toàn cảnh hoạt động thống kê thành phố. Ông Nguyễn Thanh Dũng, Phó Chủ tịch UBND thành phố trao Cờ Thi đua 2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho tập thể Cục Thống kê Từ những nỗ lực, cố gắng đó, tập thể cán bộ, viên chức Cục Thống kê thành phố Cần Thơ nhiều năm liền đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc; được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba; Chính phủ tặng Cờ thi đua và Bằng khen; cùng nhiều Cờ thi đua và Bằng khen của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND thành phố Cần Thơ. Đặc biệt, năm 2018, Cục Thống kế thành phố Cần Thơ vinh dự và tự hào được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho những thành tích xuất sắc giai đoạn 2013 - 2018.

Trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận: Chủ thể của trường là ai?

TĐKT - Ngay từ ngày đầu thành lập, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội được xây dựng theo mô hình tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. Toàn bộ nguồn vốn hoạt động của Trường đều được hình thành từ vốn góp của các thành phần sáng lập, của cá nhân cán bộ, nhân viên, giảng viên và cộng tác viên của trường - các cổ đông. Khái niệm “tư thục” chỉ mới đề cập đến nguồn vốn hoạt động của Trường do tư nhân góp lại mà thành. Tuy nhiên còn những lựa chọn khác không kém phần quan trọng góp phần gắn liền với mô hình này. Những lựa chọn quan trọng đó được thể hiện như sau: Cơ sở 2 của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) 1. Trường có chủ hay vô chủ? Từ bài học kinh nghiệm quản lý kinh tế quốc doanh - Các doanh nghiệp này về danh nghĩa là có chủ mà trên thực tế thì chỉ là hình thức, còn thực tế thì chưa thể hiện rõ ràng mạch lạc làm chủ tập thể không phát huy được đầy đủ nội dung của nó. Do đó những người sáng lập của Trường đã khẳng định nguyên tắc: Trường phải có chủ. Nó được thể hiện như thế nào? Trước hết cần xác lập được chính xác tiêu chí người làm chủ (chủ thể) của Trường. Có 2 tiêu chí chủ yếu đó là: Vốn góp và lao động Trước hết phải khẳng định tiêu chí về lao động rất khó xác định mức đóng góp lao động, không thể đo lường và thể hiện đầy đủ chính xác giá trị vật chất của giá cả sức lao động. Ví dụ: Một Giáo sư lao động không thể giống như một nhân viên làm tạp vụ, một nhân viên làm kế toán, văn phòng hay một giảng viên bình thường khác được. Do đó, tiêu chí “lao động” sẽ được “gác” lại. Còn tiêu chí góp vốn bằng tiền? Theo quy chế của Trường, mức góp vốn tối thiểu để trở thành cổ đông được ấn định là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn), không khống chế mức góp vốn tối đa. Và chỉ sau 5 năm đầu hoạt động, Trường đã huy động đủ nguồn vốn cần thiết để tạo lập cho hoạt động của Trường; đồng thời cùng với số học phí của người học đóng góp Trường có đủ nguồn vốn chi phí cho sự phát triển của Trường. Đến giai đoạn này, phát sinh một số người cho rằng nên cho cổ đông rút hết vốn vì thực tế số vốn đó cũng không chiếm tỷ trọng đáng kể cho hoạt động của trường. Ý kiến này đều bị bác bỏ bởi lẽ nếu cổ đông rút hết vốn thì ai sẽ là chủ của Trường? Và một Trường mà vô chủ thì sẽ xảy ra những tiêu cực vô cùng lớn gây rối loạn trong điều hành, nguy cơ mất ổn định của Trường. Tuy số vốn góp của các cổ đông không lớn nhưng cũng đã góp phần làm cho nguồn vốn hoạt động của Trường phát triển và ổn định. Đến khi số cổ đông đã tăng nhiều lên đến hàng trăm người thì lại nảy sinh ý kiến nên hạn chế bớt số lượng cổ đông để việc điều hành gọn nhẹ hơn. Không những giảm bớt số cổ đông mà Trường cần ổn định để tồn tại thì lại cần có nhiều thế hệ cổ đông để tiếp nối sự hoạt động của Trường được duy trì và phát triển. 2. Hoạt động vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận? Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, sau một năm hoạt động các khoản thu trừ đi các khoản chi, chênh lệch đó là khoản lãi sau khi làm nghĩa vụ với Nhà nước theo luật pháp; Hội đồng quản trị sẽ quyết định sử dụng số tiền lãi vào các khoản chi phù hợp, trong đó có khoản chi gọi là “cổ tức” chi cho các cổ đông. Đó là lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sau một quá trình hoạt động. Còn đối với hoạt động cho sự nghiệp giáo dục thì các khoản thu trừ đi chi còn lại là chênh lệch thu chi (khái niệm lợi nhuận không được xác định) vì ngành giáo dục chưa có quy định cho trường được mang danh “doanh nghiệp”. Tuy nhiên ta có thể thống nhất hiểu tổng quát là các khoản chênh lệch thu lớn hơn chi gọi là “lãi”; ngược lại chi lớn hơn thu gọi là “lỗ”. Nếu cổ đông của Trường góp vốn mà được chia lãi cuối năm thì làm gì có nguồn tài chính để đáp ứng cho yêu cầu phát triển Trường và nâng cao chất lượng đào tạo, đe dọa trực tiếp cho sự tồn tại của Trường. Trường đã có quy chế hoạt động không vì lợi nhuận, do đó cổ đông góp vốn thì sẽ nhận được một lãi suất cố định giống như lãi suất tiết kiệm tại thời điểm cổ đông được hưởng. Trường đã căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại để vận dụng “áp” vào lãi trả cho các cổ đông theo mức vốn đóng góp; Căn cứ để vận dụng được tham khảo lãi suất trả cho cổ đông góp vốn không phải là khoản chi phân phối lợi nhuận sau một năm hoạt động và do đó không phải là phân chia “cổ tức”. Từ đây cần khẳng định đối với Trường hoạt động không vì lợi nhuận không có khái niệm lợi nhuận, chỉ có khái niệm chênh lệch thu chi, chênh lệch thu lớn hơn chi thì được sử dụng như sau: - Nâng cao chất lượng đào tạo - Cải thiện điều kiện học tập cho sinh viên - Cải thiện điều kiện làm việc và thù lao cho cán bộ, nhân viên và giáo viên của Trường - Dành một phần vào quỹ tích lũy dự phòng, quỹ phát triển để xây dựng trường sở. Như vậy, áp dụng cơ chế không vì lợi nhuận đảm bảo được sự hài hòa lợi ích sau đây: - Lợi ích của người góp vốn - Lợi ích của sinh viên - Lợi ích của cán bộ, nhân viên và giáo viên - Lợi ích lâu dài của Trường Vì vậy không thể chỉ thỏa mãn cho một lợi ích duy nhất nêu trên dẫn đến suy yếu hoạt động của Trường thì lợi ích duy nhất cũng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và không thể đáp ứng được. Qua thực tế hoạt động của Trường trong hơn 20 năm hoạt động và phát triển đã xuất hiện một khái niệm quản lý của một trường hoạt động không vì lợi nhuận, đó là chủ thể của Trường là tất cả cán bộ, nhân viên, giáo viên, sinh viên, học viên của Trường, nó sẽ trường tồn với điều kiện duy nhất: Dân chủ - Đoàn kết - Thống nhất bền vững.  Những yếu tố xác định chủ thể của Trường được thực tế chứng minh như sau: Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Hiệu trưởng của Trường là Giáo sư Trần Phương, nguyên là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ). Trong Ban Giám hiệu, Hội đồng Quản trị của Trường và Thủ trưởng các đơn vị trong trường (phòng, Viện, Khoa…) có nhiều người nguyên là Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tổng Cục trưởng, Vụ trưởng, Vụ phó, Giám đốc Học viện… Như vậy, bộ máy lãnh đạo, quản lý điều hành của Trường tổ chức nền nếp, thống nhất, quy mô như một trường công lập ở tốp đầu. Nhờ đó, việc đào tạo sinh viên có chất lượng, ra trường đều có việc làm với vị trí phát huy được năng lực và thu nhập cao, phát triển tài năng của sinh viên trưởng thành. Đồng thời, nhờ có uy tín của Trường được xã hội xác nhận nên hàng năm Trường tuyển sinh được hàng ngàn sinh viên và vượt yêu cầu mong muốn của Trường. Giá trị cốt lõi của Trường thể hiện Trường luôn có chủ xứng tầm với vị trí và sứ mệnh đã được xác định trong suốt quá trình xây dựng và phát triển. PGS. TS. Hà Đức Trụ Phó Hiệu trưởng Trường ĐHKD&CNHN

Mô hình Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (Trường Đại học Dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội – Trường Đại học Tư thục – Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội không vì lợi nhuận)

TĐKT - Đây là tên gọi và cũng đồng thời là mô hình hoạt động của một trường đại học thuộc hệ thống các trường đại học ngoài công lập của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đó là một chân lý đã được xã hội công nhận và các nhà lãnh đạo cấp cao của nước ta đánh giá - chỉ đạo nghiên cứu mở rộng mô hình này. Giải thích từ ngữ: “Cổ đông”: Là người góp vốn theo mức quy định tối thiểu và được HĐQT chấp thuận… “Cổ phần”: Là số tiền do từng người góp vốn lại để tạo thành vốn hoạt động của trường; Mỗi cổ phần được ấn định là 1 triệu đồng Việt Nam. “Cổ phiếu”: Là giấy chứng nhận cấp cho người góp cổ phần… “Cổ tức”: Lợi nhuận được Đại hội cổ đông phê duyệt hàng năm do HĐQT trình “Đại hội đồng cổ đông”: Là tổ chức cao nhất của Trường với tư cách là chủ tập thể của trường, họp theo định kỳ hàng năm để thông qua các Quyết định quan trọng do HĐQT trình… Quá trình thành lập và sự phát triển của Trường. Ngày 15 tháng 6 năm 1996 Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 405/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội và ngày 19 tháng 5 năm 2006 ra Quyết định số 750/QĐ-TTg đổi tên thành Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Trường do Giáo sư Trần Phương - Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế - nguyên là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trường (nay là Phó Thủ tướng) đứng đầu cùng cá nhà khoa học, các nhà tri thức, công chức nhà nước đã nghỉ hưu….có tâm huyết vì sự hưng thịnh của nền giáo dục đại học nước nhà thành lập - các nhà sáng lập của trường. Cơ sở 1 của Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (Vĩnh Tuy, Hai Bà Trưng, Hà Nội) 1. Bối cảnh ra đời của các trường ngoài công lập: Sau khi hòa bình được lập lại hoàn toàn ở miền Bắc từ năm 1954; Theo mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội thì Nhà nước có trách nhiệm chăm lo cho dân mọi nhu cầu: kể từ cái ăn, cái mặc, công ăn việc làm, cho đến việc học hành, chữa bệnh… Căn cứ vào mô hình đó, mọi loại hình trường tư thục đã từng tồn tại thời đó ở miền Bắc nước ta đều phải chuyển thành trường công lập. Trường công lập trở thành hình thái duy nhất của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhưng chỉ qua hai mươi năm thì mô hình quản lý kinh tế, ta thường có ấn tượng là “quan liêu, bao cấp” không còn có sức thuyết phục và phải chuyển sang thực hiện chính sách của nền kinh tế nhiều thành phần chính sách kinh tế nhiều thành phần đã mở ra triển vọng phát triển cho các trường ngoài công lập, bởi nó cho phép thu hút vốn đầu tư và nhân lực từ nhiều tầng lớp trong xã hội để mở trường. Và thế là từ đầu những năm 90 của thế kỉ trước, do nhu cầu ngày càng cao của xã hôi về giáo dục đào tạo trong khi nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, hệ thống các trường ngoài công lập đã trở thành một lực lượng ngày càng quan trọng bên cạnh lợi thế các trường công lập. Để khảo sát sau về loại hình trường ngoài công lập (không chỉ là các trường đại học mà bao gồm cả các trường trung cấp, cao đẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở, mầm non, mẫu giáo v.v…; có thể thấy sự phát triển đa dạng và sự phấn đấu cho sự tồn tại và phát triển cũng vô cùng phong phú, đa dạng. Đó là: Xét theo tiêu chí ai là người bỏ vốn đầu tư thành lập trường ngoài công lập thì các trường này tạm phân chia làm 2 loại: Loại thứ nhất: Các trường do các tổ chức xã hội nghề nghiệp thành lập và trường của tư nhân. Nó được gọi là Trường dân lập. Loại thứ hai là các trường do một người, hoặc một nhóm người bỏ vốn thành lập. Đó là trường tư thục. Loại hình trường này thường chiếm tỉ lệ nhiều trong số các trường ngoài công lập. Ở khu vực trường tư thục (xã hội hay gọi tắt là trường tư) có thể phân chia thành làm 2 loại xét theo tiêu chí: Lợi nhuận và Phi lợi nhuận. + Loại thứ nhất là những trường theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Loại trường này có thể do một người hay một gia đình thành lập và thu lợi, nó giống như một doanh nghiệp tư nhân. Loại trường này cũng có thể do một nhóm người thành lập và thu lợi, nó giống như một công ty trách nhiệm hữu hạn. Họ sẽ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo chính sách thuế hiện hành của Nhà nước; phần lãi còn lại sẽ được phân chia cho các nhà đầu tư theo % vốn góp. + Loại thứ hai là loại trường tư thục phi lợi nhuận (hay không vì lợi nhuận). Loại trường này nếu nguồn thu đáp ứng cho các khoản chi, nếu còn số dư - Không quan niệm là “lợi nhuận”, thì không đem chia cho người góp vốn mà được để tái đầu tư vào sự nghiệp giáo dục đào tạo. Và trường không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp - đã được Nhà nước quy định bằng các văn bản pháp lý hiện hành. Cơ sở 2 của Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) 2. Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội - Sự lựa chọn mô hình Trường Đại học dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội (Nay là Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội) được thành lập từ năm 1996. Trong thời gian đó, các trường đại học ngoài công lập đều được “gắn” tên là trường Dân lập. Nhưng đến năm 2005-- 2009 - 2014 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành các Quyết định sau: - Quyết định số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17 tháng 1 năm 2005 về “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Đại học Tư thục”. - Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 1 năm 2009 về “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Đại học Tư thục”. - Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 về “Điều lệ của trường Đại học”. Ngay từ những ngày đầu thành lập, dù mang tên Trường Đại học Dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội - Tiếp đó là Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, trường hoạt động theo mô hình của một trường đại học ngoài công lập “Dân lập” hay “Tư thục” đều là trường hoạt động với mục tiêu không vì lợi nhuận. Lựa chọn theo mô hình trên đây dựa trên nền tảng cấu trúc của một trường đại học ngoài công lập “Tư thục” theo Quyết định của 3 văn bản do Thủ tướng Chính phủ ban hành còn dựa trên tôn chỉ, mục đích và quy chế hoạt động của Trường đã ban hành… 3. Việc vận dụng “Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học tư thục” theo QĐ số 61/2009-QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đối với Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Xin trích nội dung một số điều trong QĐ nêu trên có tác động đến mô hình của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội để tham khảo: Điều 1: Phạm vi và đối tượng điều chỉnh:… Trường Đại học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước hoạt động theo quy chế này và điều lệ trường đại học, các quy định của pháp luật. Điều 2: Trường đại học tư thục có tư cách pháp nhân có con dấu và được mở tài khoản tại các ngân hàng, kho bạc Nhà nước. Điều 4: Quản lý Nhà nước đối với trường Đại học tư thục: Trường Đại học tư thục chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh, nơi trường đặt trụ sở). Điều 6: Nhiệm vụ quyền hạn của trường Đại học tư thục: Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Đại học tư thục thực hiện theo quy định của Điều lệ trường Đại học và các quy định pháp luật khác. Trường Đại học tư thục không được cho bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào mượn danh nghĩa của trường để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp, không đúng với tôn chỉ mục đích hoạt động của nhà trường. Trường Đại học tư thục chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm pháp luật của trường. Điều 8: Cơ cấu tổ chức: Trường Đại hoc tư thục có cơ cấu tổ chức đảm bảo yêu cầu về cơ cấu tổ chức quy định trong điều lệ trường đại học và phù hợp với điều kiện, quy mô đào tạo trong từng giai đoạn phát triển của trường (QĐ số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014): -Cơ cấu tổ chức của trường Đại học tư thục bao gồm: + Hội đồng Quản trị + Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng + Ban Kiểm soát + Hội đồng Khoa học và Đào tạo + Các phòng (ban) chuyên môn + Các Khoa và bộ môn trực thuộc trường + Các bộ môn trực thuộc Khoa + Các tổ chức Khoa học và Công nghệ; Các cơ sở phục vụ đào tạo, dịch vụ, chuyển giao công nghệ và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc trường + Tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể. Điều 9: Đại hội đồng cổ đông: 1. Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và cổ đông phổ thông, trong đó cổ đông phổ thông không có quyền biểu quyết nhưng có quyền tham gia ý kiến trong các cuộc họp. 2. Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nhiệm vụ sau: a, Xác định mục tiêu, phương hướng và phát triển; kế hoạch thực hiện hàng năm, từng giai đoạn; việc mở rộng, thay đổi, điều chỉnh ngành nghề quy mô và trình độ đào tạo, định hướng hoạt động khoa học và công nghệ gắn với chiến lược phát triển của trường. b, Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng Quản trị và thành viên Ban Kiểm soát của trường; giải quyết các yêu cầu về việc bổ sung, thay đổi thành viên Hội đồng Quản trị. c, Thông qua báo cáo tài chính hàng năm của trường d, Thông qua quy định về vốn có quyền biểu quyết và các quy định nội bộ khác của trường như về tiêu chuẩn lựa chọn Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Hiệu trưởng. đ, Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định tại Quy chế tổ chức hoạt động của trường. 3. Đại hội đồng cổ đông được triệu tập họp thường niên bắt buộc họp mỗi năm một lần hoặc họp đột xuất theo quyết định Hội đồng Quản trị hoặc theo yêu cầu của cổ đông sở hữu trên 30% số cổ phần. - Trong trường hợp Hội đồng Quản trị vi phạm nghiêm trọng Quy chế tổ chức và hoạt động của trường thì Ban kiểm soát được quyền triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường, đồng thời thông báo cho Hội đồng Quản trị biết. - Mọi chi phí cho việc triệu tập và tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông được tính trong kinh phí hoạt động của trường. - Việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải thực hiện theo hình thức gửi giấy mời họp kèm theo dự kiến chương trình, nội dung cuộc họp và các tài liệu liên quan đến tất cả cổ đông trong Đại hội đồng cổ đông trước ít nhất là 7 ngày so với ngày họp. 4. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được coi là tiến hành hợp lệ khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất là 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên tham gia dự họp. Tỷ lệ cụ thể do Quy chế tổ chức và hoạt động của trường quy định không thấp hơn tỷ lệ này. 5. Nội dung các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông phải được ghi bằng biên bản và được thông qua ngay tại cuộc họp có chữ ký của người chủ trì và thư ký cuộc họp để lưu trữ. Việc thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thực hiện bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được coi là có giá trị hiệu lực khi được số đông đại diện ót nhất là 50% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả số cổ đông dự họp chấp thuận. Tỷ lệ cụ thể do quy chế tổ chức và hoạt động của trường quy định… VỀ TÀI CHÍNH VÀ TÀI SẢN Điều 26: Chế độ tài chính: 1. Trường Đại học tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện góp vốn, tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi, thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, thống kê, nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và các quy định hiện hành khác liên quan.                                                    2. Trường Đại học tư thục được quyền vay vốn của các tổ chức tín dụng để đầu tư mở rộng cơ sở vật chất nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và sản xuất cung ứng dịch vụ. Trường Đại học tư thục được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng. Điều 27: Nguồn tài chính: Nguồn tài chính của trường đại học tư thục gồm: 1. Vốn góp của các cổ đông và nguồn tài chính bổ sung từ kết quả hoạt động hàng năm của nhà trường 2. Các nguồn tài chính khác bao gồm: a, Học phí, lệ phí thu từ người học theo quy định của pháp luật b, Thu từ các hoạt động liên kết hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất thử và các hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ khác của pháp luật. c, Lãi tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng. d, Các khoản đầu tư, tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà tặng (bằng tiền, bằng hiện vật) của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. đ, Vay vốn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, cá nhân. e, Các khoản thu hợp pháp khác. Điều 28: Nội dung chi: Chi tiền lương, phụ cấp lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y t ế cho người lao động, các khoản chi phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường. Các khoản chi cho người học; học bổng, khen thưởng Chi cho hoạt động văn hóa, thể thao. Chi cho hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, dạy nghề, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng công nghệ, phục vụ giảng dạy học tập. Chi quản lý hành chính Đầu tư phát triển cơ sở vật chất, chi trả tiền thuê, mướn cơ sở vật chất mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất, tài sản, trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Trích khấu hao Tài sản cố định Chi trả vốn vay và lãi vốn vay Chi cho các hoạt động nhân đạo, từ thiện Các khoản chi khác theo quy định của trường (theo quy chế chi tiêu nội bộ) không trái với quy định của pháp luật. Điều 29: Quản lý Tài chính và Tài sản: Tài chính và tài sản của trường Đại học tư thục được hình thành từ các nguồn thu quy định tại điều 26 Quy chế này. Chế độ chi tiêu tài chính và sử dụng tài sản phải được Hội đồng Quản trị của trường quy định cụ thể, minh bạch. Trường Đại học tư thục có trách nhiệm báo cáo hoạt động tài chính hàng năm cho cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính liên quan ở địa phương. Dự toán, quyết toán hàng năm của trường do Hiệu trưởng trình, Hội đồng Quản trị phê chuẩn và báo cáo công khai tại cuộc họp (hay Hội nghị) Đại hội đồng cổ đông hàng năm. Định kỳ hàng năm, các tài sản của trường phải được kiểm kê đánh giá lại giá trị và kiểm toán theo quy định của pháp luật. Trường đại học có thể tự quy định tỷ lệ khấu hao nhanh các tài sản cố định để thu hồi vốn nhưng không vượt quá mức trích khấu hao tối đa theo quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp. Trường Đại học tư thục phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để làm cơ sở pháp lý điều hành tài chính của trường. Tài sản của trường Đại học tư thục bao gồm: a, Tài sản do các tổ chức, các cá nhân đầu tư, góp vốn b, Tài sản tăng thêm nhờ kết quả hoạt động của trường c, Tài sản do hiến, tặng, cho, tài trợ d, Học phí, lệ phí thu từ người học theo quy định của pháp luật Quyền sở hữu tài sản. Tài sản của các trường Đại học tư thục được hình thành từ vốn góp của các cổ đông thuộc sở hữu tư nhân của các tổ chức, cá nhân góp vốn theo số lượng cổ phần tài sản do biếu, tặng cho, tài trợ hoặc tăng thêm nhờ kết quả hoạt động của trường thuộc sở hữu chung của trường Đại học tư thục. Tài sản thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu chung được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật. Thực hiện chế độ công khai tài chính và chấp hành công tác kiểm tra tài chính theo quy định của Nhà nước… 4. Về quy mô tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội 4.1. Những vấn đề chung: - Trường là một tổ chức hợp tác của những người lao động trí óc, tự nguyện góp sức, góp vốn để xây dựng và phát triển Trường bền vững vì mục đích đào tạo nhân lực trình độ cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, không vì mục đích lợi nhuận. - Trường là một đơn vị thành viên của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam do Trung ương Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam thành lập và xây dựng theo mô hình tư thục, chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của UBND thành phố Hà Nội. - Trường được tổ chức và hoạt động theo “Quy chế trường đại học tư thục do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17/1/2005; Quyết định số 61/2019 QĐ-TTg ngày 17/4/2009; Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014. - Trường là một tổ chức tự chủ về tài chính, hoạt động theo pháp luật Nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại ngân hàng, có trụ sở ở thủ đô Hà Nội. - Trường có các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau: + Đào tạo về các ngành kinh tế, kinh doanh, quản lý, kỹ thuật công nghệ, bảo vệ sức khỏe, ngoại ngữ… với các bậc học đại học, sau đại học và với các hình thức đào tạo chính quy vừa học vừa làm, liên thông, trực tuyến. + Trường lập đào tạo nghề nghiệp, thực hành làm định hướng chủ yếu; lấy chất lượng làm mục tiêu hàng đầu, không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Nghiên cứu khoa học về kinh tế, kinh doanh quản lý, phát triển kỹ thuật công nghệ… nhằm không ngừng hoàn thiện phương pháp và nội dung đào tạo; Thực hiện dịch vụ tư vấn về kinh doanh và các dịch vụ kỹ thuật công nghệ. + Hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học, phù hợp với các chức năng của Trường và các quy định của Nhà nước. 4.2. Về cổ phần, cổ đông, đại hội đồng cổ đông: - Về cổ phần: là số tiền do từng người góp lại để tạo thành vốn hoạt động của Trường. Mỗi cổ phần được ấn định là một triệu đồng Việt Nam. Số tiền này được ấn định căn cứ vào giá trị của đồng Việt Nam ở thời điểm thành lập Trường (tháng 6 năm 1996). Những khoản góp cổ phần sau thời điểm đó phải tính đến chỉ số giá cả (CPI) để tăng hay giảm. Mức tăng hay giảm này do Hội đồng Quản trị công bố cho từng thời điểm. Giấy chứng nhận cổ phần là giấy chứng nhận ghi danh. - Về cổ đông: Để trở thành cổ đông, ngoài các thủ tục để được kết nạp công nhận là cổ đông của trường, phải có mức góp tối thiểu 10 (mười) cổ phần. Không phân định mức góp tối đa. Cổ đông có quyền dự đại hội đồng cổ đông, đồng thời phải hết lòng, hết sức trong phạm vi khả năng của mình góp phần vào việc xây dựng Trường. Tuân thủ Quy chế và các quy định của Trường, tham gia tích cực vào công việc của Đại hội đồng cổ đông, chấp hành các quyết định của đại hội đồng cổ đông và của Hội đồng Quản trị. Nghĩa vụ của cổ đông: + Hết lòng, hết sức trong phạm vi khả năng của mình góp phần vào việc xây dựng và phát triển Trường. + Bài trừ mọi hành vi tác hại đến lợi ích và thanh danh của Trường, hoặc lợi dụng danh nghĩa của Trường để mưu lợi ích riêng. + Xây dựng quan hệ hợp tác trung thực giữa các cổ đông với nhau, hình thành một tập thể đoàn kết, vì sự nghiệp cao cả của Trường… Bài trừ mọi hành vi chia rẽ, gây rối nội bộ… + Người nào làm trái các nghĩa vụ trên thì Hội đồng Quản trị có quyền yêu cầu rút khỏi danh sách cổ đông. + Cổ đông được chuyển nhượng cổ phần và rút vốn theo quy định của “Quy chế tổ chức hoạt động” của Trường đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua tại kỳ Đại hội. - Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là chủ tập thể của Trường, là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Trường. Đại hội đồng cổ đông họp thường kỳ mỗi năm một lần để thảo luận các báo cáo, các đề án của Hội đồng Quản trị, của Ban Kiểm soát. Đại hội đồng cổ đông được triệu tập theo Quyết định của Hội đồng Quản trị và các yêu cầu khác được quy định trong “Quy chế hoạt động”… 4.3. Về Tổ chức bộ máy: - Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường gồm có: Hội đồng Quản trị Ban Kiểm soát Ban Giám hiệu gồm: Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng Các tổ chức trực thuộc Ban Giám hiệu bao gồm: Hội đồng Khoa học và đào tạo Các phòng, ban chức năng Các Khoa trực thuộc Ban Giám hiệu Các tổ chức nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học và dịch vụ đào tạo Các tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội. - Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức bộ máy của Trường đều được ban hành theo Quyết định của cấp có thẩm quyền của Trường. 4.4. Về cán bộ, giảng viên, nhân viên và người học: - Cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường làm việc theo chế độ hợp đồng dài hạn, ngắn hạn, được hưởng tiền lương và thù lao theo số lượng và chất lượng lao động thực tế cống hiến, được khen thưởng và đãi ngộ theo các quy định của Trường. + Cán bộ, nhân viên, giảng viên cơ hữu là những người ký hợp đồng dài hạn từ 1 năm trở lên, được nhà trường đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của luật lao động; Nếu vi phạm quy đình thì bị xử lý kỷ luật. + Các giảng viên, nhà khoa học, nhà quản lý thuộc biên chế Nhà nước có thể làm việc cho Trường theo chế độ thỉnh giảng, phù hợp với quy định của Nhà nước. - Về người học: Ở các bậc học, các hình thức đào tạo được nhập học theo quy chế tuyển sinh và thực hiện đầy đủ các quy định của “Quy chế sinh viên, học viên” do Trường ban hành. 4.5. Vốn - Tài sản và Tài chính:  1/ Vốn - Tài sản và Tài chính của trường bao gồm các nội dung sau: - Vốn điều lệ của Trường gồm 2 thành phần: Vốn góp cổ phần của các cổ đông. Vốn này thuộc sở hữu cá nhân của các cổ đông. Quỹ tích lũy không chia hình thành từ Quỹ phát triển, Quỹ dự phòng… được tích tụ qua các năm từ ngày thành lập Trường, đó là “Quỹ tích lũy không chia thuộc sở hữu tập thể của các cổ đông”. Quỹ này tạo lập nên trụ sở, cơ sở học tập, tài sản phục vụ cho học tập v.v… Đó là cơ sở vật chất vững chắc cho sự trường tồn của Trường. 2/ Nguồn thu của Trường gồm có: - Vốn góp (cổ phần) của các cổ đông - Học phí, lệ phí thu của người học - Thu từ dịch vụ đào tạo và các dịch vụ khác - Thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và hợp tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng bản quyền và sở hữu trí tuệ. - Các khoản tích lũy từ kết quả hoạt động hàng năm của Trường. - Lãi tiền gửi Ngân hàng - Thanh lý, tài sản - Các khoản tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà tặng của các tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài. - Các khoản tiền vay; - Các khoản thu khác. 3/ Các khoản chi của Trường gồm có: - Chi thường xuyên: Chi tiền lương, Chi thù lao giờ giảng; Chi cho đào tạo; Chi cho hoạt động giảng dạy; Các khoản cho cho người học; Chi cho quản lý hành chính; Chi trả tiền thuê trường sở; Chi mua sắm tài sản; Chi mua sắm thiết bị đào tạo; Chi trả lợi tức vốn góp, lãi tiền vay; Trích khấu hao tài sản cố định; Trợ cấp nghỉ việc; Trợ cấp khó khăn; Chi cho hoạt động nhân đạo từ thiện; Chi phí tuyển sinh; Các khoản chi khác. - Chi cho đầu tư phát triển: Xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn nhà cửa… 4/ Sử dụng thu nhập ròng của Trường: -Thu nhập hàng năm trừ cho phí nếu có số dương là thu nhập ròng, được sử dụng như sau: + Lập quỹ dự phòng; Quỹ phúc lợi; Quỹ phát triển. 4.6. Thanh tra - Kiểm tra: - Trường tổ chức công tác tự thanh tra, kiểm tra các hoạt động của Trường theo quy định hiện hành. Trường chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. - Trường không cho phép bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào lợi dụng danh nghĩa của Trường hoặc sử dụng các cơ sở của Trường để tiến hành các hoạt động không phù hợp với tôn chỉ, mục đích của Trường. PGS.TS. Hà Đức Trụ Phó Hiệu trưởng Trường ĐHKD&CNHN  

Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên: Đồng hành cùng doanh nghiệp, doanh nhân thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

Năm 2019 đánh dấu chặng đường 15 năm thành lập và phát triển của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tỉnh Thái Nguyên. Kể từ khi thành lập đến nay, Hiệp hội đã thực hiện tốt chức năng đại diện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, thực hiện các hoạt động tư vấn, xúc tiến thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng mối quan hệ lao động bình đẳng, nâng cao trách nhiệm xã hội cho doanh nghiệp, tham mưu cho tỉnh về việc phát triển doanh nghiệp.   Ban chấp hành Hiệp hội DNNVV tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2015 - 2020 Từ những ngày đầu chỉ có 58 hội viên, đến nay Hội đã có 07 chi hội cơ sở với hơn 400 doanh nghiệp hội viên; tổng số vốn đăng ký là 58.713,9 tỷ đồng; các chi hội cơ sở hoạt động rộng khắp trên các huyện, thành phố, thị xã của tỉnh. Qua các kỳ đại hội đã thành công tốt đẹp và có sức lan tỏa, Hiệp hội đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức phân công nhiệm vụ từng đồng chí trong Ban chấp hành Hiệp hội, từ đó đến nay, Ban Chấp hành Hiệp hội đều thực hiện nghiêm túc và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thành tích nổi bật của Hiệp hội trong thời gian qua được thể hiện qua một số hoạt động chính như sau: Một là, Hiệp hội rất chú trọng tới nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các Nghị quyết của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND Tỉnh đến các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp hiểu đúng và làm việc theo  pháp luật của Nhà nước. Hiệp hội th­ường xuyên cung cấp thông tin và t­ư vấn cho các doanh nghiệp cập nhật đường lối, chủ trư­ơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nư­ớc để Doanh nghiệp làm tốt công tác phát triển SXKD, gắn với thực hiện đ­ường lối chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước nghiêm. từ những cố gắng trên, các Doanh nghiệp hội viên đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, sự đổi mới của tỉnh Thái Nguyên.   Đồng chí Nguyễn Xuân Tốt - Chủ tịch Hiệp hội DNNVV tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2015 - 2020 Hai là, Hiệp hội luôn đại diện cho các doanh nghiệp trong việc tham mưu với UBND tỉnh phát triển doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp. Hiệp hội đã tìm mọi giải pháp giúp các doanh nghiệp tháo gỡ  khó khăn;  như giãn nợ, khoanh nợ đề xuất với các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục cho các doanh nghiệp vay vốn với lãi suất ưu đãi. Cộng với sự nỗ lực vượt bậc của các doanh nghiệp đã vượt qua giai đoạn khủng hoảng làm ăn trên đà phát triển, tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, tạo được công ăn việc làm thường xuyên cho người lao động có mức thu nhập ổn định, lương bình quân từ 5.500.000đ trở lên/người/tháng, bên cạnh đó có những doanh nghiệp trả lương cho cán bộ, nhân viên bình quân 7.500.000đ/người/tháng, 9.000.000đ/người/tháng tùy vào công việc người lao động đảm nhiệm. Ba là, Hiệp hội tổ chức nhiều các hoạt động như tổ chức tập huấn; liên kết kinh doanh; xúc tiến thương mại và hỗ trợ hội viên trong hoạt động của các doanh nghiệp. Hàng năm Hội đã gửi phiếu thăm dò, khảo sát thông tin tới các doanh nghiệp, tổ chức các cuộc hội đàm đối thoại với các cơ quan chức năng để tháo gỡ những vướng mắc cho các doanh nghiệp, giúp cho UBND tỉnh tiếp cận trực tiếp với các doanh nghiệp về những vấn đề doanh nghiệp quan tâm như: thủ tục hành chính, thuế hải quan, đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh,xuất nhập khẩu, tạo nên sự quan tâm hiểu biết lẫn nhau, tăng cường hợp tác giữa các cấp chính quyền và doanh nghiệp từ đó tạo ra mối quan hệ cởi mở giúp doanh nghiệp kinh doanh ngày càng hiệu quả, kết quả SXKD năm sau cao hơn năm trước. Đại diện Hiệp hội, các đồng chí lãnh đạo Hiệp hội tham gia góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992, Luật đất đai, tham gia đóng góp nhiều ý kiến xây dựng pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, như Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa nay đã được Quốc hội thông qua, được đánh giá cao, Hiệp hội  tham dự nhiều hội thảo khoa học của tỉnh, VCCI, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa việt Nam liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế- xã hội và phát triển doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa do các Bộ, ngành tổ chức. Bốn là, Hiệp hội luôn quan tâm đến hội viên, có vấn đề gì hội viên gặp khó khăn vướng mắc, các đồng chí trong Lãnh đạo Hiệp hội luôn có mặt kịp thời để trao đổi cụ thể, chia sẻ động viên và tìm cách tháo gỡ. Hiệp hội phối hợp với Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Thái Nguyên, Đài truyền thanh truyền hình thành phố Thái Nguyên, các huyện, Tạp chí Doanh nghiệp và hội nhập, Doanh nghiệp và đầu tư (Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam) tích cực tuyên truyền quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp và đưa tin những tấm gương doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, phối hợp với báo Đại đoàn kết tham gia các chương trình quảng bá thương hiệu qua các kênh thông tin quảng cáo, chuyên mục các Doanh nghiệp tự giới thiệu.... Năm là, công tác đầu tư xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp luôn được Hiệp hội quan tâm và triển khai tới từng doanh nghiệp hội viên. Hiệp hội đã ký kết hợp tác với 26 Hiệp hội, Hội doanh nghiệp các tỉnh phía Bắc, hàng năm  tổ chức tốt “Diễn đàn Hợp tác liên kết Hiệp hội, hội doanh nghiệp nhỏ và vừa các tỉnh, Thành phố khu vực phía Bắc” qua diễn đàn giao lưu học tập kinh nghiệm, kết nối kinh doanh với các doanh nghiệp tỉnh bạn, đề xuất kiến nghị với các cấp từ Trung ương đến địa phương những vướng mắc cần tháo gỡ để giúp các hội viên doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, Hiệp hội đã tuyên truyền sâu rộng tới các doanh nghiệp hỗ trợ kinh doanh lẫn nhau với hình thức tiêu thụ sản phẩm cho nhau, hỗ trợ nhau về vốn trong kinh doanh. Đây là việc làm hết sức thiết thực tạo nên môi trường đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Ngoài ra, Hiệp hội còn tổ chức thăm hỏi các hội viên gặp khó khăn, tổ chức và tham dự  khai trương hội nghị khách hàng cùng các doanh nghiệp... Tổ chức các đoàn tham quan học tập, tham gia hội chợ ở các nước bạn như: Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia… và các tỉnh phía Nam. Sau mỗi lần đi về các giám đốc doanh nghiệp đã nâng cao được tầm hiểu biết, học tập được nhiều kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp bạn và có những chuyến đi gặp được đối tác trong kinh doanh, giúp doanh nghiệp rất nhiều. Sáu là, làm tốt công tác tuyên truyền phát triển sản xuất kinh doanh gắn với công tác an sinh xã hội, công tác từ thiện, nhân đạo. Hàng năm Hiệp hội đã triển khai các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc mở các lớp tập huấn nâng cao kiến thức cho các đồng chí lãnh đạo doanh nghiệp, thăm quan trao đổi kinh nghiệm hoạt động của các hội, tham gia hội nghị diễn đàn doanh nghiệp các tỉnh phía Bắc. Từ đó, các doanh nghiệp đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm, vận dụng vào thực tiễn hoạt động của mình. Thực hiện chủ trương hướng về cơ sở, Hiệp hội đã tranh thủ sự giúp đỡ và hỗ trợ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội DNNVV Việt Nam xây dựng hợp tác với các sở, ngành và các tổ chức chính trị, xã hội trong tỉnh. Lấy ý kiến của các doanh nghiệp về dự thảo chính sách pháp luật, giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh. Hiệp hội đã ký thoả thuận hợp tác với các ngân hàng nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giúp đỡ các doanh nghiệp về vốn. Triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, tập huấn Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, phần mềm kế toán, nâng cao năng lực, nâng cao tổ chức quản lý và điều hành doanh nghiệp. Hợp tác với Trường Đại học Kinh tế tổ chức các lớp học thực tập cho con em các doanh nghiệp. Hiệp hội đã thực hiện và triển khai nghiêm túc những chương trình kế hoạch đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước qua kênh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội DNNVV Việt Nam, tới các doanh nghiệp hội viên, nhất là các chương trình nâng cao trình độ cho các lãnh đạo doanh nghiệp, các kế toán doanh nghiệp... Phối hợp với Liên minh hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên và Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phía Bắc thuộc Bộ  Kế hoạch và Đầu tư mở được 85 lớp tập huấn cho các doanh nghiệp, nhằm mục đích nâng cao trình độ quản lý cho các giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp, kế toán Doanh nghiệp, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, nâng tầm hiểu biết để các doanh nghiệp thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật.    Với những thành tích đạt được trong quá trình 15 năm hoạt động, Hiệp hội DNNVV tỉnh Thái Nguyên đã được nhận nhiều Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội DNNVV Việt Nam, đặc biệt là Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2014 và năm 2019 đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Các doanh nghiệp hội viên thuộc Hiệp hội đã được Nhà nước, các Bộ, ngành tặng nhiều hình thức khen thưởng. Những kết quả mà cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp của tỉnh đạt được trong những năm qua đã góp phần tích cực cho sự phát triển của tỉnh./.

Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC): Sẵn sàng kế hoạch đảm bảo điện trong dịp Lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2020

Theo tin từ Tổng công ty Điện lực miền Bắc: Để đảm bảo cung ứng điện ổn định, an toàn, tin cậy phục vụ các yêu cầu hoạt động chính trị, xã hội, sản xuất, kinh doanh của các địa phương và nhu cầu sinh hoạt, vui chơi của nhân dân các tỉnh, thành phía Bắc trong dịp lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, các đơn vị trong Tổng công ty đảm bảo lập và thực hiện kế hoạch, đảm bảo điện cho sản xuất và tiêu dùng, trong đó có phương án đảm bảo cung cấp điện, đảm bảo an ninh, an toàn phòng chống cháy nổ trong dịp Lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2020. Tăng cường kỷ luật vận hành, bảo vệ an ninh, an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ trong dịp Lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2020.   Cụ thể, trong các ngày Lễ Noel (từ 0h ngày 24/12 đến hết 24h ngày 25/12/2019), Tết Dương lịch (từ 0h ngày 31/12/2019 đến hết 24h ngày 01/01/2020), Tết Nguyên đán 2020 (từ 0h ngày 24/01/2020 tức ngày 30 Tết đến hết 24h ngày 27/01/2020 tức ngày mùng 03 Tết), các đơn vị không thực hiện các công việc phải cắt điện trên lưới làm mất điện khách hàng, trừ trường hợp cắt điện để xử lý sự cố. Tổng công ty yêu cầu các đơn vị lập và thực hiện kế hoạch, đảm bảo điện cho sản xuất và tiêu dùng, trong đó có phương án đảm bảo cung cấp điện, đảm bảo an ninh, an toàn phòng, chống cháy nổ trong dịp Lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2020. Các đơn vị cần tăng cường kỷ luật trong vận hành, bảo vệ an ninh, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, tăng cường lãnh đạo, nhân viên trực vận hành, sửa chữa điện 24/24. Các vật tư, thiết bị, hệ thống thông tin liên lạc và phương tiện đi lại cần được chuẩn bị đầy đủ sẵn sàng xử lý nhanh các sự cố phát sinh. Bên cạnh đó, các đơn vị cần chú ý quan tâm đến chế độ vật chất, tinh thần cho lực lượng trực trong dịp Lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2020. Trung tâm chăm sóc khách hàng bố lực lượng trực 24/24h, kịp thời nắm bắt thông tin, giải đáp các ý kiến của khách hàng trong thời gian đảm bảo điện dịp Lễ Noel, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2020. Đồng thời, Tổng công ty cũng đã yêu cầu các đơn vị tăng cường công tác kiểm tra, củng cố lưới điện đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục, tin cậy cho khách hàng sử dụng điện, các địa điểm diễn ra các hoạt động chính trị, văn hoá, nghệ thuật trong dịp Lễ, Tết và chú ý đảm bảo điện cho các nhà máy, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng phục vụ Tết năm 2020.  Các đơn vị cần tích cực phối hợp với địa phương và các cơ quan thông tin tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các biện pháp sử dụng điện an toàn, tiết kiệm đến khách hàng sử dụng điện, tuyên truyền ngăn ngừa và xử lý nghiêm các trường hợp bắn pháo giấy tráng kim loại, thả diều và ném các vật lên đường dây, vi phạm hành lang tuyến dây./.

Tập đoàn Hoa Sen khẳng định không bị ảnh hưởng từ việc Mỹ quyết định áp thuế chống lẩn tránh

TĐKT- Ngày 19/12, Tập đoàn Hoa Sen khẳng định không bị ảnh hưởng từ việc Mỹ quyết định áp thuế chống lẩn tránh lên đến 456,2% đối với thép chống ăn mòn và thép cán nguội sản xuất từ thép nền có nguồn gốc từ Hàn Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan. Ngày 16/12/2019 Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ra quyết định cuối cùng về việc áp thuế chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá (Antidumping Duty = AD) và thuế chốngtrợ cấp (Countervailing Duty = CVD) đối với thép chống ăn mòn (Corrosion-resistantsteel = CORE) và thép cán nguội (Cold-rolled steel = CRS) được sản xuất tại Việt Nam mà sử dụng thép nền là thép cán nóng (Hot-rolled steel = HRS) và/hoặc thép cánnguội (Cold-rolled steel = CRS) từ Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan. Mức thuếchống lẩn tránh cao nhất được xác định lên đến 456,2%. Theo Quyết định cuối cùng của DOC, Tập đoàn Hoa Sen không thuộc danh sách cácdoanh nghiệp bị áp thuế chống lẩn tránh. DOC cho phép Tập đoàn Hoa Sen tham gia quy trình chứng nhận các lô hàng CORE và CRS xuất khẩu vào thị trường Mỹ màkhông sử dụng thép nền từ Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan thì sẽ không bị ápthuế chống lẩn tránh. Đại diện Tập đoàn Hoa Sen khẳng định thêm: “Từ trước đến nay, chúng tôi luôn nghiêm túc chấp hành tất cả các quy định của DOC khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ. Đối với các lô hàng xuất khẩu đi Mỹ chúng tôi không sử dụng thép nền có nguồn gốc từ Hàn Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan, Trung Quốc. Đồng thời chúng tôicung cấp các tài liệu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu đầu vào, quá trình sản xuất đến sản phẩm đầu ra theo yêu cầu của DOC một cách rất minh bạch. Quyết định nàycủa DOC không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tập đoànHoa Sen. Tập đoàn Hoa Sen vẫn đang xuất khẩu các đơn hàng vào thị trường Mỹ bìnhthường.” Những năm gần đây, ngành thép Việt Nam liên tục đối mặt với các vụ kiện phòng vệ thương mại tại các thị trường nước ngoài. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt với nhau tại thị trường nội địa do cung lớn hơn cầu và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã làm cho giá HRS giảm trong suốt chu kỳ kinh doanh đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. Tuy vậy, Tập đoàn Hoa Sen vẫn đạt những kết quả khả quan cho thấy những triển vọng tốt hơn trong thời gian sắp tới. Chủ động tái cấu trúc hệ thông phân phối, cân đối cơ cấu tài chính, giảm nợ vay, giảm hàng tồn kho, tái cơ cấu sản phẩm, tập trung vào những mặt hàng, thị trường có biên lợi nhuận cao, NĐTC 2018 – 2019 Tập đoàn Hoa Sen đạt 28.034 tỷ đồng doanh thu và 361 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế hợp nhất. Dư nợ ngân hàng bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn vào cuối NĐTC 2018 – 2019 là gần 9.700 tỷ đồng, đã giảm gần 4.650 tỷ đồng so với đầu NĐTC. Chỉ số nợ vay ngân hàng/vốn chủ sở hữu giảm mạnh từ mức 2,78 lần xuống còn 1,77 lần. Mới đây, trong danh sách VNR500 – Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo mô hình của Fortune 500 do Vietnam Report công bố, Tập đoàn Hoa Sen đứng vị trí thứ 12 trong các Doanh nghiệp Tư nhân lớn nhất Việt Nam 2019 và vị trí thứ 36 trong các Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2019. Đồng thời, năm 2019 Tập đoàn Hoa Sen cũng được vinh danh ở nhiều bảng xếp hạng như: Top 100 doanh nghiệp phát triển bền vững do Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố; Top 1000 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam do Tổng Cục Thuế công bố; Sản phẩm Tôn Hoa Sen, Ống kẽm Hoa Sen đạt giải thưởng Chất lượng Quốc gia của Bộ Khoa học – Công nghệ và được Thủ tướng Chính phủ trao tặng vào 6/2019 vừa qua. Đào Xuân Phúc

Trang