Điển hình tiên tiến

Bệnh viện Xây dựng đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

TĐKT – Chiều 22/2, tại Hà Nội, Bệnh viện Xây dựng (Bộ Xây dựng) tổ chức Lễ kỷ niệm 62 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2017), Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2017 và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Bệnh viện Xây dựng là một bệnh viện nằm trong mạng lưới y tế Quốc gia, trực thuộc Bộ Xây dựng và sự chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Y tế, có chức năng, nhiệm vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động ngành Xây dựng và cộng đồng. Những năm qua, Bệnh viện không ngừng nỗ lực vươn lên trở thành một bệnh viện đa khoa hạng I, nơi khám và điều trị cho nhân dân thuộc nhiều đối tượng khác nhau, là địa chỉ đáng tin cậy cho mọi người dân các nơi tìm đến khi có vấn đề về sức khỏe. Bên cạnh việc trau dồi, nâng cao kiến thức chuyên môn và thái độ phục vụ tận tình chu đáo với bệnh nhân, Bệnh viện đã ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý bệnh viện, khám, chữa bệnh, tổ chức quy trình khám bệnh lấy số và xếp hàng tự động, kết nối mạng online kết quả xét nghiệm với lâm sàng để rút ngắn thời gian chờ đợi cho bệnh nhân. Đồng thời, Bệnh viện đã triển khai ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật chẩn đoán và điều trị công nghệ cao: phẫu thuật Phaco, phẫu thuật cột sống qua C- arm, nội soi chẩn đoán và can thiệp tiêu hóa, chụp cắt lớp VCT64 dãy đầu thu, siêu âm màu tim mạch, tuyến giáp… đạt được kết quả cao, giải quyết được ca bệnh nặng, khó và phức tạp. Trong năm 2016, bệnh viện đã triển khai tốt công tác khám sức khỏe định kỳ, đo môi trường lao động, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho các đơn vị trong ngành Xây dựng và cộng đồng. Tổ chức khám bệnh nghề nghiệp cho các đơn vị và phát hiện các trường hợp bị bệnh bụi phổi silic, điếc nghề nghiệp và các bệnh nghề nghiệp khác. Được sự giúp đỡ của Bộ Y tế, Bệnh viện đã triển khai các chương trình Y tế Quốc gia tới các đơn vị trong ngành: chương trình phòng chống sốt rét, phòng, chống HIV/AIDS, chương trình phòng, chống đái tháo đường, sốt xuất huyết, đặc biệt tại các công trình trọng điểm: Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Thủy điện Ghi nê xích đạo và các đơn vị có công trường nằm tại vùng có sốt rét lưu hành… Với những thành tích đã đạt được, nhân dịp kỷ niệm 62 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, Bệnh viện Xây dựng vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Minh Phương

Người bác sĩ với trái tim giàu nhiệt huyết

TĐKT - Nhắc đến Bác sĩ - Thầy thuốc Ưu tú  Phạm Hồng Phương, Trưởng khoa Tim mạch Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An là nhắc đến một người bác sĩ với trái tim ấm nóng, giàu nhiệt huyết với đời, với nghề được đồng nghiệp và bệnh nhân yêu mến.   Bác sĩ Phạm Hồng Phương chăm sóc bệnh nhân Bác sĩ Phạm Hồng Phương tâm sự, cái duyên đến với nghề y của anh chính là nhờ “thâm niên” nằm viện. Cả tuổi thơ của anh, cha mẹ hết mang anh nằm bệnh viện huyện Diễn Châu đến bệnh viện tỉnh Nghệ An. Anh quen thuộc với những mũi tiêm, với mùi bệnh viện, với bóng áo trắng cũng như những cơn đau của bệnh viêm khớp hành hạ anh qua tháng, qua năm. Nhưng khó khăn không ngăn được quyết tâm học thật giỏi trong anh. Chính vì vậy, năm 1986, anh là một trong rất ít thí sinh ở huyện Diễn Châu và tỉnh Nghệ An ngày ấy thi đỗ Đại học Y Hà Nội. Trong tâm niệm của anh, thứ nhất theo ngành y để điều trị được bệnh cho mình, hơn nữa, anh cảm thấy yêu ngành y bởi quãng thời gian dài là bệnh nhân của các bệnh viện. Quãng đời sinh viên y khoa cũng là quãng thời gian khá vất vả với anh, vì thể trạng ốm yếu. Đến năm thứ 3 đại học, anh đã có thể tự điều trị bệnh cho mình và sức khỏe của anh dần khá hơn. Chính điều này đã giúp anh nhìn người bệnh với cái nhìn của một người bệnh, đầy cảm thông, thương xót nhưng quan trọng hơn cả, đó là động lực để anh vươn lên trở thành một bác sĩ giỏi nghề, quyết tâm cứu giúp người bệnh. Năm 1992, sau khi tốt nghiệp đại học, anh trở về quê Nghệ An, xin việc tại khoa Tim mạch Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An và gắn bó với bệnh nhân tim mạch từ ngày ấy tới giờ. Hơn 20 năm gắn bó và chứng kiến bao nhiêu ca bệnh, là bấy nhiêu cảnh đời, bấy nhiêu số phận, bác sĩ Phương cũng có chừng ấy niềm vui, nỗi buồn. Những ngày đầu về viện là những tháng ngày đầy vất vả bởi lúc đấy bệnh viện còn nghèo nàn, máy móc, trang thiết bị chẳng có gì khác ngoài máy điện tâm đồ, vì vậy cơ hội cứu sống bệnh nhân là không nhiều. Hồi đấy anh luôn bị ám ảnh bởi sự bất lực trước người bệnh. Với bất cứ người thầy thuốc nào thì đó là nỗi đau xót lớn nhất. Đối với anh, y đức người thầy thuốc thể hiện qua thái độ với người bệnh, chăm sóc bệnh nhân thế nào, có thương người bệnh không. Nhưng điều trước tiên để nói về y đức cần phải là hiệu quả điều trị bệnh. Một bác sĩ có tâm phải là người không ngừng trau dồi tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ để trị khỏi bệnh và giảm chi phí cho bệnh nhân. Trong hàng ngàn bệnh nhân đã qua đây, anh nhớ nhất một bệnh nhân trẻ tuổi, bị suy tim nặng mà anh là bác sĩ điều trị, theo dõi lâu năm. Một lần kia, bệnh nhân trở nặng, nhập viện, khi đó anh lại đang có chuyến công tác xa. Các y, bác sĩ trong khoa kể lại rằng, người bệnh đó chỉ gọi tên anh trong nỗi khẩn cầu: “bác sĩ Phương, bác sĩ Phương” trước khi mãi mãi đi xa…  Niềm tin cậy, gửi trao của mỗi người bệnh chính là điều hối thúc trong anh rằng mình phải làm gì để xứng đáng với niềm tin ấy. Anh là người đề xuất để phát triển các chuyên môn, kỹ thuật và nhận được sự đồng tình cao của ban giám đốc bệnh viện. Các nhân lực được cử đi học, trang thiết bị được mua sắm, niềm vui nhân lên từ nhiều ca bệnh hiểm nghèo được cứu sống. Sự phát triển có tính đột phá và ngày càng vững chắc ấy có công lao không nhỏ của anh - bác sĩ trầm lặng Phạm Hồng Phương. Anh mừng vui khoe rằng mới đây thôi, các anh cứu sống bệnh nhân Nguyễn Xuân Việt, Chu Văn Hậu bị nhồi máu cơ tim, khi vào đây đã trong tình trạng ngừng tuần hoàn. Từ năm 2009 đến nay, sau khi bệnh viện cử các bác sĩ đi học tập, nắm bắt kỹ thuật cao và được mua sắm nhiều máy móc, số lượng bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa tăng từ 40 - 50 đến 140 - 150 bệnh nhân. Khoa tiến hành can thiệp mạch vành được gần 1000 trường hợp, can thiệp gần 60 ca tim bẩm sinh, phối hợp với Khoa Ngoại tiến hành phẫu thuật tim hở cho gần 200 trường hợp, đã tiến hành cấy máy tạo nhịp tim. Hiện khoa có 7 bác sĩ có chuyên môn can thiệp mạch. Có 6/13 bác sĩ của khoa đang được tạo điều kiện đi học nâng cao về chuyên môn tại Hà Nội. Theo bác sĩ Phương thì phải hết sức khuyến khích để lớp trẻ được nắm bắt các kỹ thuật cao qua các lớp đào tạo, cầm tay chỉ việc… Trăn trở lớn nhất của anh là  thực trạng bệnh nhân tim mạch, tim mạch chuyển hóa, cùng với ung thư đang ngày một nhiều hơn, trở thành gánh nặng của các gia đình và xã hội. Đặc biệt, bệnh mạch vành, tăng huyết áp tăng một cách nhanh chóng. Việc khám, chữa bệnh ban đầu chưa được thực hiện tốt khiến bệnh nhân khi chuyển về tuyến cuối thường đã nặng nên cơ hội chữa khỏi giảm, cũng như gánh nặng về kinh phí của người bệnh tăng cao. Người bệnh nặng nhiều, trong số đó cũng nhiều người nghèo, chi phí cho quá trình điều trị hay can thiệp thì đắt đỏ. Việc thanh toán bảo hiểm hay mua sắm thuốc men cho các bệnh nhân tim mạch hiện nay cũng đang có những khó khăn. Vì vậy, thật xót xa khi nhiều người bệnh không có hay buộc phải từ chối cơ hội điều trị.   Để phát triển chuyên môn, nâng cao hơn nữa cơ hội sống của người bệnh, theo bác sĩ Phương, bên cạnh việc cử nhân lực đi học tập thì rất cần đầu tư trang thiết bị, áp dụng các kỹ thuật cao. Anh cùng với tập thể khoa sẽ theo đuổi chiến lược phát triển trung tâm tim mạch trong lòng bệnh viện để sớm xây dựng bệnh viện trở thành địa chỉ đỏ về y tế của khu vực Bắc Trung bộ. Với những nỗ lực không ngừng, bác sĩ Phạm Hồng Phương đã luôn đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua từ năm 2005 đến nay, 2 lần anh được tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, được phong danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú. Anh cũng đã học cao học từ những năm 1997 - 2000, hiện đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ. Hồng Thiết

Người giáo viên đam mê chắp cánh cho những giọng hát

TĐKT – Suốt 40 năm gắn bó với sự nghiệp nghệ thuật và sự nghiệp trồng người, giảng viên Vũ Thị Bích Hồng, Tổ trưởng tổ Thanh nhạc, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An đã dạy dỗ, dìu dắt nhiều thế hệ sinh viên đạt được nhiều thành tích cao trong các cuộc thi ca múa nhạc chuyên nghiệp. Cô là người tận tâm và đóng góp nhiều thành tích cho nghệ thuật tỉnh Nghệ An nói chung và nhà trường nói riêng, luôn được bạn bè, đồng nghiệp ngưỡng mộ, học trò và các thế hệ giáo viên yêu kính.   Giảng viên Vũ Thị Bích Hồng (thứ hai từ trái sang) nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Cô Bích Hồng chia sẻ, cô bắt đầu con đường nghệ thuật là một nghệ sĩ cải lương của đoàn văn công Nghệ Tĩnh, sau đó chuyển về đoàn ca múa nhạc Hương Sen, Nghệ An. Với hơn 20 năm trong nghề ca sĩ, biểu diễn sân khấu, cô được mời về giảng dạy tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An. Bằng sự tận tụy với nghề, hết lòng với sinh viên, cô đã truyền cho các em nhiều kỹ năng, kinh nghiệm quý báu và niềm đam mê. Trong quá trình luyện tập, giảng viên Bích Hồng áp dụng linh hoạt các phương pháp luyện tập cho từng sinh viên. Đặc biệt, cơ địa mỗi người mỗi khác nên khi dạy thanh nhạc, giảng viên Bích Hồng dựa trên cơ thể, sinh đới của từng người. Ngoài ra, cô thường xuyên ghi đầy đủ, cặn kẽ vào “Nhật ký giảng dạy” những ưu, khuyết điểm của mỗi học trò để rút ra những phương pháp riêng giảng dạy cho mỗi trò. Nhờ thế, mỗi sinh viên đã khắc phục điểm hạn chế để ngày càng hoàn thiện giọng hát. Qua sự mài dũa của giảng viên Bích Hồng, nhiều em đã trở thành những giọng ca đặc sắc của tỉnh nhà. Nhờ cô hướng dẫn, luyện tập, nhiều em đã thành công và ghi dấu ấn tại các cuộc thi ca múa nhạc chuyên nghiệp. Điển hình: Nguyễn Thị Thanh Tâm, giải Nhất cuộc thi Tiếng hát dân ca Huế năm 2007; sinh viên Phan Thị Dịu đạt Huy chương Vàng và Nguyễn Thị Hồng đạt Huy chương Bạc trong Hội thi tài năng trẻ học sinh, sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật, du lịch và thể dục, thể thao toàn quốc diễn ra tại Đà Nẵng năm 2009; Đậu Thanh Tài giải Nhì tiếng hát truyền hình Sao Mai tỉnh Nghệ An năm 2013 và lọt vào chung kết Sao Mai miền Trung – Tây Nguyên năm 2015… Trong tâm niệm của cô giáo Hồng, người giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức cho các em mà còn là người bạn, người mẹ gần gũi và hiểu các em. Ngành nghệ thuật là ngành mang lại cho các em nhiều danh tiếng nhưng cũng đầy những cạm bẫy và thử thách. Chỉ những ai thực sự tài năng và nỗ lực mới tỏa sáng. Cho nên ngoài việc chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm, cô còn truyền cho các em những bài học đạo đức nghề để các em có một cái nhìn thực sự trong sáng về nghệ thuật. Với đặc thù của nghệ thuật, mỗi khi các em sinh viên có chuyện buồn, những trắc trở trong cuộc sống các em đều biểu lộ qua giọng hát, bài hát. Mỗi lúc như vậy, giảng viên Bích Hồng tìm cách tâm sự và động viên các em dù thế nào cũng phải vượt qua mọi khó khăn để tiếp tục trên con đường nghệ thuật, thực hiện đam mê và ước mơ, không được nản lòng. Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An là một trường nghệ thuật của khu vực miền Trung, chất lượng đầu vào còn thấp so với các trường học viện âm nhạc, các sinh viên đa phần xuất thân từ nông thôn cho nên trong công tác giảng dạy gặp không ít khó khăn. Nhiều em không có tiền, phải tiết kiệm bữa sáng, ôm bụng đói đến học hát. Với tình thương của người giáo viên, mặc dù không có nhiều nhưng thỉnh thoảng cô Hồng cũng đưa tiền cho các em ăn sáng để lấy sức hát. Trong giờ luyện tập các cuộc thi, cô cũng mang đồ ăn, nước uống lên để động viên các em. Có những em ngày Tết chẳng đủ tiền về quê, giảng viên Bích Hồng lại giúp đỡ để các em để các em có điều kiện về với gia đình. Chính từ những quan tâm nhỏ như vậy nên đến bây giờ, có nhiều thế hệ học trò cũ vẫn thường xuyên gọi điện, thư từ hỏi thăm cô. Theo nhận xét của PGS.TS Phan Mậu Cảnh, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An, giảng viên Bích Hồng là một giảng viên tâm huyết với nghề, tận tụy với sinh viên, luôn luôn linh hoạt, cập nhật những kiến thức mới vào chương trình giảng dạy, đóng góp nhiều thành tích cho nhà trường trong các hoạt động phong trào và các cuộc thi lớn. Với những cống hiến, hết mình vì học sinh và nhà trường, giảng viên Vũ Thị Bích Hồng đã được nhận giải thưởng vinh danh vì đã có thành tích hướng dẫn thí sinh đạt Huy chương Vàng tại Hội thi tài năng trẻ học sinh, sinh viên các trường văn hóa, nghệ thuật, du lịch và thể dục thể thao toàn quốc. Đặc biệt, giảng viên Vũ Thị Bích Hồng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng danh hiệu “Giảng viên có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đào tạo tài năng trẻ ngành văn hóa nghệ thuật”. Dù đã sắp nghỉ hưu, nhưng giảng viên Bích Hồng “như cánh chim không mỏi” trong sự nghiệp trồng người, truyền cảm hứng cho sinh viên trên con đường ca hát. La Giang

Tuyên dương 10 thầy thuốc trẻ Việt Nam tiêu biểu toàn quốc năm 2016

TĐKT - Chiều 17/2, tại Hà Nội, Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam tổ chức Lễ tuyên dương thầy thuốc trẻ Việt Nam tiêu biểu toàn quốc năm 2016 và chương trình Blouse trắng vì người bệnh cần máu. Đây là giải thưởng thường niên của Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Trung ương Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam được tổ chức, trao giải thưởng mỗi năm 1 lần, từ năm 2008 đến nay. Giải thưởng nhằm tôn vinh, biểu dương thành tích của các thầy thuốc trẻ tiêu biểu trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, nghiên cứu khoa học, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng; đồng thời tạo động lực thúc đẩy việc phát triển các Hội, câu lạc bộ thầy thuốc trẻ cấp tỉnh và Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam; góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác đoàn kết, tập hợp lực lượng thầy thuốc trẻ. 10 thầy thuốc trẻ được tuyên dương năm 2016 10 thầy thuốc trẻ được tuyên dương năm nay là những gương mặt được hội đồng các cấp xét chọn từ hàng trăm đề cử của các cơ sở y tế trên cả nước và các cơ quan báo chí. Tuy tuổi đời, tuổi nghề còn trẻ nhưng các thầy thuốc đã sớm khẳng định được tài năng, có nhiều cống hiến cho khoa học, giảng dạy, khám, chữa bệnh, tích cực tham gia các hoạt động khám, chữa bệnh tình nguyện, vì sức khỏe cộng đồng, áp dụng thành công những kỹ thuật tiên tiến cho tuyến y tế cơ sở. Họ là đại diện cho nhiều thầy thuốc giỏi, tâm huyết luôn nỗ lực vì người bệnh. Chiều cùng ngày, Trung ương Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam phối hợp với Viện huyết học – Truyền máu Trung ương tổ chức Chương trình cổ động hiến máu “Blouse trắng vì người bệnh cần máu”. Hơn 400 cán bộ y tế từ 16 bệnh viện tại Thủ đô trực tiếp xuống đường kêu gọi cộng đồng hiến máu, thể hiện tình cảm và trách nhiệm của nhân viên y tế đối với người bệnh cần truyền máu. Qua đó, ngành Y tế kêu gọi xã hội cùng chung tay hành động để đảm bảo nguồn máu cho người bệnh. 10 gương mặt thầy thuốc trẻ tiêu biểu năm 2016 1. ThS. BS Vũ Giang An, Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 2. Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Khám bệnh - hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Tây Ninh 3. PGS.TS. Trần Xuân Bách, Viện Đào tạo y học dự phòng và y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội 4. TS.BS Phạm Cẩm Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai 5. Bác sĩ Y KHíu Knul chuyên khoa Nội - Nhiễm, Bệnh viện Đa khoa TP Buôn Ma Thuột 6. Nguyễn Thành Trung, bác sĩ Chuyên khoa II, Phó trưởng Khoa Hồi sức tích cực - chống độc, Bệnh viện Đà Nẵng 7.ThS. BS Huỳnh Ngọc Linh, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng y tế Cà Mau 8. ThS.BS Nguyễn Văn Chuẩn, trưởng khoa Ngoại chấn thương Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang 9. Huỳnh Thị Diệu Linh, điều dưỡng Trưởng, Khoa khám bệnh Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark, Đồng Nai 10. TS.BS Phan Minh Hoàng, Trưởng khoa Tạo hình thẩm mỹ, Bệnh viện Quận 2, TP Hồ Chí Minh. Mai Thảo

Công ty Cổ phần X20 đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba

TĐKT – Sáng 17/2, tại Hà Nội, Công ty Cổ phần X20 (Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam) long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba. Công ty Cổ phần X20 có tiền thân là “Xưởng may đo hàng kỹ”, Xí nghiệp 20, Công ty X20, là một trong những cơ sở công nghiệp hậu cần đầu tiên trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta. Quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành của công ty luôn gắn liền với quá trình phát triển của ngành quân trang quân đội nói riêng và ngành công nghiệp dệt may của đất nước nói chung. Trong thời kỳ Đổi mới, nhờ có định hướng đúng và sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, công ty không ngừng phát triển sản xuất, kinh doanh, đạt hiệu quả toàn diện. Doanh thu hàng năm của công ty tăng trưởng khá và ổn định. Năm 2016, tổng doanh thu của công ty đạt hơn 1.050 tỷ đồng, lợi nhuận hơn 40 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước gần 100 tỷ đồng, thu nhập bình quân gần đạt 7 triệu đồng/người/tháng. Chỉ tiêu doanh thu, nộp ngân sách, thu nhập bình quân của người lao động luôn giữ được tốc độ tăng trưởng từ 6 - 8%. Uy tín và vị thế của công ty ngày càng được nâng cao và khẳng định ở thị trường trong nước cũng như quốc tế, được Nhà nước công nhận là doanh nghiệp có thương hiệu mạnh. Nhiều năm liên tục Đảng bộ công ty đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; nội bộ đơn vị đoàn kết, thống nhất; đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, nhân viên, người lao động không ngừng được nâng cao. Với những kết quả đã đạt được, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống, Công ty vinh dự đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba. Đại tá Phạm Văn Đô, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần X20 cho biết: với phương châm “Đổi mới toàn diện, tăng trưởng thực chất, đối tác tin cậy, cộng đồng trách nhiệm”, trong năm 2017 và những năm tiếp theo, công ty xác định tập trung nguồn lực tốt nhất cho sản xuất quân trang, phấn đấu 100% sản phẩm đạt chất lượng A1, bảo đảm cấp đủ các mặt hàng cho bộ đội theo kế hoạch thường xuyên cũng như đột xuất. Tập trung nghiên cứu phát triển hệ thống mẫu trang phục của quân đội. Tích cực, chủ động tìm nguồn hàng kinh tế - xuất khẩu ổn định, trong đó chú trọng các đơn hàng FOB. Công ty luôn tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp từ công ty đến các đơn vị. Tăng cường tiếp thị, mở rộng phát triển thị trường, nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định uy tín thương hiệu hàng hóa của công ty, phấn đấu doanh thu hàng kinh tế xuất khẩu tăng trưởng 20% trở lên… Phương Thanh

Người cán bộ phụ nữ hết lòng vì công việc

TĐKT - Chị Vi Thị Thu, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An là người hết mình vì công việc và luôn động viên tinh thần chị em vươn lên làm giàu chính đáng. Gắn bó với công tác hội phụ nữ từ nhiều năm nay, trưởng thành từ các cấp hội cơ sở và đảm nhiệm nhiều vai trò, vị trí khác nhau, chị Thu đã trở thành người cán bộ hội quen thuộc, gần gũi không chỉ với các chị em phụ nữ mà còn với đông đảo bà con huyện miền núi rẻo cao này. Trung bình mỗi tháng chị phải trực tiếp đi thực tế cơ sở dăm bảy bận, mà cơ sở ở Quế Phong thuộc địa bàn các xã, bản xa xôi, đường đi lối lại cheo leo, hiểm trở. Có những khi về các xã như Đồng Văn, Thông Thụ, Tri Lễ… đi mất cả ngày trời, chưa kể thời gian làm việc, trò chuyện, tâm tình để nắm bắt tâm tư, tình cảm của chị em phụ nữ nên chị thường phải ngủ qua đêm tại bản. Chị Vi Thị Thu (ngoài cùng bên trái) cùng lãnh đạo tỉnh thăm mô hình phát triển kinh tế của phụ nữ xa Mường Nọc Những ai đã từng thấm các cung đường “nắng bụi, mưa lầy” của vùng biên Quế Phong, hẳn sẽ cảm phục tinh thần vượt khó để hoàn thành công việc của chị Thu. Huyện vùng biên Quế Phong không chỉ gian nan về địa hình, mà mặt bằng nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân cũng khiến những cán bộ hội gặp trở ngại trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, nhà nước. Hiện nay, trên địa bàn huyện Quế Phong có 5 dân tộc cùng sinh sống, số chị em hội viên mù chữ và tái mù chữ còn nhiều, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, với 43%. Có nhiều mô hình khi triển khai xuống cơ sở tưởng như không thể thực hiện được vì rào cản nhận thức hạn chế, đặc thù tập quán sinh hoạt của nhân dân, nhưng bằng quyết tâm, trách nhiệm và tình cảm, cán bộ các cấp hội phụ nữ đã triển khai thành công. Trong quá trình làm công tác hội, chị Thu gặp khá nhiều thuận lợi vì bản thân chị được sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Quế Phong. Việc đồng điệu về ngôn ngữ, phong tục tập quán là lợi thế lớn khi chị giao tiếp với đồng bào. Bên cạnh đó, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đã trở thành “điểm tựa” vững chắc cho các hoạt động của hội. Hàng năm, chị Thu cùng các cán bộ Hội phụ nữ huyện triển khai có hiệu quả các phong trào, nổi bật như phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, cuộc vận động xây dựng gia đình “5 không, 3 sạch” gắn với phong trào thi đua “Phụ nữ chung tay xây dựng nông thôn mới”, thực hiện cuộc vận động xây dựng “Mái ấm tình thương”… Là người có kinh nghiệm trong công tác phụ nữ, chị Thu hiểu rằng, muốn hội phát triển bền vững, thực sự phải tạo được dấu ấn không thể thiếu trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của chị em.  Chị Thu không nhớ rõ bao nhiêu lần, chị trực tiếp lặn lội tìm về các gia đình hội viên, trò chuyện với từng thành viên, giúp họ hiểu hơn vai trò, thành viên, ý nghĩa của hội để mong các gia đình tạo điều kiện cho chị em phụ nữ tham gia hoạt động. Đối với đồng bào dân tộc Thái, người phụ nữ có vị thế quan trọng trong gia đình, họ rất được tôn trọng nên nhiều việc lớn, nhỏ nếu phụ nữ chưa thông, chưa đồng tình, nhất trí thì ít nhiều sẽ gặp vướng mắc. Với vai trò là cán bộ hội, chị luôn nắm bắt được điều đó, đánh trúng vào tâm lý, để từ người phụ nữ lan tỏa những việc làm tốt, những mô hình hay cho toàn thể bà con dân bản. Chị cùng các cấp hội phụ nữ đã xây dựng được 10 “Mái ấm tình thương” cho phụ nữ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mỗi nhà trị giá từ 20 - 25 triệu đồng. Đồng thời chị chỉ đạo xây dựng được nhiều mô hình phát triển kinh tế như mô hình chăn nuôi lợn đen ở bản Khốm, xã Hạnh Dịch, mô hình nuôi vịt bầu và lợn địa phương tại xã Cắm Muộn, Tiền Phong… Bên cạnh các mô hình phát triển kinh tế, Hội còn chỉ đạo xây dựng mô hình: “Sạch làng tốt ruộng” tại 14/14 xã, thị trấn. Các mô hình đã giúp chị em hội viên vươn lên thoát nghèo bền vững, có cuộc sống gia đình no ấm, hạnh phúc. Ngoài ra, hội đã chỉ đạo xây dựng được nhiều câu lạc bộ: Câu lạc bộ không sinh con thứ 3, Câu lạc bộ phòng, chống ma túy; phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; tự nguyện tuyên truyền, phổ biến pháp luật… Đến nay, trên địa bàn toàn huyện đã có trên 50 câu lạc bộ. Mới đây nhất, hội tổ chức xây dựng nhóm nghề và lớp học dệt thổ cẩm nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo điểm nhấn cho hoạt động phụ nữ dân tộc Thái trên địa bàn miền núi. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và trách nhiệm, có lý, có tình của chị, trong những năm qua, tổ chức Hội phụ nữ cơ sở trên địa bàn huyện Quế Phong được các cấp ủy Đảng cơ sở đánh giá là tổ chức hoạt động tích cực, có hiệu quả nhất. Với cương vị là người đứng đầu trong cơ quan Hội, chị Thu luôn xác định mình là trung tâm, là chỗ dựa cho chị em. Mặc dù bận rộn với công việc, nhưng khi trở về mái ấm gia đình của mình, chị Thu vẫn làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ đảm đang. Ngôi nhà nhỏ của chị luôn rộn rã tiếng cười hạnh phúc, 2 con nhỏ của chị liên tục nhiều năm liền là học sinh giỏi của trường. Với những nỗ lực không ngừng, bản thân chị Thu đã được Huyện ủy, UBND huyện Quế Phong tặng nhiều Giấy khen vì đã có nhiều thành tích trong công tác Hội và phong trào phụ nữ của huyện. La Giang

Tấm gương đam mê nghiên cứu khoa học và giảng dạy

TĐKT – Hơn 20 năm gắn bó với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, lúc nào trong con người của PGS,TS Bùi Đình Phong cũng luôn tràn đầy  ngọn lửa đam mê, nhiệt tình khám phá, chinh phục các đỉnh cao khoa học và giảng dạy. Sinh ra và lớn lên ở miền quê nghèo huyện Đức Thọ (tỉnh Hà Tĩnh), trải qua quá trình rèn luyện trong quân ngũ, từng tham gia chiến đấu ở chiến trường B (tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi) rồi theo học đại học chuyên ngành lịch sử và được giữ lại công tác tại Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, đến tháng 1/1994 ông về công tác tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đảm nhận công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. Trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học, PGS,TS Bùi Đình Phong đã tham gia hàng chục đề tài cấp nhà nước, cấp bộ trọng điểm, cấp bộ, cấp cơ sở và các đề tài với các cơ quan bên ngoài Học viện; đảm nhận vai trò chủ biên đề tài cấp Bộ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam”(1998 - 1999), đề tài trọng điểm cấp Bộ “Vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời kỳ trước đổi mới” (2005 - 2007), đề tài cấp Bộ “Phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế”, đề tài cơ sở “Bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh”; là Phó Chủ nhiệm các đề tài cấp Bộ trọng điểm như “Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (2008 - 2010), “Từ điển Hồ Chí Minh học” (2012 - 2014)…     PGS,TS Bùi Đình Phong  giảng bài trong lớp học Chia sẻ về đề tài mà ông tâm đắc nhất, PGS,TS Bùi Đình Phong  cho biết đó là đề tài “Từ điển Hồ Chí Minh học”. Đây là loại đề tài đầu tiên trên phạm vi cả nước cung cấp cho bạn đọc nói chung, học viên cao học, nghiên cứu sinh và những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy những kiến thức rất cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đề tài là công cụ trang bị những tri thức chính xác cho cả người dạy và người học, có ý nghĩa lâu dài.  Bên cạnh đó, PGS,TS Bùi Đình Phong còn là tác giả của gần 1000 bài báo, hàng chục cuốn sách cá nhân. Trong đó có những công trình, đề tài có ý nghĩa thiết thực trong công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay: sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” (NXB Lao động, 2006); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” (NXB Lao động, 2007);“Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh” (NXB Chính trị Quốc gia, 2008); “Bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh” (NXB Lý luận chính trị, 2014); các bài viết “Văn hóa viết, nói và làm”,“Một tấm gương sống giá trị hơn trăm bài diễn văn”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong điều kiện Đảng cầm quyền”, “Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững”, “Luận cương chính trị 10/1930 - Những giá trị lịch sử”… Không chỉ đạt được những thành tích trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đối với lĩnh vực giảng dạy, PGS,TS Bùi Đình Phong cũng được các đồng nghiệp và đặc biệt là các khóa học viên đánh giá cao bởi vốn tri thức rộng, kỹ năng thuyết giảng. Khi chia sẻ về “bí quyết” thành công, ông thẳng thắn trả lời: muốn giảng dạy tốt, phải biết nghiên cứu khoa học tốt. Thành quả nghiên cứu phải được xã hội hóa để đưa vào bài giảng. Bên cạnh đó, người giảng viên cũng phải biết đổi mới phương pháp giảng dạy, phải thấm nhuần lời dạy của Bác “đừng giảng như sách”. Cuộc sống luôn vận động, bản thân mỗi người thầy phải luôn tự đổi mới mình mà con đường ngắn nhất là phải đọc nhiều để có phông kiến thức rộng, từ đó tổng hợp, so sánh, chắt lọc những điều cần thiết để đưa vào bài giảng... Lớp lớp những thế hệ học viên tốt nghiệp các khóa học và trở về địa phương công tác, trong hành trang mà họ mang theo ngoài các kiến thức được trang bị về lý luận, về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự dung dị trong việc truyền thụ tri thức, là mối quan hệ thầy trò tốt đẹp mà PGS,TS Bùi Đình Phong đã gieo lại trong lòng mỗi học viên. Đối với ông đó là phần thưởng xứng đáng nhất, là điều đáng trân trọng luôn động viên ông không ngừng nỗ lực, phấn đấu hơn nữa trong sự nghiệp trồng người. Đảm nhận vai trò giảng dạy chuyên ngành về tư tưởng Hồ Chí Minh, ông luôn cố gắng học hỏi Bác từ những điều nhỏ nhặt nhất. Đơn giản như việc học Bác ở chữ “Cần”. Với PGS,TS Bùi Đình Phong, đó là việc chú trọng sắp xếp kế hoạch công việc một cách khoa học, cái gì cần làm trước, làm sau và đã đặt ra mục tiêu là phải làm cho bằng được. Tháng này, tuần này viết cho báo nào, bài nào viết trước, bài nào viết sau, mọi việc đều được ông ghi chép và bố trí thời gian cụ thể, nhờ vậy không dẫn đến tình trạng công việc ùn ứ, chậm tiến độ. Ông tâm sự, nhiều lúc ý tưởng cho những bài viết, bài nghiên cứu đến rất bất chợt,  có thể nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và cập nhật thông tin hàng ngày, hoặc trong câu chuyện trao đổi với các đồng nghiệp. Và cái tài tình của người làm khoa học là phải biết “chộp” lấy tư tưởng mới, biết lật xới vấn đề, biết đổi mới tư duy để tìm cách tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất. Đối với ông, hoàn thành một bài viết không phải vì thành tích mà quan trọng hơn cả đó là cách để ông tự kiểm tra, đánh giá bản thân và tiếp đến là giá trị bổ ích mà bài viết mang lại cho người đọc, cho sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước. Với những nỗ lực đạt được, PGS,TS Bùi Đình Phong nhiều lần được nhận Bằng khen của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vì đạt thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học giai đoạn 1999 - 2014 và danh hiệu Giảng viên giảng dạy giỏi xuất sắc cấp Bộ tiêu biểu, là điển hình tiên tiến tiêu biểu của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Thục Anh

Cục Dân quân tự vệ đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất

TĐKT – Sáng 10/2, tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Hà Nội, Cục Dân quân tự vệ (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập (12/02/1947 – 12/02/2017) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Tới dự, có: Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Duy Nguyên, Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ…   Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất cho Cục Dân quân tự vệ Ngày 12/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 16/SL thành lập Phòng Dân quân toàn quốc thuộc Cục Chính trị (Bộ Quốc phòng) - tiền thân của Cục Dân quân tự vệ (Bộ Tổng Tham mưu) ngày nay. Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Cục Dân quân tự vệ (DQTV) đã và đang hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược đầu ngành giúp Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác DQTV và giáo dục quốc phòng – an ninh, công tác quốc phòng ở các bộ, ngành trung ương, địa phương; góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đến nay, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của DQTV đã được nâng lên, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, được cấp ủy, chính quyền địa phương đánh giá cao; thực sự là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh. Giáo dục quốc phòng – an ninh, công tác quốc phòng bộ, ngành, địa phương được thực hiện thường xuyên, ngày càng nền nếp và hiệu quả, góp phần quan trọng xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình hiện nay.   Cùng với thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Cục DQTV luôn chăm lo xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, cơ quan vững mạnh toàn diện; chú trọng giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Cục DQTV qua các thời kỳ đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh, lập nhiều chiến công xuất sắc, được Đảng, Nhà nước, Quân đội tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác. Nhiều đồng chí đã trở thành tướng lĩnh, giữ trọng trách trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và Quân đội, đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trung tướng Nguyễn Duy Nguyên, Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ khẳng định: trong thời gian tới, nhiệm vụ của Cục DQTV rất nặng nề, song, với tất cả niềm vinh dự, tự hào, niềm tin và trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân, Cục DQTV sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tích cực học tập, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu lần thứ XVIII; các nghị quyết, chỉ thị về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; tích cực nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu các chủ trương, giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác DQTV, giáo dục quốc phòng – an ninh, công tác quốc phòng bộ, ngành, địa phương đạt kết quả tốt nhất, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, có tính chiến lược lâu dài, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong tình hình mới. Đại tướng Ngô Xuân Lịch phát biểu tại Lễ kỷ niệm Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương thành tích  và đóng góp của Cục DQTV trong 70 năm qua. Đại tướng Ngô Xuân Lịch nhấn mạnh: để hoàn thành tốt nhiệm vụ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng yêu cầu lực lượng DQTV của cả nước nói chung, Cục DQTV nói riêng cần tiếp tục quán triệt toàn diện, sâu sắc, nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, thường xuyên bám sát cơ sở nắm vững tình hình, thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất với bBộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về DQTV, giáo dục quốc phòng, an ninh, công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, địa phương. Chú trọng xây dựng lực lượng DQTV ở khu vực biên giới, biển đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh... Tại Lễ kỷ niệm, Đại tướng Ngô Xuân Lịch đã trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất cho Cục DQTV. Phương Thanh

Thầy thuốc của người nghèo

TĐKT - Lão chữa bệnh, không lấy tiền, ai cho thì lão giữ lại rồi gom góp cho lại những mảnh đời khốn khổ. Người ta bảo lão điên. Ôi thì thây kệ! Miệng lưỡi người đời mà. Ai muốn nói gì thì nói. Miễn sao mình làm được việc mà mình thấy thích là được. Lão thích “vác tù và hàng tổng”, lão thích ôm mối lo vào mình. Chỉ riêng lão mới thế, chứ người đời ai muốn. Vậy mà lão vẫn muốn, nên người ta mới bảo là lão điên. Lão chỉ chậc lưỡi. Bốn năm trời rồi, con số có thể hơn nhưng lão chỉ tính chẵn vậy cho dễ. tính lão vốn xuề xòa thế. Nên người dân nơi lão ở suýt quên tên lão là Đỗ Thanh Bình (61 tuổi, thôn Đoàn Kết, xã Tịnh Ấn Đông, TP Quảng Ngãi), mà người ta hay gọi lão là Bình “khùng”. Lão có khùng hay không theo bệnh lý thì người dân nơi đây biết rõ, người dân khắp cả tỉnh Quảng Ngãi này cũng biết rõ. Đấy là người ta yêu mến lão mà gọi lão thế thôi. Chứ lão có khùng thật đâu. Chẳng qua lão đem hết tiền nhà đi làm từ thiện, chẳng qua lão đem hết tài năng và tấm lòng mình ra để chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Không đòi hỏi, không câu nệ, không lợi lộc, không phân biệt. Chỉ cần có tiền ủng hộ cho người bệnh, chỉ cần chữa được bệnh, chỉ cần thấy người bệnh hết đau, chỉ cần thế là lão vui. Ông Đỗ Thanh Bình - Thầy thuốc của người nghèo Lão cười với tôi, khoe hàm răng móm mém. Nắc nỏm, lão bảo lão chỉ có một tâm niệm, ấy là sống để cho đi yêu thương. Còn người đời nói gì lão không quan trọng. Có thế mới chuyên tâm làm việc được. Lão kể, đời lão cũng chẳng có gì sung sướng. Nhưng nhìn quanh nhìn quất thấy người ta khổ nhiều quá. Khổ nhiều hơn lão cả trăm nghìn lần. Mà nỗi đau khổ lớn nhất ấy là việc đau vì bệnh, vì không tiền chữa trị, không tiền thuốc men. Lão vốn là thầy thuốc đông y chuyên về xương khớp, thần kinh tọa. Giúp được người thì lão giúp. Thế thôi. Lão cười khoe nụ cười viên mãn của người đã ở cái tuổi lục tuần. Tóc lão dài, bạc trắng và được buộc túm gọn lại sau gáy như những vị lương y trên phim của miền đất phương Nam vậy. Lão bảo đừng chụp hình lão, coi chừng hư máy ảnh, vì lão xấu. Thấy tôi cười, lão gục gặc cái đầu lất phất những sợi tóc buông chùng trước chiếc trán hói vì nhiều đêm thức làm thuốc, thức để khám chữa bệnh cho người nghèo. Lão bảo lão chẳng cần đẹp làm gì. Ở cái tuổi của lão, còn làm đẹp cho ai. Lão nắc nỏm sau câu nói dí dỏm ấy. Ừ thì bề ngoài lão chẳng đẹp, nhưng lão lại có một tâm hồn đẹp, một tấm lòng đẹp mà chẳng mấy ai có được. Ông Bình trao tiền cho bệnh nhân. Bao nhiêu năm trời rồi, căn nhà cấp 4 ám màu rêu phong và khói bếp thuốc nam của lão vẫn thế. Căn nhà xây từ khi lão lấy vợ, cũng nhiều tuổi hơn cả mấy đứa con của lão rồi. Mái ngói cũng đong đưa, tròng trành như răng của lão, nhưng vẫn trụ vững với gió, với bão, với mưa, với lốc, như đồ rằng còn phải trụ lấy nhiều năm nữa, để lão còn lấy chỗ làm thuốc, lấy chỗ chữa bệnh cho người nghèo nữa. Căn nhà ấy vẫn cùng lão, ngày ngày rồi đến đêm đêm làm chốn tìm về của các bệnh nhân nghèo không có tiền đến bệnh viện. Căn nhà cấp 4 của lão lúc chúng tôi đến đã có vài chục bệnh nhân ngồi chờ. Lão cặm cụi, chân thành, yêu thương tới từng người bệnh như chính đứa con mình đang đau nặng vậy. Bệnh nhân tìm đến với lão chủ yếu là những người lao động nghèo ở khắp tỉnh Quảng Ngãi, những người bệnh mắc các bệnh về xương khớp, cột sống. Những người bệnh tìm đến không chỉ vì biết lão chữa bệnh hiệu quả, mà lại có lòng thương người, chữa bệnh tận tâm nhưng không lấy tiền công, cho thuốc miễn phí. Có khi còn cho cả tiền mang về mua thức ăn bồi bổ nữa. Bất cứ ai bước vào căn phòng nơi lão đặt bàn chữa bệnh, nơi xếp những thang thuốc chữa bệnh trên một chiếc thùng gỗ, bên ngoài có ghi dòng chữ “Kết nối những tấm lòng”. Ở đó, có người bệnh sau khi được lão chữa xong bước đến, nhẹ nhàng xếp vài đồng tiền lẻ nhăn nheo, bạc thếch bỏ vào thùng. Vài ngàn lẻ thôi, trong đó có cả những tờ tiền mệnh giá 500 đồng, xếp gọn gàng. Ai có thì bỏ, người nhiều người ít, chẳng ai nhắc ai, chẳng ai xăm soi, chẳng ai yêu cầu. Họ tự nguyện bỏ tiền vào thùng, tất cả đều như muốn gửi gắm một điều gì đó vào chiếc thùng gỗ kia, gửi gắm vào tấm lòng của lão. Đó là chiếc thùng của những tấm lòng, lão lập nên để chẳng những cứu giúp hàng nghìn bệnh nhân qua khỏi cảnh bệnh tật, hoạn nạn mà còn để gom những đồng tiền lẻ. Mỗi tuần đủ 1 triệu đồng, lão đã gửi gắm, trao tặng đến những mảnh đời khốn khó khác mà lão được biết. Cứ thế, nhiều năm qua, lão đã trao đi hàng trăm triệu đồng cho những hoàn cảnh bệnh tật khốn khó cùng cực. Ban đầu lão lên xã gặp cán bộ để xin ý kiến, được xã cho phép, lão kiếm ít gỗ đóng chiếc thùng nhỏ. Xong xuôi mang thùng lên xã, nhờ cán bộ xã niêm phong lại. Hàng ngày, lão vừa chữa bệnh người bệnh bỏ tiền vào thùng, tùy lòng hảo tâm. Mọi người đều hưởng ứng, người thì 500 đồng, người thì vài nghìn. Toàn tiền lẻ, vì người bệnh ai cũng nghèo khó. Sau thời gian một tháng, lão mời mọi người đến để mở thùng gỗ ra kiểm tiền, dù chỉ toàn tiền lẻ, số tiền góp được chẳng là bao nhưng mà quý lắm! Lão bộc bạch thế. Số tiền có được, lão mang giúp lại nhưng trường hợp tai nạn, ốm đau bệnh tật đến gia đình khánh kiệt, có trường hợp thì người già neo đơn không nơi nương tựa, có trường hợp con trẻ bơ vơ vì mồ côi cha mẹ. Hoàn cảnh nào cần, lão đều giúp. Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi tặng ông Bình Chữa bệnh hiệu quả lại thật tâm giúp người, lão được nhiều người biết đến, số bệnh nhân tìm đến mỗi ngày một đông. Trong đó có rất nhiều người được lão chữa khỏi bệnh đã rất ngạc nhiên khi thấy lão không lấy tiền, không đòi hỏi. Họ khuyên nên lấy tiền công chữa bệnh để sống sung túc dư giả hơn như bao người khác vẫn làm. Lão chỉ cười rồi từ chối. Thấy lão chối từ, họ cố tìm cách báo đáp. Không ít người đã để lại tiền trước khi ra về, coi như là chút ân tình đền đáp. Gặp chuyện thế, lão thấy áy náy lắm. Thôi thì người ta cũng có lòng, mình không dùng nhưng còn nhiều người cần tới. Nghĩ vậy, lão mang tặng lại những người nghèo khổ khác. Cứ thế, bằng cách góp nhặt tình thương, lão mang đến biết bao niềm hy vọng cho những mảnh đời khốn khó. Lão bảo, nếu lão cũng làm như người ta, thì bây giờ nhà lão đã phải ba tầng, giàu nhất cái xóm này. Nhưng giờ lão vẫn thế, ở căn nhà cấp 4 từ ngày xưa, mặc những bộ quần áo bình thường nhất, ăn những thức ăn đạm bạc nhất, chỉ chữa bệnh, hái thuốc, làm thuốc để vui. Nhiều năm qua, hầu như tuần nào lão cũng được lên tivi. Nhưng lão bảo lão chẳng cần danh tiếng, chẳng cần bằng khen. Lão làm vì cái tâm của mình, vì cảm thương những hoàn cảnh nghèo khốn khổ, đau bệnh tật. Người ta phấn đấu để được cái bằng khen, còn lão bằng khen treo đầy nhà. Cũng chỉ để ngắm, để tâm niệm với việc mình làm nhiều hơn. Với những người bệnh nghèo, lão như ông tiên với chòm râu bạc, mang đến yêu thương, xóa đi đau bệnh, gieo vào cuộc sống lắm bộn bề, khốn khó này nhưng tình thương, lòng nhân ái bao dung và cả niềm tin, nghị lực cho mỗi người. Để họ sống tốt hơn, biết làm thêm những điều thiện lương trao đi cho người khác. Bây giờ, nếu có vô tình gặp ông lão tóc bạc vai mang túi dết, ăn mặc không cầu kỳ nhưng gọn gàng đi trên đường hay tìm gặp nhà người bệnh nào đó, đích thị đó là lão lương y “khùng” Đỗ Thanh Bình, người đi trao những yêu thương của cuộc đời. Trao đổi với chúng tôi, ông Ngô Văn Lại (Trưởng thôn Đoàn Kết) cho biết: “Chẳng những chữa bệnh miễn phí cho mọi người, ông Bình còn nhiệt tình làm từ thiện. Bằng những đồng tiền lẻ nhỏ bé, 4 năm qua ông Bình đã giúp đỡ cho rất nhiều trường hợp. Những hoàn cảnh khó khăn trong thôn cũng được ông Bình đỡ đần, cưu mang. Việc làm của ông Bình chúng tôi rất ủng hộ, khuyến khích. Vừa qua, ông Bình được Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, Chủ tịch Hội Đông y TP Quảng Ngãi tuyên dương, tặng bằng khen vì đã có những thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng như xây dựng, phát triển Hội Đông y TP Quảng Ngãi”.  Tiêu Dao

Liên đoàn Lao động quận Cầu Giấy đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

TĐKT - Sáng 13/1, Liên đoàn Lao động quận Cầu Giấy (Hà Nội) tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì, tổng kết công tác công đoàn năm 2016 và phát động phong trào thi đua năm 2017. Hiện nay, LĐLĐ quận Cầu Giấy có 263 công đoàn cơ sở với 18.548 công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ), 15.876 đoàn viên công đoàn. 5 năm qua, các cấp công đoàn quận đã thực hiện tốt chức năng tham gia quản lý, đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ. Năm 2016, công tác chăm lo, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động được thực hiện tốt, chất lượng thỏa ước lao động tập thể được nâng cao. Đã có 62 doanh nghiệp, tổ chức công đoàn ký thỏa ước lao động tập thể. Đồng thời, thực hiện chức năng của tổ chức công đoàn, đại diện tham gia quản lý, kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách có liên quan trực tiếp đến CNVCLĐ; đã phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Công đoàn và chính sách lao động nữ tại 30 doanh nghiệp; tham gia đoàn thanh tra kiểm tra việc nợ đọng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại 10 doanh nghiệp… Bí thư Quận ủy Cầu Giấy Lê Văn Luân trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho LĐLĐ quận Cầu Giấy LĐLĐ quận được coi là điểm sáng trong tổ chức thực hiện hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội của quận. 5 năm qua, hưởng ứng các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Sáng kiến sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”…, toàn quận đã có 401 đề tài, hơn 3.500 sáng kiến, kinh nghiệm, cải tiến kỹ thuật được ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh, trong dạy học, mang lại hiệu quả cao trong phát triển kinh tế, xã hội. Cùng với đó, việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động“Xây dựng nếp sống văn hóa công nghiệp trong CNVCLĐ Thủ đô”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”… được đông đảo CNVCLĐ hưởng ứng, tạo động lực và khai thác tiềm năng, sở trường của người lao động, từ đó phấn đấu đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong lao động sản xuất, học tập và công tác… Với những thành tích đạt được, nhân dịp này, LĐLĐ quận Cầu Giấy đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì; 1 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; 3 tập thể, cá nhân được Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng Cờ thi đua xuất sắc và Bằng khen; 24 tập thể, các nhân được LĐLĐ thành phố tặng Cờ thi đua xuất sắc và Bằng khen; 75 tập thể, cá nhân được LĐLĐ quận tặng Giấy khen và danh hiệu công đoàn cơ sở vững mạnh, xuất sắc. Tại buổi lễ, LĐLĐ quận đã phát động phong trào thi đua năm 2017 trong CNVCLĐ. Mai Thảo

Trang