Điển hình tiên tiến

Nữ bí thư đoàn 9X năng động

TĐKT - Nhắc đến công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, không thể không nhắc đến đồng chí Vũ Thị Lệ Thu, Bí thư Đoàn xã Tiên Nội, một trong những nữ Bí thư Đoàn xã năng động, nhiệt huyết và có sự đam mê đặc biệt đối với công tác Đoàn. Thu là 1 trong 60 thanh niên tiêu biểu làm theo lời Bác được Tỉnh đoàn tôn vinh, biểu dương năm 2018. Bí thư đoàn Vũ Thị Lệ Thu (đứng thứ 3 từ trái sang) được khen thưởng tại Hội nghị tổng kết công tác đoàn, đội và phong trào thanh thiếu niên 2018 của Huyện đoàn Duy Tiên Năm 2015, sau khi tốt nghiệp Học viện Hành chính, nhận thấy được công tác đoàn ở địa phương cũng rất quan trọng, Thu đã tích cực tham gia công tác đoàn và giữ cương vị Bí thư chi đoàn thôn Kim Hòa. Năng nổ, nhiệt tình trong các phong trào, Thu được các đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) bầu làm Bí thư đoàn xã Tiên Nội.  “Xã Tiên Nội có hơn 1.400 thanh niên, trong đó khoảng 80% thanh niên đang lao động tại các khu công nghiệp, số còn lại đi xuất khẩu lao động hoặc trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh tại xã. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ chi đoàn thường xuyên biến động. Do vậy công tác tập hợp ĐVTN tham gia sinh hoạt gặp nhiều khó khăn.” - Thu chia sẻ. Khắc phục tình trạng này, ngay khi được giao trọng trách Bí thư đoàn xã, điều đầu tiên mà Thu làm chính là tham mưu kiện toàn đội ngũ bí thư chi đoàn là những người thực sự tâm huyết, trách nhiệm với công tác đoàn và phong trào thanh thiếu niên. Đồng thời, dành thời gian tìm hiểu, sâu sát với thực tế sinh hoạt từng chi đoàn, thường xuyên xuống địa bàn dân cư để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của thanh niên để tuyên truyền, vận động ĐVTN tham gia sinh hoạt. Cũng theo Thu, để thu hút các ĐVTN tham gia cần phải bám sát tình hình thực tế để tổ chức hoạt động cho phù hợp. “Với ĐVTN đang làm việc tại các khu công nghiệp, do thời gian hạn chế, tôi đã xây dựng kế hoạch, tổ chức sinh hoạt vào buổi tối thứ 7, chủ nhật. Việc tổ chức các hoạt động cũng thường được tổ chức vào ngày chủ nhật, dịp nghỉ lễ và được thông báo trước từ 3 - 5 ngày thông qua tin nhắn điện thoại, facebook, tạo điều kiện để ĐVTN bố trí lịch tham gia.” - Thu cho biết. Thu tích cực vận động ĐVTN tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao Cùng với đó, Ban chấp hành đoàn xã cũng tổ chức, xây dựng các nhóm sinh hoạt theo sở thích, đam mê các môn thể thao, văn nghệ, các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng, nhằm quy tụ, gắn kết các ĐVTN trên địa bàn tham gia. Với vai trò thủ lĩnh Đoàn tại địa phương, Thu đã làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức nhiều hoạt động xung kích tình nguyện. Riêng năm 2018, Đoàn xã Tiên Nội đã tặng 24 suất quà cho gia đình chính sách, hộ có hoàn cảnh khó khăn trị giá 7,2 triệu đồng; tặng 2 công trình nước sạch cho hộ có hoàn cảnh khó khăn trị giá 6 triệu đồng; thực hiện 1 công trình thanh niên trồng, chăm sóc đường hoa. Để giúp đỡ các ĐVTN phát triển kinh tế, Thu cùng Ban chấp hành Đoàn xã đã thành lập 1 câu lạc bộ thanh niên phát triển kinh tế. Đồng thời nhận ủy thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội qua 4 tổ tiết kiệm và vay vốn với tổng dư nợ đạt trên 3 tỷ đồng, cho 62 hộ vay. Ngoài ra, đoàn xã cũng quan tâm, đẩy mạnh phong trào thanh thiếu nhi tại địa phương. Năm 2018 đã phối hợp tổ chức 2 lớp dạy bơi, tập huấn kỹ năng phòng, chống đuối nước cho 20 thanh thiếu nhi; tặng 10 suất quà cho các em học sinh nghèo vượt khó, học giỏi trị giá 5 triệu đồng và 7 xe đạp theo mô hình “Xe đạp 1.000 đồng”, trị giá 8,4 triệu đồng… Thu cũng thường xuyên chỉ đạo, tổ chức hiệu quả các hoạt động vì an sinh xã hội, tình nguyện vì cộng đồng, tổ chức dọn vệ sinh môi trường ở thôn xóm, định hướng và giải quyết việc làm cho thanh niên trong xã. Trên cương vị là Bí thư Đoàn xã phụ trách công tác phát triển đoàn viên, đảng viên trong tổ chức Đoàn, Thu luôn quan tâm, giúp đỡ ĐVTN ưu tú để giới thiệu cho Đảng xem xét, kết nạp. Năm 2018, Đoàn xã đã giới thiệu10 đoàn viên ưu tú tham gia học các lớp nhận thức về Đảng, trong đó 2 đồng chí được kết nạp vào Đảng. Với những đóng góp trong công tác xây dựng, đưa tổ chức đoàn cơ sở phát triển vững mạnh, Bí thư đoàn Vũ Thị Lê Thu xứng đáng là tấm gương để ĐVTN học tập. Với sự năng động, nhiệt tình của một nữ cán bộ đoàn như Thu, chắc chắn trong thời gian tới Đoàn xã Tiên Nội sẽ có nhiều hoạt động sôi nổi, ý nghĩa để đoàn xã trở thành chỗ dựa vững chắc cho ĐVTN. Tuệ Minh

Hội Truyền thống Trường Sơn tuyên dương điển hình tiên tiến toàn quốc lần thứ I

TĐKT - Sáng 5/5, tại Hà Nội, Hội Truyền thống Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh (Hội Truyền thống Trường Sơn) tổ chức Hội nghị điển hình tiên tiến toàn quốc lần thứ I (2011 - 2019). Thời gian qua, Hội Truyền thống Trường Sơn luôn coi trọng và tổ chức tốt phong trào thi đua nhằm khơi dậy và phát huy những phẩm chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của bộ đội Cụ Hồ, bộ đội Trường Sơn anh hùng trong hội viên để tiếp tục đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Ban Thường trực, Ban Thường vụ Hội đã bám sát tính chất, đặc điểm và thực tiễn hoạt động của Hội, xác định chủ đề, mục tiêu, nội dung, chỉ tiêu thi đua phù hợp để phát động và hướng dẫn các tổ chức thành viên triển khai thực hiện. Trong quá trình chỉ đạo phong trào, Hội đã kết hợp tốt giữa tổ chức thi đua toàn diện với thi đua từng mặt trong từng thời gian và tổ chức các cuộc thi theo chuyên đề, gắn với các sự kiện lịch sử, các ngày lễ lớn của đất nước, quân đội và bộ đội Trường Sơn. Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Lê Khánh Hải trao Huân chương Lao động của Chủ tịch nước tặng các tập thể, cá nhân tiêu biểu của Hội Truyền thống Trường Sơn Sau 8 năm xây dựng và phát triển, đến nay, Hội có hệ thống tổ chức sâu rộng từ toàn quốc đến cấp phường, xã, với 114 tổ chức thành viên và 301.141 hội viên; 217 Hội và 98 ban liên lạc cấp huyện; 1829 Hội và 1308 ban liên lạc cấp xã, phường. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử đã được triển khai tích cực, toàn diện, sâu rộng trong cả nước, thiết thực giữ gìn, khai thác và phát huy các giá trị lịch sử của Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Hoạt động tri ân tình nghĩa, giúp đỡ đồng đội được các cấp Hội coi trọng, hưởng ứng tích cực. Trong phong trào hành quân đi tìm đồng đội, các tổ chức Hội và hội viên đã cung cấp 95 thông tin về mộ liệt sĩ và phối hợp cùng gia đình tổ chức tìm kiếm, cất bốc 21 hài cốt liệt sĩ đưa về quê hương. Hội đã phối hợp cùng Binh đoàn 12 thẩm tra, xác nhận hồ sơ, đề nghị cơ quan chức năng của Nhà nước giải quyết 8 trường hợp hy sinh chưa được công nhận liệt sĩ; giúp 5381 hội viên liên hệ với đơn vị chủ quản tra cứu hồ sơ, hoàn thiện thủ tục giải quyết các tồn đọng chính sách sau chiến tranh. 8 năm qua, Hội đã hỗ trợ kinh phí xây dựng 2081 nhà tình nghĩa, tặng 3.357 sổ tiết kiện, 578 suất học bổng, 83.628 suất quà, 1.150 chăn ấm cao cấp cho các đối tượng chính sách, người có công, hội viên nghèo; vận động trợ cấp thường xuyên cho 216 chị em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mức 500.000 đồng/tháng. Thực hiện cuộc vận động "Hội viên Trường Sơn sản xuất giỏi, xóa đói giảm nghèo, giúp nhau khắc phục khó khăn, nâng cao đời sống", có 3.075 hội viên được đồng đội cho vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh không lấy lãi với số tiền gần 10 tỷ đồng; 9.483 hội viên được đồng đội tặng vật nuôi, cây giống, hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ sản xuất, chăn nuôi. Có hơn 3000 gia đình hội viên đã vươn lên thoát nghèo, hơn 5000 gia đình hội viên từ cận nghèo vươn lên mức sống trung bình. Phong trào thi đua và cuộc vận động của Hội luôn bám sát và gắn kết chặt chẽ với các cuộc vận động, các phong trào do MTTQ Việt Nam phát động và các phong trào thi đua của địa phương, nhất là Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và các phong trào thi đua ở địa phương nơi cư trú. Theo thống kê chưa đầy đủ, từ 2011 - 2018, hội viên Trường Sơn trong cả nước đã đóng góp, ủng hộ gần 131,5 tỷ đồng, gần 60.000 ngày công, hơn 135.000 m2 đất và hàng trăm mét khối vật liệu để xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa của các địa phương, làm đường nông thôn, xây dựng trường học, công trình phúc lợi, thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng. Kết quả hoạt động của Hội đã được cấp ủy, chính quyền các cấp và dư luận xã hội ghi nhận, đánh giá cao. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn, Hội và Thiếu tướng Võ Sở - Chủ tịch Hội được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì; 2 tập thể và 3 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba; 6 tập thể và 14 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; 12 tập thể và 26 cá nhân được MTTQ Việt Nam và các bộ, ban, ngành tặng Bằng khen. Chủ tịch Hội đã tặng Bằng khen cho 182 tập thể và 322 cá nhân. Tại Hội nghị, Hội đã trao 3 căn nhà tình nghĩa cho 3 hội viên có hoàn cảnh khó khăn tại các tỉnh: Cao Bằng, Hà Giang, Thừa Thiên – Huế; trao 15 suất quà cho các hội viên các tỉnh, thành trong cả nước. Phương Thanh

Đại tướng Lê Đức Anh: Vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc

TĐKT - Tưởng nhớ Đại tướng Lê Đức Anh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có bài viết ''Đại tướng Lê Đức Anh: Vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi nhân dân.'' Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã về cõi vĩnh hằng. Tưởng nhớ Đại tướng Lê Đức Anh, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã có bài viết ''Đại tướng Lê Đức Anh: Vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi nhân dân.'' Chủ tịch nước Lê Đức Anh tiếp Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong sang thăm Việt Nam, sáng 3/3/1994, tại Hà Nội. (Ảnh: Minh Ðạo/TTXVN) Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Thủ tướng: Đại tướng Lê Đức Anh là một chiến sỹ cách mạng kiên cường, một vị tướng tài ba, người đã được tôi luyện, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế, giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Là một vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước xuất sắc, đồng chí luôn đổi mới, quyết đoán, nhanh nhạy, bám sát thực tiễn, dám chịu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và cũng rất giản dị, sâu sắc, nhân văn trong cuộc sống, được đồng chí, đồng đội và nhân dân yêu mến, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Đồng chí Lê Đức Anh sinh ngày 01/12/1920 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, quê quán tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ông nội của Đồng chí là một sỹ phu tham gia Phong trào Cần Vương chống Pháp. Trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống yêu nước và hiếu học, thấu hiểu sự nghèo đói, lam lũ của người dân lao động cùng khổ dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, người thiếu niên Lê Đức Anh đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1937, khi mới 17 tuổi, đồng chí tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, Thừa Thiên-Huế; tháng 5/1938, Đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ 1939-1944, Đồng chí hoạt động trong các hội Ái hữu tại Hội An, Đà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một và các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi, Xa Can, Xa Cát. Là chiến sỹ cộng sản kiên trung, mang trong mình ý chí tất cả vì độc lập, tự do, vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, đầu năm 1945 Đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trung kiên trong các nghiệp đoàn, chuẩn bị đấu tranh võ trang. Tháng 8/1945, Đồng chí được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở các đồn điền cao su và hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Thời gian này, Đồng chí tham gia Quân đội, chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một; giữ các chức vụ Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một. Từ năm 1948 đến năm 1954, Đồng chí đảm đương nhiều chức vụ quan trọng như: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Quân khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Quân khu ủy viên, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Sau Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Đông Dương năm 1954, Đồng chí tập kết ra Bắc; từ năm 1955 đến năm 1963 là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, rồi Cục phó, Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu và trở thành Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đầu năm 1964, Đại tá Lê Đức Anh trở lại chiến trường Miền Nam, đảm nhiệm các chức vụ Tham mưu trưởng, rồi Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền; Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu ủy; Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền. Đồng chí là một trong hai sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được phong hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng vào tháng 4/1974. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Đồng chí được giao trọng trách Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Cánh quân Tây Nam, đóng góp quan trọng cho thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thực hiện nhiệm vụ được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao, từ năm 1976 đến năm 1986, đồng chí là Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân Khu ủy, rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, Đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Năm 1981, Đồng chí được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia. Năm 1986, Đại tướng Lê Đức Anh là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, từ năm 1987 là Bộ trưởng Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đồng chí là Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997. Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV,V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa V, VI, VII, VIII; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1997 đến tháng 4/2001; Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX. Về quân sự, Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng trận mạc, một nhà chỉ huy xuất sắc, có tầm nhìn chiến lược, có chiến thuật tài tình và linh hoạt xử lý các tình huống phức tạp. Cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng gắn với nhiều chiến trường vào Nam ra Bắc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả trên chiến trường nước bạn. Đồng chí từng chỉ huy bộ đội tham gia những trận đánh quan trọng, những sự kiện mang tính bước ngoặt của chiến tranh như Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Cuộc chiến đấu chống lấn chiếm vùng giải phóng năm 1973, Chiến dịch Phước Long năm 1974, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, Chiến dịch giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng năm 1979. Đồng chí là người trực tiếp thị sát, chỉ đạo và đóng góp quan trọng trong xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Đồng chí đảm trách chỉ huy và lãnh đạo trực tiếp cánh quân tiến công trên hướng Tây-Tây Nam Sài Gòn (Đoàn 232), một trong năm cánh quân của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Đây là nơi có địa hình khó tiến công vì là đồng bằng, sông ngòi, sình lầy chằng chịt nhưng là một hướng tiến công rất quan trọng để nhanh chóng chia cắt quân địch trên tuyến quốc lộ số 4, không để chúng co cụm về cố thủ ở Cần Thơ. Đoàn 232 do Đồng chí chỉ huy đã thực hiện thành công các nhiệm vụ chính là: chia cắt các lực lượng Sài Gòn và miền Đông với lực lượng vùng Đồng bằng sông Cửu Long; tấn công Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát, sau đó hợp điểm cùng các cánh quân khác tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng Tư lịch sử. Đại tướng Lê Đức Anh là người luôn coi trọng nhân, nghĩa, ngay cả đối với kẻ thù; và là người lãnh đạo chỉ huy luôn thương yêu, tìm mọi cách giảm thiểu hy sinh xương máu của cán bộ, chiến sỹ và khó khăn, mất mát của người dân. Trong hồi ký, Đại tướng Lê Đức Anh viết: Thắng lợi trọn vẹn của chúng ta có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân to lớn nhất, cơ bản nhất, gốc rễ nhất là tư tưởng “Nhân ái." Tư tưởng “nhân nghĩa” của thời đại Hồ Chí Minh là bắt nguồn từ truyền thống chí nhân, chí nghĩa của dân tộc, như Nguyễn Trãi từng viết trong Đại Cáo Bình Ngô: “Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo." Khi xe tăng, thiết giáp của ta vượt qua sông Vàm Cỏ thì trời đổ mưa, đoạn thuộc huyện Đức Huệ (Long An) sình lầy xe không đi được; nhân dân vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xe tăng và pháo ta vượt qua. Đồng chí đã chỉ đạo anh em chiến sỹ giúp dân làm lại nhà, dù người dân không hề đòi hỏi. Sau này, trên cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng-An ninh, thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, với tình cảm sâu nặng và ý thức trách nhiệm lớn lao, Đại tướng Lê Đức Anh thường xuyên đến thăm, kiểm tra công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị quân đội, công an. Đồng chí chỉ đạo quyết liệt vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng và là một trong những người đưa ra ý tưởng xây dựng khu vực phòng thủ, các khu kinh tế-quốc phòng trên địa bàn chiến lược mà chúng ta đã và đang triển khai thực hiện. Đồng thời, Đại tướng cũng hết sức chú trọng đến tình hình bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị của quân đội và đời sống của cán bộ, chiến sỹ. Trước thực trạng các doanh trại quân đội dột nát, Đồng chí đã yêu cầu tăng kinh phí xây dựng, sửa chữa doanh trại và có các biện pháp cụ thể, thiết thực bảo đảm đời sống cho cán bộ, chiến sỹ. Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh cũng rất quan tâm công tác chính sách hậu phương quân đội, giải quyết tồn đọng về chính sách sau chiến tranh. Ngày 10/09/1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng” để tặng hoặc truy tặng những Mẹ đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; đồng thời cũng là để giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ mai sau. Là Chủ tịch nước, Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và kể cả khi đã nghỉ công tác, đồng chí Lê Đức Anh vẫn thường xuyên quan tâm đến lực lượng vũ trang, nghiên cứu và đề xuất nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc, có tầm chiến lược sâu rộng về công tác quân sự, quốc phòng cho Đảng và Nhà nước ta. Đại tướng Lê Đức Anh chụp ảnh lưu niệm với các em học sinh Trường THPT Nam Yên, huyện An Biên (Kiên Giang). (Ảnh: TTXVN) Trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, thực hiện nhiệm vụ Bộ Chính trị giao, Đồng chí đã nghiên cứu sâu sắc về cách thức, phương pháp, bước đi để thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với một số nước, đối tác, góp phần đặt nền móng cho chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Đảng, Nhà nước ta. Trên cương vị Chủ tịch nước, là Nguyên thủ quốc gia, đồng chí Lê Đức Anh đã nhiều lần dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến thăm các nước, các tổ chức quốc tế và ký kết nhiều hiệp định, điều ước quốc tế, để lại những dấu ấn quan trọng và tình cảm tốt đẹp với các quốc gia, cộng đồng quốc tế. Đối với đồng chí, đồng đội, đồng chí Lê Đức Anh không phân biệt cấp bậc, chức vụ, sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, luôn quan tâm, chăm lo đến cán bộ, chiến sỹ trong thực hiện nhiệm vụ và cuộc sống hàng ngày. Là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, khi đến thăm đơn vị quân đội, Đồng chí vẫn nói chuyện như không có khoảng cách với các chiến sỹ trẻ; động viên các cựu chiến binh khắc phục khó khăn; quan tâm chỉ đạo giải quyết chế độ chính sách. Đại tướng Lê Đức Anh sống giản dị, gần gũi, chân tình, sâu sắc và nặng tình nghĩa với quê hương. Tham gia hoạt động cách mạng từ thời niên thiếu, nhưng Đồng chí luôn nhớ về quê hương với một tình cảm rất sâu đậm. Mỗi lần về quê, Đồng chí thường đi thăm bà con lối xóm, ân cần thăm hỏi cuộc sống, tình hình lao động sản xuất; động viên bà con, họ hàng, con cháu quê nhà luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước; phát huy tinh thần thi đua yêu nước, tích cực lao động sản xuất để phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp. Trong gia đình, Đồng chí là người chồng, người cha, người ông, người cụ mẫu mực, đức độ và giàu lòng nhân ái. Đồng chí luôn chú trọng giáo dục, nhắc nhở con cháu, người thân nỗ lực học tập, rèn luyện, tự mình phấn đấu, trưởng thành, là người tốt, sống có lý tưởng và có ích cho xã hội. Với 99 tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh đã trọn đời phấn đấu, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế. Có thể nói, cuộc đời hoạt động cách mạng hơn 80 năm của Đại tướng Lê Đức Anh là dành cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, vì sự trưởng thành lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, vì hạnh phúc của người dân. Khi ốm nặng và trong quá trình điều trị, mỗi lần đồng chí, đồng đội, đồng bào đến thăm, Đại tướng Lê Đức Anh kính mến đều hỏi về tình hình đất nước, về cuộc sống của người dân với tình cảm ân cần, cảm động. Mới đây, trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, tôi cùng một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến, tin tưởng và gửi gắm tình cảm tốt đẹp. Cuộc đời của Đại tướng Lê Đức Anh gắn liền với những chiến thắng, những bước thăng trầm của lịch sử nước nhà. Đồng chí đã có đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Chúng ta mãi mãi nhớ về Đại tướng Lê Đức Anh - anh Sáu Nam kính mến, người đồng chí thân thiết, chí tình, một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi. Noi gương Đồng chí, chúng ta nguyện nỗ lực phấn đấu, ra sức hành động, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình ổn định cho phát triển, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Theo TTXVN  

Thủ lĩnh công đoàn Xứ Thanh

TĐKT -  “Nếu thực sự tâm huyết, cán bộ công đoàn không bao giờ hết việc. Nếu không có tâm huyết thì sẽ chẳng biết việc gì để làm” - đây là chính là “lời gan ruột” của đồng chí Ngô Tôn Tẫn - Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Thanh Hóa - người gắn bó gần trọn cuộc đời với hoạt động công đoàn và phong trào công nhân, viên chức, lao động xứ Thanh. Từ công nhân đi lên, vì lao động mà cống hiến “Nghề chọn người chứ không phải người chọn nghề” - câu nói này quả đúng với đồng chí Ngô Tôn Tẫn. Sau khi tốt nghiệp Trường Kỹ thuật trung cấp Mỏ (nay là Trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp tỉnh Quảng Ninh), ông được bố trí về Mỏ than Mạo Khê (Công ty TNHH MTV than Mạo Khê, Đông Triều, Quảng Ninh) làm việc. Tại đây, ông được “tắm mình” trong bầu không khí lao động và cuộc sống của những người thợ mỏ, ngày đêm hăng say đi tìm kiếm “vàng đen” cho Tổ quốc. Năm 1984, ông được bầu làm thư ký công đoàn của Phân xưởng 9 D1 - Mỏ than Mạo Khê. Cũng trong năm đó, khi Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động cuộc thi “Luyện tay nghề, thi thợ giỏi” ông là 1 trong 2 người đại diện ngành than đi thi thợ giỏi toàn quốc. Cũng vì sự phấn đấu ấy nên công tác tại mỏ than không lâu, từ một thư ký Công đoàn xưởng 9 D1, ông được cơ cấu vào Ban Chấp hành Mỏ than Mạo Khê, đồng thời được Công đoàn ngành Năng lượng (nay là Công đoàn ngành Công thương) cử đi học tại Trường Đại học Công đoàn. Đến năm 1990, khi kết thúc khóa học, ông được chuyển về quê hương Thanh Hóa công tác - đây cũng là bước ngoặt đưa cuộc đời ông gắn bó trọn vẹn với tổ chức công đoàn xứ Thanh. Đồng chí Ngô Tôn Tẫn gắn bó trọn vẹn với công đoàn xứ Thanh Làm cán bộ Công đoàn chuyên trách của Xí nghiệp Liên hiệp Vật liệu Xây dựng 1 từ năm 1990, đến năm 1992, đồng chí Ngô Tôn Tẫn tiếp tục được điều chuyển về Công ty Đá hoa Xuất khẩu Thanh Hóa và được bầu làm Phó Chủ tịch Công đoàn Công ty, Thường trực Đảng ủy. Năm 1993, LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa điều động ông về làm chuyên viên Ban Tổ chức, đến năm 1999 ông được bổ nhiệm làm Phó ban, rồi tiếp tục được bổ nhiệm làm Trưởng ban năm 2003, đồng thời được bầu vào BCH, Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh. Tháng 8/2008, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa. Tháng 4/2013 được bổ nhiệm làm Chủ tịch LĐLĐ tỉnh và tái cử chức Chủ tịch LĐLĐ tỉnh tháng 11/2018. Thời gian này, ông cũng tham gia vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa; được vinh danh là 1 trong 2 “Công dân kiểu mẫu” nhân kỷ niệm “70 năm ngày Bác hồ lần đầu tiên về thăm xứ Thanh”. Đồng chí Ngô Tôn Tẫn nhớ lại: “Thời điểm về nhận công tác tại LĐLĐ tỉnh là lúc các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Thanh Hóa nói riêng, cả nước nói chung đang bắt đầu phát triển mạnh. Sự hiện diện ngày càng nhiều các mô hình doanh nghiệp ngoài nhà nước kéo theo sự gia tăng lớn về số lượng công nhân, lao động (CNLĐ) trên địa bàn tỉnh; đồng thời tác động và làm thay đổi mối quan hệ lao động truyền thống của các đơn vị, doanh nghiệp nhà nước trước đó. Đình công, lãn công liên tục xảy ra do tác phong công nghiệp, do trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế của NLĐ và nhất là do sự vi phạm pháp luật của nhiều chủ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI. Đứng trước tình hình ấy, theo sự chỉ đạo của Tổng LĐLĐ Việt Nam, Tỉnh ủy Thanh Hóa, các cấp Công đoàn Thanh Hóa một mặt tăng cường công tác tuyên truyền, vận động NLĐ, người sử dụng lao động chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật. Mặt khác, chỉ đạo cán bộ công đoàn cơ sở xây dựng, tiến hành ký kết các bản thỏa ước lao động tập thể, chủ động đề xuất, phối hợp với chủ doanh nghiệp để định kỳ tổ chức các buổi đối thoại; các cấp Công đoàn Thanh Hóa phối hợp cùng với các sở, ban, ngành chức năng của tỉnh nhanh chóng tìm hướng giải quyết nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho NLĐ, cũng như tạo điều kiện, cơ sở để các doanh nghiệp ổn định phát triển sản xuất. “Quan điểm của tôi là, cán bộ công đoàn phải là người trọng tài, là trung tâm gắn kết giữa NLĐ và doanh nghiệp. Cán bộ công đoàn phải nhiệt tình, tâm huyết; phải thực hiện đúng nguyên tắc kỷ luật; trong chỉ đạo điều hành cần phải quyết liệt, nói đi đôi với làm… có như vậy mới tạo ra được vị thế của công đoàn, đồng thời được CNLĐ yêu mến, tin tưởng”. - đồng chí Ngô Tôn Tẫn nói. Cán bộ công đoàn không ngại thử thách Theo đồng chí Ngô Tôn Tẫn, hiện nay Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới; việc tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương đã và sẽ tiếp tục tác động lớn đến việc làm, quan hệ lao động, hoạt động của tổ chức công đoàn. NLĐ sẽ có thể tiếp cận được những việc làm mới, nhất là được tiếp cận nền khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến, nhưng mặt khác cũng phải đối diện với sự cạnh tranh và đào thải. Với tổ chức Công đoàn Việt Nam, việc phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. NLĐ và quan hệ lao động trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước sẽ tiếp tục phát triển mạnh, chiếm tỷ trọng chủ yếu. Mặt khác những hình thái sử dụng lao động mới cũng xuất hiện và sẽ tác động tới suy nghĩ, hành vi ứng xử của CNLĐ, làm biến đổi hệ thống quan hệ lao động truyền thống. Công đoàn Việt Nam cũng sẽ phải cạnh tranh với các tổ chức công đoàn độc lập trong việc thu hút và giữ chân NLĐ. Như vậy là khó khăn, thách thức nhiều hơn, nhiệm vụ cũng nặng nề hơn. Trong bối cảnh đó, đồng chí Ngô Tôn Tẫn cho rằng, bản thân mỗi cán bộ công đoàn phải tự đổi mới về cả nhận thức lẫn hành động. Phải năng động hơn, sáng tạo hơn, gần gũi với NLĐ hơn. Phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hoạt động, ngoại ngữ và công nghệ thông tin. Đặc biệt, trong hoạt động công đoàn, cán bộ công đoàn phải thích ứng được với thực tiễn, phải hiểu được CNLĐ, chủ doanh nghiệp và là đầu mối đàm phán, thương thảo, giải quyết các tranh chấp lao động… “Với cán bộ công đoàn, tôi luôn coi trọng người có tài; người làm được việc chứ không phải đánh giá trên hồ sơ, bằng cấp” - đồng chí Ngô Tôn Tẫn nhấn mạnh. Vị “thủ lĩnh” Công đoàn xứ Thanh cho rằng: Những năm vừa qua, Thanh Hóa liên tục chứng kiến những vụ ngừng việc tập thể. Ông cho rằng, về bản chất, đây là vấn đề tất yếu của quá trình phát triển. Sau mỗi cuộc ngừng việc tập thể, chủ doanh nghiệp sẽ nhìn nhận ra được những sai sót trong cơ chế, chính sách; NLĐ cũng qua đó sẽ đòi hỏi được những quyền lợi chính đáng; ngừng việc tập thể cũng tác động tích cực theo hướng đẩy mạnh tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trên cùng địa bàn. Vấn đề của cán bộ công đoàn là phải giúp CNLĐ thực hiện các hành động ấy trong ôn hòa, tránh việc đập phá tài sản và ảnh hưởng đến an ninh trị an; đồng thời, tham mưu giúp doanh nghiệp nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, ổn định sản xuất, tạo động lực để doanh nghiệp phát triển.  Công việc của cán bộ công đoàn là phải hướng các hoạt động về CNLĐ, lấy CNLĐ làm trung tâm; phải bám sát cơ sở để nắm tình hình, nhanh chóng phát hiện những vướng mắc và kịp thời có phương án giải quyết ổn thỏa; tăng cường công tác giám sát, tối kỵ việc quan liêu, lơ là, làm việc theo lối chỉ tay 5 ngón. Bảo vệ CNLĐ, nhưng cán bộ công đoàn cũng cần quan tâm nhiều tới doanh nghiệp; phải gỡ khó cho doanh nghiệp; bằng sự hoạt động hiệu quả của tổ chức công đoàn, chứng minh cho họ thấy công đoàn có vai trò tích cực trong ổn định quan hệ lao động, tạo ra động lực trong lao động, sản xuất, củng cố, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp… “Làm cán bộ công đoàn phải biết dự báo. Phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và phải linh hoạt với thực tiễn. Muốn cho tổ chức công đoàn ngày một phát triển, mỗi cán bộ công đoàn phải nhiệt tình, tâm huyết, trăn trở… Tôi cho rằng, những điều đó sẽ khiến cán bộ công đoàn nảy sinh ra những sáng kiến hay trong quá trình hoạt động. Nếu thực sự tâm huyết, cán bộ công đoàn không bao giờ hết việc. Nếu không có tâm huyết thì sẽ chẳng biết việc gì để làm…”. - đồng chí Ngô Tôn Tẫn tâm niệm. Công Đoàn

Làm tốt công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam

TĐKT - Sáng 26/4, tại Hội trường Học viện Chính trị, Viện Khoa học xã hội Nhân văn Quân sự - Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm ngày truyền thống (29/4/1999 - 29/4/2019). Thiếu tướng Phạm Tiến Dũng, Chính ủy Học viện Chính trị đã trao Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Viện Khoa học xã hội Nhân văn Quân sự Viện Khoa học xã hội Nhân văn Quân sự là cơ quan nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam về chính trị, những vấn đề về công tác đảng, công tác chính trị, đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng và đường lối, quan điểm của Đảng. 20 năm qua, Viện đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, triển khai toàn diện, đồng bộ có chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học, góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan, quan điểm của Đảng và sự phát triển của khoa học xã hội nhân văn quân sự… Hiện nay, đội ngũ cán bộ khoa học của Viện có 1 giáo sư, 16 phó giáo sư, 8 tiến sĩ, 19 thạc sĩ. Qua 20 năm, Viện Khoa học xã hội Nhân văn quân sự đã triển khai nghiên cứu thành công 179 đề tài khoa học các cấp; 15 chuyên đề tổng kết lý luận - thực tiễn theo yêu cầu của Ban Bí thư, Hội đồng Lý luận Trung ương; triển khai 14 công trình nghiên cứu cơ bản; biên soạn và xuất bản 156 đầu sách chuyên khảo, 315 chuyên đề khoa học, 235 bộ giáo trình, tập bài giảng; tham gia 17.500 hội đồng khoa học, hướng dẫn 950 học viên sau đại học; tổ chức hơn 100 cuộc hội thảo và tọa đàm khoa học. Với những thành tích đạt được, Viện Khoa học xã hội Nhân văn Quân sự đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Lao động hạng Ba, 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; Bằng khen của Thủ tướng và nhiều phần thưởng cao quý khác… Tại buổi lễ, Thiếu tướng Phạm Tiến Dũng, Chính ủy Học viện Chính trị đã trao Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Viện Khoa học xã hội Nhân văn Quân sự. Nguyệt Hà

Người mang con chữ đến với dân tộc Mông ở Hang Kia

TĐKT - Gần 30 năm gắn bó với sự nghiệp trồng người, cô giáo Hà Thị Hằng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở (TH&THCS) Hang Kia B (xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) luôn tận tâm, hết mình với các em học sinh là đồng bào dân tộc. Không chỉ vậy, chị còn là người đóng góp lớn trong việc xóa mù chữ và thay đổi nhận thức của chị em phụ nữ người Mông.   Cô Hà Thị Hằng, thay mặt trường TH&THCS Hang Kia B nhận quà tặng của đồng chí Bùi Văn Cửu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Sơn Bình (nay thuộc Hà Nội) năm 1990, chị Hằng được phân công về làm Phó Hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng ở một trường Trung học cơ sở thuộc xã khó khăn trên địa bàn huyện Mai Châu. Với tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề, chị Hằng đã vượt qua mọi khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Năm 2018, chị nhận được quyết định điều động đến công tác tại trường Tiểu học và THCS Hang Kia B đặt tại xóm Thung Mặn. “Hang Kia là một xã đặc biệt khó khăn, cách xa trung tâm huyện hơn 60 km. Từ trung tâm xã đến bản Thung Mặn khoảng 10 km, chỉ có một con đường mòn độc đạo xuyên qua núi đá. Người dân nơi đây, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, đời sống còn nhiều khó khăn, nhiều hủ tục lạc hậu còn duy trì, là địa bàn điểm nóng về ma túy. Nơi trường tôi mới tiếp nhận công tác, tình trạng học sinh bỏ học rất nhiều, bậc tiểu học tỷ lệ bỏ học tới 37,5%, bậc THCS lên đến 66%.”- chị Hằng chia sẻ. Để nắm bắt được tình hình và có những giải pháp phù hợp, chị không quản ngại khó khăn đi hàng chục ki-lô-mét đường rừng, tranh thủ thời gian đến các gia đình người Mông ở các xóm để trò chuyện với các cháu nhỏ, các chị em phụ nữ, tìm hiểu phong tục, tập quán, đời sống của bà con. Chị tâm sự: “Thực sự khi đi khảo sát cuộc sống của người dân nơi đây, tôi thấy quá nhiều những khó khăn, bất cập. Người dân đến 60% không biết nói tiếng phổ thông, trong đó phần lớn là phụ nữ. Tình trạng mù chữ, tái mù chữ chiếm 58,35% dân số. Việc sinh đẻ không có kế hoạch dẫn đến có trường hợp cha mẹ không nhớ nổi tên con, không biết chữ chỉ biết điểm chỉ...”. Sau khi khảo sát tình hình, chị bắt xây dựng kỷ cương, nền nếp nhà trường, tạo điều kiện, khích lệ, động viên cán bộ, giáo viên xa nhà khắc phục mọi khó khăn, nhiệt tình công tác. Đồng thời, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa cán bộ, giáo viên nhà trường với cấp ủy, chính quyền và bà con dân bản để ngày càng có sự gắn kết chặt chẽ. Cùng với đó, chị cũng đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học, linh hoạt trong sử dụng phương pháp. Động viên đội ngũ giáo viên tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các giờ giảng với hình ảnh trực quan, sinh động, gần gũi, phù hợp với tâm lý học sinh để tạo hứng thú cho các em trong học tập. Đồng thời, tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. “Các em được trải nghiệm nấu ăn, làm nộm, làm nem rán - là những món ăn mà người Mông không có thói quen chế biến. Nhiều em lần đầu tiên được biết đến đường ăn, cà chua, đậu phụ nên hoạt động này đã đem lại nhiều điều mới lạ, thích thú cho các em, làm cho các em nhớ trường, nhớ lớp và thích đi học hơn.”- chị Hằng chia sẻ. Để khắc phục tình trạng học sinh bỏ học và làm thay đổi nhận thức cũ của người dân, chị Hằng còn tích cực tham mưu và phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội xã Hang Kia đến từng xóm, bản, hộ gia đình làm công tác vận động nhân dân đi học. Thường xuyên tổ chức các buổi lao động công ích giúp đỡ gia đình phụ huynh, tìm các nguồn tài trợ tự nguyện để hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Theo chị Hằng, muốn khắc phục triệt để tình trạng học sinh bỏ học, điều quan trọng nhất là phải làm thay đổi nếp nghĩ, nhận thức của người dân. Muốn trẻ đi học, trước hết, những người cha, người mẹ phải biết chữ, nói được tiếng phổ thông, như thế mới có thể tuyên truyền, vận động con cái mình đi học. Bởi vậy, chị Hằng và tập thể nhà trường đã đề xuất ý tưởng mở lớp phổ cập giáo dục cho người lớn tuổi trên địa bàn và đã được cấp ủy, chính quyền xã, huyện cùng Phòng, Sở Giáo dục và Đạo tích cực ủng hộ, giúp đỡ. Với tỷ lệ người dân không biết nói tiếng phổ thông trong xã chiếm tới 60% và đa số là phụ nữ, chị Hằng và nhà trường đã xác định đây là đối tượng nhà trường cần hướng tới trong việc vận động. Chị cho biết, việc tuyên truyền được bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, gần gũi nhất và trực tiếp giúp đỡ được người dân. Đơn giản như khi biết trong bản có dịch gà bị bệnh tụ huyết trùng, chị Hằng cùng các thầy cô trực tiếp mang thuốc trị dịch đến một số gia đình và để người dân tự đọc cách điều trị. Khi thấy họ lúng túng không thể đọc được, chị Hằng và các giáo viên tranh thủ vừa hướng dẫn, vừa giải thích những tác hại của việc không biết chữ. Bên cạnh đó, nắm bắt được tâm lý chị em phụ nữ Mông rất yêu văn nghệ, thích múa hát, chị Hằng thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu văn nghệ, dạy múa cho chị em, hướng dẫn chị em tập hát theo chữ trên điện thoại di động. “Nhiều chị em rất muốn hát nhưng không đọc được chữ, tủi thân, khóc vì không biết chữ.”- chị nhớ lại. Vì vậy, khi thấy nhà trường đề xuất việc học chữ, chị em phụ nữ trong bản tích cực hưởng ứng. Thời gian đầu có 86 người theo học trên tổng số 300 hộ gia đình. “Việc vận động người dân tham gia học là một khó khăn, nhưng khi tổ chức các lớp học còn khó khăn gấp bội. Do các chị em là lao động chính trong gia đình, ngày bận việc nương rẫy nên các lớp được mở vào buổi tối. Lớp học có nhiều độ tuổi khác nhau, nhiều chị hơn 30 năm nay chỉ biết cầm cuốc, cầm dao nên tay chai cứng rất khó viết chữ; nhiều chị con nhỏ mới 2, 3 tháng tuổi, khi đi học phải địu con trên lưng ngồi học; nhiều chị mắt yếu, không nhìn rõ chữ…”- chị Hằng chia sẻ.  Nhưng với sự nhiệt tình, tận tâm của chị Hằng và các giáo viên các chị em rất tích cực tham gia. Có những chị chồng đến bế con cho vợ học, con lớn đến bế em cho mẹ học, những em nhỏ đã biết chữ đến kèm cho mẹ. Với những đóng góp tích cực từ cô hiệu trưởng Hà Thị Hằng, năm học 2018 - 2019, trường TH&THCS Hang Kia B có 76 học viên đến lớp. Chị em phụ nữ xã đã biết nói tiếng phổ thông; biết đọc chữ để chữa bệnh cho lợn, gà; biết chăm sóc con cái khi ốm đau… Các chị em mạnh dạn hơn trong giao tiếp; biết quý trọng thầy cô giáo; biết đọc sách, báo, biết tính toán trao đổi, mua bán; biết ký tên thay vì điểm chỉ, biết lắng nghe tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước... Cũng trong năm học 2018 - 2019, tỷ lệ học sinh ra lớp ở cả 2 khối TH&THCS xã Hang Kia đạt 100%, không còn tình trạng học sinh bỏ học. Vào dịp tết cổ truyền dân tộc Mông năm 2019, học sinh không nghỉ học, sau tết Nguyên đán Kỷ Hợi, học sinh đến lớp đầy đủ. Tuệ Minh

Công ty Điện lực Thanh Hoá kỷ niệm 55 năm Nhà máy Điện Hàm Rồng và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

TĐKT - Vừa qua, Công ty điện lực Thanh Hoá (PC Thanh Hoá) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 55 năm ngày khánh thành Nhà máy Điện Hàm Rồng và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Đây là một sự kiện trọng đại đối với các thế hệ cán bộ, công nhân, người lao động của Công ty, là niềm vinh dự, tự hào được đóng góp một phần công sức vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Ông Đỗ Trọng Hưng - Phó Bí thư thường trực, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa trao Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước tặng Công ty Điện lực Thanh Hóa Cách đây 55 năm, PC Thanh Hoá được Bộ Thủy Lợi - Điện lực ra quyết định thành lập ngày 6/4/1961. Trải qua quá trình hình thành và phát triển đến nay, ngành điện Thanh Hóa đã qua 4 lần đổi tên. Nhưng dù bất cứ tên gọi nào, PC Thanh Hóa vẫn hoàn thành nhiệm vụ, góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như đất nước. Ông Đỗ Trọng Hưng - Phó Bí thư thường trực, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho ông Trịnh Xuân Như - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty Điện lực Thanh Hóa Nhớ lại những ngày đầu thành lập, ông Trịnh Xuân Như - Giám đốc PC Thanh Hóa cho biết, PC Thanh Hoá được thống nhất từ 4 cơ sở phát điện trong tỉnh gồm: Nhiệt điện Lô Cô - Hàm Rồng; Thủy điện Bàn Thạch; Nhiệt điện Cổ Định và Nhiệt điện Hàm Rồng với tổng công suất 6.060 kW. “Đặc biệt, khi nhà máy nhiệt điện Hàm Rồng đi vào hoạt động, ngành điện nơi đây đã ghi một dấu mốc quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trong tỉnh. Thế nhưng, là nhà máy chủ lực cho việc sản xuất điện, nên vào thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, cụm nhà máy điện Hàm Rồng lại bị bom đạn đánh phá liên tục. Tuy nhiên, bằng lòng yêu nước, các cán bộ công nhân viên tại đây đã vừa sản xuất, vừa anh dũng chiến đấu để bảo vệ thành quả Hàm Rồng”, ông Như nói. Ban lãnh đạo Công ty đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất Nhớ lại thời kỳ đó, nhiều cán bộ của nhà máy Hàm Rồng chia sẻ: “Dù khó khăn, chúng tôi vẫn vừa sản xuất vừa thực hiện phương châm, địch đánh phá đến đâu, ta khắc phục, sửa chữa đến đó để dòng điện luôn toả sáng.” Không chỉ chiến đấu bảo vệ nhà máy, những người thợ điện xứ Thanh còn hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại các chiến trường ác liệt. Trong số 214 công nhân tham gia nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc, đã có 9 người đã anh dũng hy sinh. Ngày gặp nhau trong Lễ kỷ niệm 55 năm nhà máy nhiệt điện Hàm Rồng anh hùng, không ít người đã rớt nước mắt khi kể về những năm tháng chiến tranh gian khổ, với đầy vất vả và hi sinh. Nhờ những nỗ lực đó của cả tập thể, năm 1971, mạng lưới điện của tỉnh Thanh Hoá được nối liền với điện lưới toàn miền Bắc. Thanh Hoá xây dựng thêm 5 cụm điện diezen có tổng công suất trên 2.000 kW, phục hồi Nhà máy điện Hàm Rồng nên sản lượng điện tăng dần từ 8.292.041 kWh năm 1965 tăng lên 25.193.807 kWh năm 1975. Sau khi non sông quy về một mối, dù còn khó khăn, nhưng ngành điện cả nước đã quyết tâm bắt tay thực hiện công cuộc đổi mới với một tinh thần quyết liệt. Đặc biệt, vào những năm 80, PC Thanh Hóa đã được đầu tư đáng kể, xây dựng lưới điện, các trạm biến áp từ 35 kV đến 220 kV; xây dựng mở rộng mạng lưới điện đến vùng nông thôn, nông trường, xí nghiệp và các điểm cơ khí nhỏ, hợp tác xã nông - lâm - ngư nghiệp, phục vụ đắc lực cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế; chính trị, an ninh - quốc phòng trong tỉnh. Tuy nhiên, khi kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng lên đáng kể thì nhu cầu sử dụng điện ở Thanh Hoá cũng vì thế mà tăng cao. Ngành điện nơi đây đã phải xác định rõ mục tiêu “Điện phải đi trước một bước” vì đây chính là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các cá nhân nhận Bằng khen của Bộ Công thương Vì thế, trong những năm qua, ngành điện đã đầu tư trên 39.009 tỷ đồng để phát triển hệ thống điện. Trong đó, 31.259 tỷ đồng xây dựng 2 nhà máy phát (Thủy điện Trung Sơn và Nghi Sơn 1); 4.100 tỷ đồng cho lưới điện truyền tải và phân phối; đầu tư cho lưới điện trung, hạ áp 3.614 tỷ đồng và nhiều hạng mục quan trọng khác; đẩy mạnh áp dụng công nghệ nhằm nâng cao độ tin cậy cấp điện, giảm tổn thất điện năng, đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế cũng như sinh hoạt của nhân dân. Đồng thời nỗ lực xóa các bản “trắng điện”. Hiện, PC Thanh Hoá cũng đang quản lý bán điện trực tiếp cho 755.073 khách hàng tại 27 huyện, thị, thành phố. Bên cạnh những thành tích về quản lý vận hành, sản xuất, kinh doanh - dịch vụ khách hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện, ông Trịnh Xuân Như, Giám đốc PC Thanh Hóa cho biết, PC Thanh Hóa cũng đã hoàn thành tốt công tác xây dựng Đảng, đoàn thể; đào tạo nguồn nhân lực; chăm lo đời sống vật chất văn hóa tinh thần cho cán bộ, công nhân viên cũng như tham gia nhiều hoạt động an sinh xã hội tại địa phương. Nhờ đó, PC Thanh Hoá luôn nhận được sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. UBND tỉnh tặng PC Thanh Hóa bức trướng mang dòng chữ: “Đoàn kết, Sáng tạo, Phát triển bền vững, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước” Luôn nỗ lực chiến đấu trong thời chiến, hăng say sản xuất trong thời bình, PC Thanh Hoá đã nhận được trao tặng rất nhiều phần thưởng cao quý từ Đảng và Nhà nước như: Huân chương Chiến công hạng Ba cho Tự vệ Nhà máy Điện Hàm Rồng (1965); Huân chương Quân Công hạng Ba (1967); Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất (1968, 1996)… Năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống Nhà máy Điện Hàm Rồng anh hùng, cán bộ, công nhân viên PC Thanh Hóa vinh dự đón nhân Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước trao tặng. Biểu diễn văn nghệ chào mừng kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống Công ty Với tinh thần “Thắp sáng niềm tin, vì niềm tin của bạn”, PC Thanh Hóa sẽ tiếp tục phấn đấu hoàn thành mọi kế hoạch, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, đảm bảo cấp điện ổn định và chất lượng cho phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương. Đồng thời không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động; xây dựng đội ngũ công nhân, lao động của Công ty vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa quê hương, đất nước. Bình Minh

Đại tá Nguyễn Đình Ba – tấm gương sáng của lực lượng Cảnh sát quản lý trại giam

TĐKT - Hơn 30 năm công tác trong lực lượng Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Đại tá Nguyễn Đình Ba (sinh năm 1964), Bí thư Đảng ủy, Giám thị Trại giam Gia Trung luôn chủ động, nỗ lực sáng tạo không ngừng, đề ra nhiều giải pháp, cách làm hay, góp phần nâng cao chất lượng quản lý và giáo dục cải tạo phạm nhân, được nhân rộng và phổ biến trong toàn lực lượng. Năm 2019, anh vinh dự được phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Tiếp nối truyền thống vì nước quên thân Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, ở xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam – nơi từng chịu sự tàn phá khốc liệt nhất của chiến tranh, năm lên 4 tuổi, cậu bé Nguyễn Đình Ba đã sớm mồ côi mẹ bởi bà đã anh dũng hy sinh khi tham gia làm nhiệm vụ trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chính hoàn cảnh thiệt thòi đó đã tôi luyện, làm nên một Nguyễn Đình Ba mạnh mẽ, tự lập và tràn đầy tình yêu thương. Đầu quân vào ngành công an (năm 1984), trước các hoạt động phản động của tổ chức Fulro trải dài ở khắp các tỉnh Tây Nguyên, anh được phân công về Công an tỉnh Gia Lai - Kon Tum làm nhiệm vụ trực tiếp tham gia công tác chống Fulro và quản lý hành chính về trật tự xã hội nơi đây. Với bản lĩnh và tài trí, anh đã giúp nhiều người dân lầm lỡ trở về với chính nghĩa, về với bản làng và người thân của mình. Mang theo những kinh nghiệm thực tiễn ấy, năm 1986, anh về công tác tại Trại giam T15 thuộc Công an tỉnh Gia Lai - Kon Tum (nay là Trại giam Gia Trung thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an). Trại đóng trên địa bàn 4 xã của huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai – một địa điểm nóng phức tạp về dân tộc, tôn giáo, với tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 60% dân số; bao gồm 13 bản làng người đồng bào dân tộc thiểu số Bana và Tày sinh sống. Thời tiết khí hậu khắc nghiệt. Đời sống kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn. Tình hình an ninh chính trị tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định do hoạt động chống phá của bọn phản động Fulrô lưu vong, tin lành Đề ga, tà đạo Hà Mòn... Đại tá Nguyễn Đình Ba, Giám thị Trại giam Gia Trung (thứ ba từ phải sang) được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trao tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Trại giam Gia Trung được giao quản lý số lượng lớn phạm nhân có mức án cao, nhiều tiền án, tiền sự. Đặc biệt, tình trạng phạm nhân móc nối với đối tượng bên ngoài đưa điện thoại di động, vật cấm vào trại giam cất giấu, sử dụng nổi lên phức tạp, nhức nhối; làm phát sinh các yếu tố, nguy cơ gây mất ổn định, an toàn trại giam. Trong khi đó, cán bộ, chiến sĩ của trại không tăng, địa bàn rộng nên công tác quản lý, giám sát phạm nhân gặp không ít khó khăn. Với trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp cùng sức sáng tạo không ngừng, Đại tá Nguyễn Đình Ba đã tham mưu cũng như tổ chức thực hiện nhiều hoạt động, góp phần xây dựng trại giam trở thành nơi tu dưỡng nhân cách, làm lại cuộc đời cho nhiều phận người không may vướng vào vòng lao lý. Đặc biệt, từ năm 2009 đến nay, với vai trò là người đứng đầu Trại giam Gia Trung, anh cùng tập thể lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ đoàn kết xây dựng đơn vị liên tục 10 năm đạt danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”, trong đó năm 2015 được tặng Cờ thi đua của Chính phủ, các năm 2009, 2011, 2013, 2018 được tặng Cờ thi đua của Bộ Công an. Đặc biệt năm 2015, đơn vị vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai. Sáng tạo trong đánh thức những mầm thiện Hơn 30 năm gắn bó với nghề cảnh sát trại giam, với anh đây là một nghề đặc biệt, tuy chịu nhiều gian nan, vất vả, thậm chí phải chấp nhận hy sinh hạnh phúc của bản thân, nhưng nó mang lại cho anh nhiều xúc cảm. Mỗi một cuộc đời lầm lỡ được đánh thức, hồi sinh chính là động lực để anh tiếp tục công việc nơi đất trại đầy gian nan. Anh cho biết: Làm nghề này, thường xuyên va chạm tiếp xúc với những mặt trái của xã hội, với những tội phạm, những người đã hoặc đang mang trong mình những mầm ác; nếu không có đạo đức tốt và lập trường quan điểm vững vàng thì rất dễ bị sa ngã hoặc bị những yếu tố tiêu cực chi phối. Bên cạnh việc vững vàng, kiên định, chí công vô tư, người cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát trại giam còn rất cần có một tấm lòng nhân ái, vị tha. “Phạm nhân dù phạm tội gì đi nữa thì trong họ luôn còn một phần lương tri của con người; bởi vậy công việc của người cán bộ cảnh sát trại giam không chỉ đơn thuần là quản lý phạm nhân mà cần phải đánh thức được mầm thiện trong con người của họ, giúp họ tìm được những suy nghĩ tích cực, để có một cuộc sống mới tốt hơn sau khi ra trại.” - anh Ba chia sẻ. Vì vậy, những năm qua, bằng trái tim của một người cán bộ hết lòng mong muốn sự hoàn lương ở các phạm nhân, anh đã áp dụng sáng tạo nhiều giải pháp đem lại hiệu quả cao trong quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân như: Tổ chức chương trình đối thoại giữa giám thị, cán bộ quản giáo với phạm nhân theo định kỳ tháng, quý, 6 tháng, một năm để phạm nhân nêu lên những suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng và phản ánh những ưu, nhược điểm của cán bộ. Qua đó, xóa đi sự mặc cảm giữa người vi phạm pháp luật với người quản lý thi hành án phạt tù, tạo thêm niềm tin và tinh thần tự giác cải tạo trong phạm nhân. Lớp dạy nghề thêu cho phạm nhân nữ ở Trại giam Gia Trung Bên cạnh đó, anh còn có những sáng kiến thấm đậm chất nhân văn trong tổ chức Hội nghị gia đình phạm nhân, bằng việc cho mời thân nhân những phạm nhân cải tạo tốt đến đơn vị tổ chức gặp gỡ, đối thoại, tạo không khí thân tình, cởi mở, để phạm nhân coi trại giam như ngôi nhà thứ hai, từ đó vươn lên cải tạo tốt. Anh có sáng kiến xây dựng Quỹ tấm lòng vàng để giúp đỡ, tặng quà cho những phạm nhân có hoàn cảnh khó khăn vào các dịp lễ, tết... Qua đó, giúp phạm nhân và thân nhân gia đình họ hiểu rõ hơn về chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta; thấy rõ vai trò, trách nhiệm của gia đình, sự đồng thuận của xã hội trong việc công tác quản lý, giáo dục phạm nhân sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng. Cùng với đó, nhằm trang bị cho phạm nhân học tập được một nghề, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tái hòa nhập cộng đồng, Đại tá Nguyễn Đình Ba đã quan tâm, chú trọng trang bị kiến thức văn hóa, dạy nghề cho các phạm nhân. Trại giam Gia Trung đã phối hợp cùng với Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Mang Yang tiến hành phổ cập văn hóa tiểu học; liên kết với trường Trung cấp nghề Gia Lai, các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh miền Trung, Tây nguyên để dạy nghề và cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân. 5 năm qua, đã có 29 phạm nhân sau khi ra trại được nhận vào làm tại các cơ sở, công ty, doanh nghiệp trên đại bàn tỉnh. Với các phương pháp quản lý, giáo dục sáng tạo, thiết thực đó, nhiều năm qua, hàng ngàn phạm nhân thuộc Trại giam Gia Trung đã tự giác tham gia mọi hoạt động giáo dục cải tạo. Nổi bật trong công tác này là đã làm chuyển biến nhận thức của từng phạm nhân, từ mặc cảm đến yên tâm và tự giác chấp hành cải tạo, nhiều phạm nhân có mức án cao 20 năm đến chung thân không còn tư tưởng chống đối hoặc âm mưu trốn khỏi nơi giam giữ. Từ năm 2012 đến nay, trại giam Gia Trung đã có trên 9.000 lượt phạm nhân được các cấp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, hàng trăm phạm nhân được đặc xá ra tù trước thời hạn. Đáng nói là, những mô hình, sáng kiến của Đại tá Nguyễn Đình Ba trong giáo dục cải tạo phạm nhân đã được nhân rộng, học tập trong toàn lực lượng, mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân. Xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc Đơn vị đóng quân trên địa bàn rộng ở Tây nguyên còn nhiều khó khăn, lại phức tạp về tôn giáo nên tình hình an ninh chính trị tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định. Nhận thức được điều này, bên cạnh làm tốt công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân, Đại tá Nguyễn Đình Ba còn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế rừng vừa tăng thu nhập cho đơn vị, vừa cải tạo môi trường sinh thái. Đồng thời, xây dựng nên mối quan hệ chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và đồng bào các dân tộc tại địa phương, tạo được tình cảm tốt đẹp, gắn bó quân dân ngày càng thắm thiết, tạo nên thế trận lòng dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên địa bàn nơi đơn vị đóng quân. Hàng năm, Trại tổ chức trồng hàng trăm héc ta cây keo mang lại thu nhập cao. Từ năm 2008 đến nay, Trại đã trồng được gần 500 héc ta cây cao su, hiện đã có hơn 200 héc ta đến kỳ khai thác mủ, phục vụ cho công tác lao động dạy nghề phạm nhân và đảm bảo cho sự phát triển bền vững, ổn định lâu dài của đơn vị. Đồng thời, có thêm điều kiện hỗ trợ nhân dân địa phương xây dựng nhà đại đoàn kết, trường học, nhận nuôi trẻ mồ côi, khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho đồng bào, vận động trẻ em bỏ học đến trường... Hơn 30 năm không ngừng cống hiến trong nghề cảnh sát trại giam, anh vinh dự được Đảng và Nhà nước, Bộ Công an, các cấp các ngành tặng thưởng nhiều huân chương, bằng khen, giấy khen: Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (năm 2007), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (năm 2013),  Huân chương Chiến công hạng Ba (năm 2015), Huân chương Chiến công hạng Nhì (năm 2016). Từ năm 2009 đến nay, anh liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, năm 2014, 2017 đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn lực lượng CAND”. Mới đây, năm 2019 anh vinh dự là 1 trong 6 đồng chí thuộc Bộ Công an được trao tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”. Đây là nguồn khích lệ, động viên để người những người chiến sĩ Cảnh sát trại giam nói chung và cá nhân Đại tá Nguyễn Đình Ba nói riêng tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, giúp những đối tượng lầm đường, lạc lối về lại với cuộc đời. Mai Thảo

Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì

TĐKT - Sáng 23/4, tại Hà Nội, Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì (23/4/1959 - 23/4/2019). Tới dự, có: Trung tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh BĐBP; Thiếu tướng Đỗ Danh Vượng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP. Trung tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh BĐBP trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì của Chủ tịch nước tặng Cục Chính trị BĐBP Ngày 23/4/1959, Cục Chính trị BĐBP và 5 phòng trực thuộc Cục Chính trị là Phòng Tuyên huấn, Phòng Tổ chức, Phòng Cán bộ, Phòng Bảo vệ An ninh, Phòng Dân vận (nay là Phòng Vận động quần chúng) được thành lập. Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu sự ra đời của một lực lượng trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang trước đây và BĐBP ngày nay. Từ khi thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; trực tiếp là Đảng ủy, Bộ tư lệnh BĐBP, Cục Chính trị BĐBP không ngừng hoàn thiện tổ chức, biên chế, hướng về cơ sở, bám sát thực tiễn tình hình trên các tuyến biên giới, yêu cầu, nhiệm vụ công tác biên phòng để chủ động làm tốt công tác tham mưu đề xuất, hướng dẫn chỉ đạo và triển khai tổ chức thực hiện toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, nội dung công tác Đảng, công tác chính trị trong BĐBP. Qua đó, góp phần quan trọng giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong BĐBP; giữ vững và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng trong BĐBP; xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, đoàn kết thống nhất, khắc phục khó khăn, bám trụ nơi biên giới, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cùng với đó, BĐBP còn tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, làm tốt công tác đối ngoại biên phòng, ngoại giao nhân dân, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển... Những năm gần đây, nhiều mô hình, cách làm hay như: “Phong trào quần chúng tự quản đường biên, mốc quốc giới”; “Thầy thuốc quân hàm xanh, thầy giáo quân hàm xanh, chiến sĩ văn hóa quân hàm xanh...”; nhiều chương trình ý nghĩa, như: “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, “Bò giống giúp người nghèo biên giới”, “Nâng bước em tới trường”, “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản”… được Cục Chính trị triển khai sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Cục đã tham mưu cho Đảng ủy BĐBP chỉ đạo các đơn vị thành lập gần 1.600 tổ tự quản, hơn 39.700 hộ gia đình tham gia bảo vệ đường biên, mốc quốc giới và gần 14.900 tổ tự quản an ninh - trật tự, tạo “phên giậu lòng dân” vững chắc; đồng thời chủ trì, tham mưu xây dựng nhiều nhà tình nghĩa, công trình dân sinh tặng đồng bào biên giới... Với những đóng góp quan trọng trong xây dựng lực lượng BĐBP, Cục Chính trị BĐBP vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiều phần thưởng cao quý khác. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống, Cục Chính trị BĐBP vinh dự đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì. Phương Thanh

Làm giàu từ trồng cây mai ghép

TĐKT - Ở huyện Nhà Bè (TP Hồ Chí Minh) khi nhắc đến mai là mọi người nghĩ ngay tới vườn mai của gia đình ông Trần Văn Đây, chủ vườn mai tại Ấp 4, xã Nhơn Đức. Nhờ biết kết hợp nhiều cách làm, vườn mai của ông Đây luôn có những cây mai đẹp, lạ và cho thu nhập ổn định. Ông Đây bên những cây mai ghép của mình Tiếp nhận vườn cây cảnh của gia đình từ năm 1970, với niềm đam mê và yêu thích cây cảnh, ông Đây bắt đầu chọn cây mai chiếu thủy để chăm sóc. Sau đó, ông chuyển sang trồng cây sứ, hoa lan. Tuy nhiên, loay hoay nhiều năm với các loại cây cảnh khác nhau, nhưng hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao. Qua tìm hiểu sách báo ông biết cây mai ghép là loại cây có xu hướng phát triển, mang hiệu quả kinh tế. “Nếu như hoa mai thường chỉ có 5 cánh, thì mai ghép có thể tới 12 đến 24 cánh. Cánh tròn đều và đẹp hơn... được khách hàng rất ưa chuộng trong mỗi dịp Tết.”- ông Đây cho biết. Đây cũng chính là động lực giúp ông quyết tâm phải trồng thành công giống mai đặc biệt này. Thời gian đầu, do chưa có kinh nghiệm, tỷ lệ ghép mai không cao, cây cho ra hoa chưa đúng thời vụ. Để có thêm kiến thức, kinh nghiệm, ông Đây tự tìm tòi qua sách, báo, tryền hình và trực tiếp đi thăm quan, học hỏi các mô hình ở nhiều địa phương. Theo ông, “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, bởi mỗi lần đi, ông không chỉ đến để ngắm, mua mai về trồng mà còn là cơ hội để cho ông học hỏi và tích lũy kinh nghiệm cũng như kiến thức trồng trọt. Ông cho biết, cây mai ghép là cây mai cảnh, do đó khâu chăm sóc khá cầu kỳ. Nhiều người mua cây mai ghép về trồng do chăm sóc chưa đúng kỹ thuật nên mai hay bị chết. Do cây còn nhỏ, các năm đầu có thể rụng hơn 50% nụ hoa, nhưng đến lúc cây già khoảng 2 đến 3 năm trở lên sẽ đậu được nhiều hoa hơn. Cũng theo ông Đây, muốn mai tốt, ra hoa nhiều vào năm sau, phải chăm sóc mai ngay sau Tết. Qua rằm tháng giêng, cần đem mai ra ngoài trời, bắt đầu thực hiện các giai đoạn chăm sóc, tạo dáng. Muốn mai đẹp uyển chuyển, phải dùng kẽm, tạo dáng cong từ các cành. Từ tháng 7 âm lịch, không nên tỉa cành nếu không mai sẽ mất sức, không ra hoa. Nếu mai trồng trong chậu, mỗi năm nên thay đất một lần. Tùy vào vụ mùa cũng như thời tiết mà mai sẽ được bón phân, canh bông, lặt lá cho phù hợp... Hiện nay, vườn nhà ông có hơn 800 cây mai ghép đã ghép hoàn chỉnh với đủ kích cỡ và đủ kiểu dáng khác nhau, ngoài ra còn hơn 300 gốc mai ghép nguyên liệu chưa hoàn chỉnh, hơn 100 cây sứ cảnh. Với giá trung bình từ 1 - 2 triệu đồng/cây, mỗi năm sau khi chăm sóc thành phẩm ông bán khoảng 500 - 600 cây. Không chỉ giỏi trong nghề trồng mai,ông Đây còn thường xuyên tham gia chia sẻ kinh nghiệm trồng mai với nông dân, tạo việc làm thường xuyên, ổn định cho 20 lao động tại địa phương với thu nhập từ 5 - 7 triệu đồng/người/tháng. Ông còn hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, tư vấn cách chăm sóc, hướng dẫn trồng mai ghép người dân làm kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Với những đóng góp của mình, ông Trần Văn Đây đã vinh dự được bình chọn là “Người nông dân tiêu biểu” TP Hồ Chí Minh và được UBND thành phố tặng Bằng khen. Chia sẻ về quá trình chăm sóc vườn mai, ông Đây cho biết: Làm nghề nào cũng thế, nhất lại là nghề trồng cây cảnh, phải có niềm đam mê, yêu nghề và chịu khó. Việc chăm sóc mai ghép cũng giống như chăm con mọn vậy, do đó người trồng phải thật có tâm với nghề, như vậy mới đạt được kết quả tốt. Tùng Chi

Trang