Điển hình tiên tiến

“Từ mẫu” của người nghèo làng biển

TĐKT - Mỗi ngày, phòng khám quân dân y của Đồn Biên phòng Hải Vân tại Khu dân cư văn hóa biển Kim Liên, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng đón hàng chục bệnh nhân đến châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt và chữa trị. Hơn 10 năm gắn bó với phòng khám, bằng tấm lòng và y đức của “người thầy thuốc quân hàm xanh”, Thiếu tá, quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) Ninh Công Khánh đã giành trọn tình cảm yêu mến, tin tưởng của bà con làng biển. Thiếu tá, QNCN Ninh Công Khánh khám bệnh và tư vấn điều trị cho bà con Được Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) TP Đà Nẵng điều động về công tác tại phòng khám từ năm 2009 với cơ sở vật chất, trang thiết bị đơn sơ, thiếu thốn, ngay từ những ngày đầu, y sĩ Ninh Công Khánh cùng đồng đội đã luôn nỗ lực phấn đấu để làm tròn nhiệm vụ được giao. Phòng khám khi đó chỉ có 1 ống nghe, 1 bộ đo huyết áp, 1 máy châm cứu, 1 đèn chiếu tia hồng ngoại, 1 giường bệnh và một cơ số thuốc điều trị bệnh thông thường. Vượt lên khó khăn, anh cùng đồng đội đã giúp đỡ được hàng ngàn lượt người dân trên địa bàn thoát khỏi bệnh tật, được cấp ủy, chính quyền địa phương và bà con nhân dân quý mến. Hơn 10 năm công tác tại đây, Thiếu tá Ninh Công Khánh luôn tích cực nghiên cứu, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, y đức; thường xuyên cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là khu dân cư tuyên truyền, vận động nhân dân nắm được mục đích, tác dụng của mô hình “Khu dân cư văn hóa biển Kim Liên” trong đó có công tác quân dân y kết hợp; khám và điều trị miễn phí cho nhân dân. Anh kể: “Lúc đầu mọi người còn e dè, nhưng người này đỡ bệnh rồi, đi nói với người kia nên bà con dần dần tin tưởng và đến với phòng khám ngày một đông”. Không chỉ khám, chữa bệnh miễn phí cho người dân tại phòng khám, anh còn tranh thủ đi khắp làng biển để khám, chữa bệnh “lưu động” cho những bệnh nhân đi lại khó khăn, không có khả năng đến với phòng khám. Anh cũng không ngại đến khám cho bà con nghèo, không có khả năng đi lại ở các khu dân cư lân cận. Cuối năm 2015, Bộ Chỉ huy BĐBP thành phố điều chuyển anh về công tác tại Bệnh xá Biên phòng thành phố, bàn giao công tác quân dân y kết hợp tại khu dân cư văn hóa biển Kim Liên cho một đồng nghiệp khác. “Biết tin tôi đi, bà con làng biển kéo về chật kín cả phòng khám quân dân y kết hợp đề nghị giữ tôi lại, nhưng nhiệm vụ cấp trên phân công nên tôi phải thực hiện và hứa với bà con tôi sẽ tranh thủ sắp xếp thời gian để về chăm sóc cho bà con.” - Anh xúc động kể lại. Trong 1 năm đó, anh được bà con cho mượn một căn nhà ở làng biển để làm chỗ khám bệnh miễn phí cho mọi người. Mọi máy móc, vật dụng đều do anh bỏ tiền túi ra mua sắm. Kể từ đó, hàng ngày, cứ sau giờ làm việc ở Bệnh xá Biên phòng thành phố và không trực, anh lại chạy xe máy vượt hơn 20 km về với bà con làng biển để khám, chữa bệnh. Về sau, anh được địa phương tạo điều kiện cho mượn nhà sinh hoạt cộng đồng của tổ 8, phường Hòa Hiệp Bắc để khám bệnh. Cũng từ đó đến nay, nơi ấy được bà con làng biển gọi với cái tên thân thương là “Trạm xá của người nghèo”. Năm 2016, theo đề nghị của bà con nhân dân khu vực Kim Liên, anh được Bộ Chỉ huy BĐBP thành phố điều động trở lại với Phòng khám quân dân y Kim Liên. Một vai hai trách nhiệm, anh vừa làm tròn trách nhiệm ở phòng khám, vừa tranh thủ chữa bệnh miễn phí cho bà con ở Trạm xá của người nghèo. Nghe tin anh trở lại khám, chữa bệnh, bà con Kim Liên và bà con ở khắp các địa phương về phòng khám “Quân dân y kết hợp” ngày một đông dần. Mỗi ngày trung bình anh chữa trị cho gần 50 người, ngày nào cũng phải đến gần 22 giờ tối mới hết bệnh nhân. Anh cho biết: “Trước đây, chúng tôi có thể vận dụng số thuốc dự phòng sẵn sàng chiến đấu không sử dụng hết để cấp miễn phí cho bà con; nhưng từ năm 2017 đến nay, thuốc được quyết toán theo quy định của bảo hiểm y tế nên không thể lấy thuốc cấp miễn phí cho bà con được.”   Trước khó khăn đó, anh đã bàn với khu dân cư vận động các nhà hảo tâm và cả sự đóng góp, ủng hộ của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hải Vân để mua thuốc; thậm chí có lúc bí quá anh đã bỏ tiền túi ra để mua. Tính đến nay, anh đã ủng hộ được trên 60 triệu đồng, tiền mua thuốc và trang thiết bị phục vụ bà con. Để chia sẻ với phòng khám, nhiều lần bà con đề nghị xin được góp 15 ngàn đồng/2 ngày thuốc điều trị. Anh đồng ý nhưng nhất quyết không nhận quá 15 ngàn và không nhận tiền của những người có hoàn cảnh khó khăn. Các nhà hảo tâm ủng hộ thông qua Đồn và địa phương, sau đó chuyển đến phòng khám. Từ khi thành lập Phòng khám “Quân dân y kết hợp” đến nay, anh đã khám và chữa bệnh cho hàng ngàn lượt bệnh nhân trên địa bàn phường Hòa Hiệp Bắc cũng như bệnh nhân từ các quận, huyện khác đến… Bằng những phương pháp kết hợp đông tây y hay phương pháp tác động cột sống tùy theo từng bệnh nhân cho phù hợp, anh đã chữa trị thành công nhiều bệnh nhân mắc bệnh xương khớp mãn tính, tai biến mạch máu não. Tiêu biểu như bệnh nhân Lê Thị Thanh Hiền tổ 28 Phường Hòa Hiệp Bắc bị tai nạn giao thông năm 2006 với chẩn đoán của Bệnh viện Đa khoa TP Đà Nẵng là chấn thương sọ não, liệt tứ chi, qua thời gian điều trị tại phòng khám “Quân dân y kết hợp”, đến nay bệnh nhân đã chống nạng đi lại và làm được những việc sinh hoạt cá nhân. Bệnh nhân Nguyễn Văn Định bị liệt tứ chi do tai biến mạch máu não, qua thời gian điều trị đến nay bệnh nhân đã tự làm được những việc phổ thông… Ngoài thời gian phụ trách phòng khám “Quân dân y kết hợp”, anh tích cực tham gia các hoạt động của đơn vị, bảo đảm công tác vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch, bệnh chăm sóc sức khỏe chu đáo mỗi khi có cán bộ, chiến sĩ ốm đau. Kiểm tra thường xuyên, kê đơn thuốc điều trị hiệu quả các bệnh thông thường tại đơn vị. Những ca bệnh nặng, phức tạp được kịp thời chuyển lên tuyến trên điều trị dứt điểm. Do vậy quân khỏe của đơn vị phục vụ sẵn sàng chiến đấu luôn đạt trên 98,5%. Hàng năm, anh luôn được tín nhiệm và cử đi tham gia các đợt khám, chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho phụ nữ và người dân nghèo nơi biên giới các tỉnh Quảng Nam, Gia Lai, Hà Tĩnh… theo Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Nghĩa tình đồng đội”, “Về nguồn”… Thực hiện phong trào thi đua Quyết thắng 5 năm qua, anh được Bộ Chỉ huy BĐBP TP Đà Nẵng và các ngành địa phương kịp thời ghi nhận và biểu dương khen thưởng. Năm 2019, anh tiếp tục đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Tuy nhiên, đối với anh, phần thưởng lớn nhất là được nhân dân trìu mến gọi tên “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Bác sĩ quân hàm xanh”… Nguyệt Hà  

TS. Chu Mạnh Nguyên xác lập kỷ lục “Người cao tuổi nhất được nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Giáo dục tại Việt Nam”

TĐKT - Ngày 1/2, Tổ chức kỷ lục Việt Nam (VietKings) phối hợp với Trường Bồi dưỡng Cán bộ giáo dục Hà Nội tổ chức Lễ trao Kỷ lục “Người cao tuổi nhất được nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Giáo dục tại Việt Nam” cho TS. Chu Mạnh Nguyên. Sự kiện nhằm tôn vinh và quảng bá cho tư tưởng “Học tập suốt đời” - một điều kiện quyết định cho mọi công dân phát triển để đóng góp cho sự phát triển xã hội, đất nước. TS. Chu Mạnh Nguyên đã tiếp nối và phát huy truyền thống “Hiếu học” của dân tộc, ông là một trong những tấm gương của sự kiên trì “Học tập suốt đời”, theo đuổi triết lý “Học, học nữa, học mãi” của V.I Lênin. TS Thang Văn Phúc - Chủ tịch Hội Kỷ lục gia Việt Nam (bên phải) trao chứng nhận kỷ lục cho TS. Chu Mạnh Nguyên. Nhà giáo Chu Mạnh Nguyên sinh ngày 15 tháng 7 năm 1944, quê quán tại làng Mọc Thượng Đình, Nhân Chính, Từ Liêm (nay là Thanh Xuân), Hà Nội. Ông tốt nghiệp Khoa Vật lý, trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1965. Ông từng là giáo viên giảng dạy tại Trường cấp 3 Yên Mỹ, Hưng Yên (1965 - 1974), Trường cấp 3 Dương Xá, Hà Nội (1974 - 1976), Trường cấp 3 Phan Đình Phùng, Hà Nội (1976 - 1977), trường Cao đẳng Sư phạm Sông Bé (1977 - 1980), trường Cán bộ quản lý giáo dục Hà Nội nay là Bồi dưỡng Cán bộ giáo dục Hà Nội (1980 - 3/2005). Ngày 15/11/2000, ông được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú” vì đã có nhiều cống hiến trong việc xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục của dân tộc. Ông có sở thích, sở trường về dạy học và nghiên cứu khoa học giáo dục; ông đã chủ trì 3 đề tài nghiên cứu khoa học cấp TP Hà Nội, 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo; ông là Tổng chủ biên bộ giáo trình “Bồi dưỡng Cán bộ quản lý trường mầm non, trường THCS” (NXB Hà Nội, 2003), Tổng chủ biên bộ sách “Bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ cho giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông Hà Nội” (NXB Hà Nội, 2004); ông là thành viên Hội đồng biên soạn (Bộ Giáo dục và Đào tạo) bộ sách “Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho viên chức làm công tác thiết bị dạy học ở cơ sở giáo dục phổ thông” (NXB Giáo dục Việt Nam, 2009). Năm 1994, ông tham dự khóa đào tạo ngắn hạn đầu tiên “Giáo viên dạy Tin học các trường THPT” tại Trường Đại học Sư phạm, do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Ông bảo vệ luận văn thạc sĩ và được cấp bằng Thạc sĩ “Quản lý giáo dục và văn hóa” năm 2000. Cùng thời gian đó, ông tham dự khóa đào tạo và được cấp bằng “Cử nhân Chính trị” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1998 -  2000). Ngày 23/12/2006, ông được Hội đồng giải thưởng Sách Việt Nam trao tặng giải Đồng (sách hay) cho tác phẩm: “Giáo trình Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông” (NXB Hà Nội) do ông làm chủ biên. Từ năm 1998 - 3/2005 ông làm chủ, điều hành có hiệu quả 2 Dự án với Tổ chức VVOB - Tổ chức Hợp tác phát triển và Hỗ trợ kỹ thuật Flemish, Vương quốc Bỉ (Dự án phát triển quản lý trường học tại Hà Nội và Dự án giáo dục môi trường trong các trường học Hà Nội), hàng trăm trường học với hàng nghìn giáo viên Hà Nội đã được hưởng lợi và trưởng thành thông qua việc tham gia các hoạt động của các Dự án. Gần nửa thế kỷ phục vụ trong ngành giáo dục, trong đó có 25 năm cho giáo dục Thủ đô, nhà giáo Chu Mạnh Nguyên đã tham dự và tham luận về giáo dục và công tác quản lý cơ sở giáo dục tại nhiều hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế. Năm 1972 và năm 2003, ông đã lỡ cơ hội làm nghiên cứu sinh vì những lý do khách quan khác nhau; năm 2011 ông tham gia dự tuyển và được công nhận là nghiên cứu sinh khóa 30 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội và ông đã hoàn thành khóa đào tạo nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài: “Phát triển đội ngũ viên chức làm công tác thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông”. Ông được công nhận học vị Tiến sĩ và cấp bằng Tiến sĩ ngày 23/9/2015 theo Quyết định số 8624/QĐ-ĐHSPHN của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khi đó ông 71 tuổi. Mai Thảo  

Đánh thức khát vọng làm giàu trên cao nguyên đá

TĐKT - Kế thừa tình yêu nông nghiệp từ bố mẹ, thấu hiểu những khó khăn của đồng bào dân tộc, người đẹp vùng cao nguyên đá Đồng Văn Lưu Thị Hòa (dân tộc Cờ Lao) quyết tâm trở về khởi nghiệp từ nông nghiệp, làm giàu cho quê hương. Vượt qua bao khó khăn, thử thách, hiện nay Hòa đã là Chủ nhiệm HTX Nông Lâm nghiệp và Dịch vụ Thương mại tổng hợp Po Mỷ với 7 thành viên cùng 2 cửa hàng phân phối các đặc sản của vùng cao Hà Giang ở Hà Nội, với mức doanh thu vài trăm triệu đồng mỗi tháng. Lưu Thị Hòa giới thiệu sản phẩm mật ong bạc hà, đặc sản của Đồng Văn Sinh ra tại Đồng Văn, Hà Giang, với ngoại hình xinh đẹp, cao ráo và khả năng giao tiếp tự tin, Hòa từng đoạt giải Nhất và giải Thí sinh có gương mặt đẹp nhất cuộc thi Người đẹp miền Cao nguyên đá lần thứ nhất năm 2014, lọt top 60 (vòng chung kết) cuộc thi Hoa hậu các dân tộc Việt Nam năm 2013. Sau khi tốt nghiệp khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), cô đã từ chối làm việc cho một số công ty danh tiếng với thu nhập từ 12-15 triệu đồng để trở về quê hương lập nghiệp. Đến giờ, Hòa vẫn luôn tự hào về con đường cô đã chọn: “Bản thân em sinh ra và lớn lên ở mảnh đất còn nhiều gian khó, thấu hiểu những nỗi nhọc nhằn của bà con dân tộc. Cùng với sự hiểu biết về sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, sạch, hiện đại sau nhiều năm sinh sống tại Thủ đô, em quyết định thành lập HTX để khởi nghiệp từ nông nghiệp, giúp nền nông nghiệp quê hương em phát triển, mang lại cuộc sống ấm no hơn cho bà con”. Mảnh đất Đồng Văn, nơi Hòa sinh ra và lớn lên có khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho nhiều loại rau, củ, quả phát triển, được nhiều du khách ưa dùng. Tuy nhiên, bà con nơi đây còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thủ công, không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Trăn trở trước thực tại ấy, sau nhiều năm ấp ủ và kiên trì thuyết phục gia đình, Hòa mạnh dạn kêu gọi các thành viên thành lập HTX Nông lâm nghiệp và dịch vụ thương mại tổng hợp Po Mỷ vào tháng 10/2017. Quy mô của HTX có 2.700 m2 nông trại với quy trình khép kín, trồng, sản xuất, kinh doanh một số nông sản, đặc sản: Mật ong bạc hà, cây ăn quả lâu năm, rau củ ngắn ngày… Để khảo sát, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường, thời gian qua, HTX đã tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm tại nhiều vùng, miền. Đồng thời, HTX cũng đã mở một chuỗi cửa hàng “Về bản” tại Hà Nội. Doanh thu từ sản xuất, kinh doanh bước đầu đạt trung bình mỗi tháng vài trăm triệu đồng. Các sản phẩm của HTX Po Mỷ được quảng bá tại nhiều hội chợ, triển lãm. Năm 2018, vượt qua hàng trăm dự án, cô gái dân tộc Cờ Lao đã lọt vào vòng chung kết cuộc thi Dự án khởi nghiệp lần thứ 4 với chủ đề “Phát triển tài nguyên bản địa bằng sức mạnh công nghệ” và đạt giải khuyến khích.  Dự án Hòa mang đến cuộc thi là “Farmstay - Nông nghiệp bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Đồng Văn - Hà Giang”, tập trung triển khai vùng trồng rau an toàn và cây ngắn ngày tại xã Phố Là, Sủng Là. Bước đầu, Dự án liên kết, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, khắc phục những khó khăn trong quá trình canh tác và kết nối những sản phẩm đặc sản đến với thị trường rộng lớn hơn. Giai đoạn thứ hai, Dự án tập trung vào khai thác yếu tố văn hóa, du lịch từ nền tảng thế mạnh du lịch địa phương kết hợp nông trại đã xây dựng giai đoạn 1, tiến hành hoàn thiện cơ sở vật chất, liên kết đồng bào dân tộc thiểu số trong khu vực tham gia vào mô hình du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp. Hòa tâm sự: “Em hy vọng đây sẽ là mô hình kiểu mẫu để có thể là động lực cho các thanh niên dân tộc thiểu số khác phát triển, tận dụng tài nguyên bản địa để làm giàu cho quê hương mình.” Tháng 11/2019, Lưu Thị Hòa đã lọt vào danh sách Short List Women of the future Awards - Giải thưởng Phụ nữ tương lai 2020, tôn vinh phụ nữ thành đạt tại các quốc gia Đông Nam Á, được chọn tham gia mạng lưới hợp tác toàn cầu của các phụ nữ tài năng đi đầu trong lĩnh vực phát triền kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị Đông Nam Á, ở hạng mục Social Entrepreneur. Giải thưởng ghi nhận sự đóng góp của cô gái Cờ Lao cho cộng đồng, đây sẽ là một cột mốc quan trọng để Hòa phấn đấu hơn nữa, cố gắng hơn nữa cho đồng bào, cho quê hương. Con đường khởi nghiệp vẫn còn nhiều chông gai phía trước, nhưng những bước đi táo bạo của Lưu Thị Hòa đã và đang truyền cảm hứng cho nhiều thanh niên dân tộc thiểu số ở Đồng Văn, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người trên con đường khởi nghiệp, làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Phương Thanh

Trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nguyên Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương

TĐKT - Chiều 20/1, tại Hà Nội, Ban Thi đua - Khen thưởng (TĐKT) Trung ương tổ chức Lễ trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho đồng chí Vương Văn Đỉnh, nguyên Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương. Tới dự, có các đồng chí: Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Thứ nhất Hội đồng TĐKT Trung ương; Trần Thị Hà, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương; Phạm Huy Giang, Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương; Vương Văn Đỉnh, nguyên Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương; Lương Hồng Quang, Vụ trưởng Vụ TĐKT Văn phòng Chủ tịch nước. Cùng dự có lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức các vụ, đơn vị thuộc Ban TĐKT Trung ương. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh trao tặng Huân chương chương Lao động hạng Nhì cho đồng chí Vương Văn Đỉnh Đồng chí Vương Văn Đỉnh sinh năm 1958, nguyên là Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương. Trong suốt quá trình công tác tại Ban, trải qua nhiều cương vị khác nhau: Phó Chánh Văn phòng, Phó Vụ trưởng, Chánh Văn phòng, Phó Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương, đồng chí Vương Văn Đỉnh luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Với thành tích, công lao và những đóng góp to lớn đối với ngành TĐKT nói chung và Ban TĐKT nói riêng, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Bằng khen của Bộ trưởng, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương Lao động hạng Ba. Ngày 21/1/2019, Chủ tịch nước đã có Quyết định trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho đồng chí Vương Văn Đỉnh. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh phát biểu tại buổi lễ Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh chúc mừng năm mới, chúc mừng đồng chí Vương Văn Đỉnh đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước trao tặng, đồng thời chúc mừng những thành tựu Ban TĐKT Trung ương đã đạt được trong năm 2019 vừa qua. Phó Chủ tịch nước lưu ý trong 5 nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra tại Hội nghị tổng kết ngành, năm 2020, Ban TĐKT Trung ương cần tập trung thực hiện 2 nhiệm vụ quan trọng: Sớm trình Ban Bí thư thông qua Đề án tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước trong năm 2020; tiếp tục ra sức phát huy mọi kinh nghiệm, năng lực để tham mưu cho Hội đồng TĐKT Trung ương chỉ đạo, tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước các cấp, tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Cùng với đó, tiếp tục rà soát, thu nhận tất cả ý kiến, trình quốc hội Luật TĐKT sửa đổi, bổ sung trong năm tới. Phấn đấu đến năm 2021, Luật TĐKT sửa đổi, bổ sung sẽ là một văn bản luật hoàn thiện nhất từ trước đến nay để công tác TĐKT đi vào nền nếp, hiệu quả hơn. Đồng chí Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương phát biểu tại buổi lễ Tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo của Phó Chủ tịch nước, đồng chí Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban TĐKT Trung ương khẳng định: Ban TĐKT Trung ương sẽ tiếp tục đoàn kết, tham mưu có nhiều đổi mới sáng tạo trong tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc, tạo động lực thi đua sôi nổi trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Phương Thanh

Vươn tới thành công từ niềm đam mê sáng tạo của chàng kỹ sư trẻ

TĐKT - Là người trẻ tuổi nhất trong 10 gương mặt nhận giải thưởng Tôn Đức Thắng năm 2019, anh Nguyễn Ngọc Chiến, nhân viên phòng kỹ thuật, Công ty TNHH MTV Cảng Bến Nghé đã có thành tích đáng nể với 10 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong vòng 7 năm, góp phần mang lại lợi ích hàng tỷ đồng cho doanh nghiệp. Kỹ sư Nguyễn Ngọc Chiến là 1 trong 10 điển hình được vinh danh tại Giải thưởng Tôn Đức Thắng lần thứ 19 Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh chuyên ngành Điện tự động năm 2012, anh Chiến vào làm việc tại Công ty Cảng Bến Nghé với vị  trí kỹ sư điện phụ trách các thiết bị xếp dỡ. Anh được lãnh đạo giao phụ trách 2 cẩu QC và 4 cẩu RTG, có tải trọng nâng từ 40 tấn. Đây đều là các thiết bị, phương tiện chủ lực, lớn nhất cảng. “Được lãnh đạo tin tưởng giao phó nhiệm vụ quan trọng như vậy, với một kỹ sư trẻ mới ra trường như tôi vừa là niềm vinh dự mà cũng rất nhiều áp lực. Do chưa có kinh nghiệm thực tế nên để có thể làm tốt công việc, tôi đã phải học hỏi rất nhiều. Không những tự học, nghiên cứu về hoạt động của các loại cần cẩu mà tôi còn tích cực học hỏi kinh nghiệm của các bậc đàn anh trong công ty .” - anh Chiến chia sẻ. Vậy mà cũng phải mất thời gian 2 năm anh mới làm quen và nắm bắt được công việc. Trong quá trình làm việc, anh Chiến nhận thấy xe nâng container ở Cảng Bến Nghé là phương tiện chủ lực trong việc xếp dỡ. Tuy nhiên, sau thời gian sử dụng, hệ thống điện điều khiển xe nâng container PPM đều bị xuống cấp, dây điện lão hóa dễ gây chạm chập, cháy, nổ. Hơn nữa, việc sửa chữa nhiều lần cũng khiến hệ thống này không còn như ban đầu, dẫn đến tình trạng nhiều xe nâng hoạt động không ổn định, ảnh hưởng đến tiến độ xếp dỡ hàng hóa. Cộng thêm chi phí sửa chữa khá tốn kém (khoảng hơn 500 triệu đồng). Là người ham mê sáng tạo, anh Chiến đã quyết tâm tìm giải pháp để khắc phục tình trạng trên. Sau một thời gian tự tìm tòi, nghiên cứu, anh đã đưa ra sáng kiến “Nâng cấp hệ thống điện xe nâng container PPM sử dụng bộ xử lý trung tâm PLC S7-200 hãng Siemens”. Với sáng kiến này, anh Chiến đã tiến hành thay mới toàn bộ hệ thống điện xe nâng container PPM với bộ xử lý trung tâm PLC S7-200 của hãng Siemens. Theo anh, đây là bộ xử lý được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là giá thành rẻ so với hãng khác nhưng chất lượng vẫn đảm bảo. Sáng kiến được đưa vào áp dụng đã giúp việc theo dõi, sửa chữa lỗi cho xe nâng container được thực hiện nhanh do PLC được kết nối với máy tính. Nhờ vậy, rút ngắn thời gian sửa chữa khi xe có sự cố. Xe hoạt động ổn định hơn đã góp phần nâng cao năng suất bốc xếp và tiết kiệm cho công ty hơn 1 tỷ đồng/năm. Ngoài sáng kiến trên, anh Chiến còn nhiều sáng kiến được áp dụng và mang lại hiệu quả cao như sáng kiến lắp đặt bộ đo dòng điện Motor Hoist để phân biệt được container rỗng hoặc container chứa hàng. Giải pháp này giúp cảng tránh nhầm lẫn container không tải và có tải, từ đó dùng phương án xếp dỡ hợp lý. Hay sáng kiến, thiết kế hệ thống chiếu sáng tự động cho cẩu QC; nâng cấp hệ thống xe điện nâng container PPM. Nhờ vậy, năng suất xếp dỡ của các thiết bị này tăng cao, chỉ số khả năng sẵn sàng luôn duy trì ở mức cao trên 90%... Không chỉ là người giỏi công tác chuyên môn, anh Chiến còn là người thân thiện, gần gũi, tích cực truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho anh em đồng nghiệp cũng như những kỹ sư trẻ của công ty. Sức trẻ đầy nhiệt huyết cùng với sự trải nghiệm nhiều năm và tinh thần nỗ lực, sáng tạo, những người như anh Chiến đang là ngọn lửa truyền tinh thần lao động giỏi, lao động sáng tạo cho các đồng nghiệp của mình. Với những thành tích đạt được, anh Nguyễn Ngọc Chiến đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở cảng Bến Nghé liên tục từ năm 2013 - 2018; Bằng khen của Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh liên tục các năm từ 2013 – 2018; anh giành giải thưởng Nguyễn Văn Trỗi năm 2016; là 1 trong 9 công dân trẻ tiêu biểu TP Hồ Chí Minh năm 2018; là 1 trong 65 người thợ trẻ giỏi toàn quốc được vinh danh hồi tháng 5/2018 và là 1 trong 10 gương mặt tiêu biểu tại giải thưởng Tôn Đức Thắng năm 2019… Tuệ Minh

Người nặng lòng với công tác từ thiện

TĐKT - Hơn 10 năm nay, chị Lê Thị Ngọc Mai (ấp Nam Chánh, xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng) vẫn miệt mài trồng và chăm sóc vườn thuốc nam để phục vụ miễn phí cho người nghèo. Chị Mai cùng các chị em phụ nữ chăm sóc vườn thuốc nam Chia sẻ về cái duyên với trồng thuốc nam, chị Mai cho biết: Bản thân tôi luôn mong muốn có thể giúp đỡ, chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn. Năm 2009, trong lần xem thông tin trên báo, đài về các mô hình trồng thuốc nam từ thiện, tôi thấy rất tâm đắc và quyết định chọn công việc này làm công tác thiện nguyện. Bắt tay vào ý tưởng này, chị đã đầu tư 1000 m2 đất để trồng thuốc nam với mục tiêu cung cấp cho bà con trong tỉnh. Càng ngày, nhu cầu về thuốc nam càng lớn, chị đã tranh thủ sự hỗ trợ đất trồng của chùa Hội Phước, mạnh thường quân để mở rộng diện tích trồng thuốc. “Khi đó, khu đất của chùa chỉ là vùng đất bỏ hoang. Tôi đã vận động các chị em hội viên phụ nữ ấp bỏ gần 30 ngày công lao động để khai hoang, cải tạo và xin giống cây từ chùa Phước Thiện (Hưng Hội Tự) để trồng.” - chị Mai cho biết.  Ban đầu, do chưa hiểu biết nhiều về cây giống, kỹ thuật chăm sóc, cách làm… nên chị chỉ trồng một số ít loại cây thuốc. Vườn thuốc này một năm có thể cung cấp cho các chùa làm từ thiện khoảng 7 tấn thuốc tươi và 200 kg đã phơi khô. Sau đó, chị đã tự tìm hiểu, tham khảo sách, báo, kinh nghiệm thực tế và đến tận nơi một số cơ sở thuốc nam để học hỏi, đúc kết kinh nghiệm. Cùng sự ủng hộ của các mạnh thường quân, hội viên phụ nữ tham gia đóng góp công lao động, kinh phí, chị đã nhân rộng vườn thuốc với nhiều chủng loại cây. Hiện nay, chị đã thành lập được 7 vườn thuốc nam, mỗi vườn có diện tích trên 2000 m2, ước tính hàng năm đáp ứng cho các chùa làm từ thiện được khoảng 24 tấn thuốc tươi và 1 tấn thuốc đã phơi khô với chi phí trên 70 triệu đồng/năm (chi phí ăn uống, bồi dưỡng lao động, phân bón, trừ sâu…) Không chỉ vậy, nhằm phát huy hiệu quả công tác từ thiện nói chung và công tác khám, chữa bệnh nói riêng, chị đã vận động chị em phụ nữ, các mạnh thường quân đóng góp tiền mặt gây quỹ nhà thuốc với số tiền 40 triệu đồng/năm để giúp người bệnh có hoàn cảnh khó khăn và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe mọi người ngày một tốt hơn. Bên cạnh đó, là hội viên Chi hội Phụ nữ ấp Nam Chánh, chị cùng các chị em trong ấp thành lập Quỹ heo đất “Đập Đá” để góp vốn giúp đỡ cho những hoàn cảnh khó khăn, người nghèo không nơi nương tựa. Số tiền mà các thành viên đóng góp vào quỹ ít hay nhiều tùy theo mỗi người. Với cách làm đầy ý nghĩa đó, đến nay, Quỹ heo đất “Đập Đá” có hơn 200 thành viên tham gia. Hàng năm, Quỹ heo đất “Đập Đá” đều tham gia các hoạt động từ thiện trong và ngoài tỉnh như: Tham gia cùng Hội chữ thập đỏ tỉnh trong chương trình “Trao niềm hy vọng” với số tiền 51,5 triệu đồng/năm; tham gia phối hợp cùng đoàn Nhịp cầu nhân ái với số tiền 110 triệu đồng/năm; tham gia phối hợp cùng câu lạc bộ Tâm Sen với số tiền 18 triệu đồng/năm. Chị cũng vận động các thành viên của Hội đóng góp tiền mặt và ngày công lao động cùng với Chùa Hội Phước ủng hộ Nồi cơm từ thiện tại Trung tâm Y tế huyện Trần Đề với số tiền khoảng 16 triệu/năm. Quỹ heo đất “Đập Đá” còn phối hợp cùng các mạnh thường quân, vận động hỗ trợ xây nhà cho bà con có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã trên 40 triệu/năm. Ngoài ra, hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới ở địa phương, chị đã tích cực tham gia bằng nhiều hoạt động xã hội ý nghĩa: Thực hiện tốt các hoạt động tặng quà, trao tiền mặt, thuốc miễn phí, giúp đỡ bà con có hoàn cảnh khó khăn… “Cứ định kỳ hàng tuần, hàng tháng, tôi cùng các chị em hội viên phụ nữ ấp Nam Chánh đều cố gắng sắp xếp công việc gia đình để tham gia vận động từ thiện trên địa bàn sinh sống và tham gia cùng các đoàn khác trong và ngoài tỉnh đến những nơi có hoàn cảnh khó khăn…” - chị Mai chia sẻ. Chị còn vận động thành viên của hội tham gia xây dựng nông thôn mới như phát hoang các tuyến đường, phối hợp triển khai các hoạt động từ thiện trong và ngoài tỉnh. Những việc làm chị Lê Thị Ngọc Mai thật giản dị và gần gũi, nhưng mang ý nghĩa sâu sắc. Với những đóng góp cho công tác từ thiện, chị đã vinh dự nhận được nhiều giấy khen, bằng khen của các cấp. Nhưng có lẽ, với chị Mai, phần thưởng lớn nhất chính là niềm vui có được từ việc sẻ chia với những mảnh đời khó khăn, là tình cảm yêu mến, cảm phục mà mọi người dành cho chị. Bảo Linh  

Kiên trì ươm mầm xanh hy vọng nơi vùng cao

TĐKT - Lớn lên trong một gia đình thuần nông, tuổi thơ phải sống chung với cái đói, cái nghèo, chứng kiến nhiều đứa trẻ không được học hành, thầy giáo người Mông Lý A Phông, giáo viên Trường Tiểu học Trung Sơn B, xã Trung Sơn, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, luôn mong ước mình sẽ đưa cái chữ trở lại bản làng, đến với các em học sinh vùng cao. Bởi theo anh, muốn phát triển kinh tế, thoát khỏi cái đói, cái nghèo thì điều quan trọng nhất là mỗi người dân phải học để tăng sự hiểu biết, từ đó mới có thể thay đổi nhận thức, thay đổi tư duy và hành động. Vượt khó đi tìm cái chữ Thôn Nhồi, nơi Phông sinh ra và lớn lên, nằm cách trung tâm xã Trung Sơn khoảng 16 km. Trong số hơn 400 nhân khẩu đang sinh sống tại đây, đồng bào dân tộc Mông chiếm quá nửa. Mặc dù nhà nghèo nhưng Phông vẫn kiên trì tới trường, theo đuổi ước mơ học chữ. Phông chia sẻ: “Là người sinh ra và lớn lên tại đây, tôi thấu hiểu được những hoàn cảnh của người dân cũng như những khó khăn trong cuộc sống của gia đình mình. Chính vì điều đó, tôi đã nỗ lực đi học. Ngay trên ghế nhà trường, tôi đã xác định mục tiêu là đi học để đem cái chữ về bản, giúp các em học sinh có một tương lai tươi sáng hơn.” Thầy giáo Lý A Phông cùng các em học sinh Trường tiểu học Trung Sơn B. Những năm học phổ thông xa nhà vất vả, vừa phải đi gánh gạo để có tiền trọ học, anh vẫn nỗ lực học tập và tiếp tục thi đỗ vào Trường Đại học Hùng Vương. Sau khi tốt nghiệp đại học, Lý A Phông được phân công về Trường tiểu học Trung Sơn B dạy lớp cắm bản tại thôn Nhồi. Phông cho biết: Trước năm 2013, nhiều học sinh ở thôn Nhồi, nhất là những em người dân tộc Mông thường xuyên nghỉ học để theo gia đình lên nương làm rẫy. Đa số các em học hết lớp 5 là nghỉ ở nhà. Tỷ lệ học lên THCS rất ít và gần như không có học sinh học THPT chứ chưa nói đến học trung cấp, cao đẳng, đại học. Phụ huynh thì bận rộn với việc nương rẫy, không quan tâm đến việc học hành của con em mình. Bên cạnh đó, tư tưởng trọng nam, khinh nữ, không cho con gái đến trường còn phổ biến. Đặc biệt, các em học sinh là người Mông và bố mẹ các em đều không thạo tiếng Việt, gây ra rất nhiều khó khăn trong việc giảng dạy, giao tiếp đối với giáo viên, nhất là giáo viên vùng xuôi lên đây công tác. Năm 2013 - thời điểm Lý A Phông về làm thầy giáo, thôn Nhồi không có đường, không điện, không trường học. “Lớp tôi dạy chỉ có từ 7 - 10 em, đều là con em đồng bào Mông. Là trẻ em vùng sâu, vùng xa, các em chưa hiểu, chưa nói thạo tiếng phổ thông nên việc dạy dỗ không đơn giản. Nhiều khi nhìn học trò nhỏ xíu, đến lớp với cái bụng đói, nhút nhát, tự ti… mà thương các em ứa nước mắt” - Lý A Phông tâm sự. Thương các em, bằng tấm lòng của người thầy, người cha, thầy giáo Phông đã tìm mọi cách khắc phục, giảng dạy để các em dễ hiểu nhất. Nhờ thông thạo tiếng dân tộc, thầy dễ dàng tiếp xúc và trao đổi cởi mở với các em. Trong quá trình giảng dạy, nếu học sinh không hiểu thì thầy lại dạy song ngữ, vừa dùng tiếng Việt, vừa sử dụng tiếng Mông. Không chỉ dạy kiến thức, thầy giáo Phông còn rèn cho các em thói quen sinh hoạt sạch sẽ, vệ sinh, vun đắp cho các em ước mơ tốt đẹp. “Thầy dạy em học toán và tiếng Việt, dạy em hát. Em rất thích học thầy Phông” - Em Vàng Thị Hà Ly, học sinh lớp 1C, Trường tiểu học Trung Sơn B, hồ hởi nói về người thầy đáng mến của mình. Mỗi khi có học sinh nghỉ học giữa chừng, thầy Phông lại lặn lội đến từng gia đình để vận động, tuyên truyền về tầm quan trọng của việc học, thuyết phục phụ huynh cho con trở lại trường. Những ngày mùa đông thời tiết giá rét, sương mù dày đặc che hết cả đường đi cũng không làm chùn bước chân người thầy giáo trẻ. Nhờ sự kiên trì và trái tim yêu nghề của thầy Phông cùng các thầy cô giáo cắm bản ở thôn Nhồi, từ năm học 2013 - 2014 đến nay, các em học sinh đã đi học đông đủ và thường xuyên đảm bảo sĩ số. Học sinh tự tin, hiểu biết hơn, tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt việc học tập và rèn luyện ngày càng tăng. Đặc biệt, hiện thôn Nhồi có 9 học sinh người Mông có trình độ văn hóa 12/12, trong đó có 5 người trình độ đại học, 1 học viên đang thực tập sinh tại nước ngoài, 2 người có trình độ cao đẳng, 1 người có trình độ trung cấp. Hết mình vì thôn, bản Không chỉ dành nhiều tình cảm, tâm huyết cho công việc giảng dạy, thầy giáo Lý A Phông còn là một “cây dân vận khéo” của xã Trung Sơn. Cùng là người Mông và là một tấm gương sáng của thôn nên anh được bà con tin yêu, quý mến. Ông Đinh Văn Lúa, Bí thư Đảng ủy xã Trung Sơn, huyện Yên Lập cho biết: Là một đảng viên trẻ, ngoài việc dạy học, đồng chí Phông còn cùng với khu dân cư vận động bà con nhân dân phát triển kinh tế xã hội, giúp đồng bào dân tộc Mông định canh, định cư. Tại các buổi sinh hoạt, các buổi họp thôn, Lý A Phông luôn mạnh dạn tham gia đóng góp ý kiến, tuyên truyền cho bà con về việc ổn định nơi cư trú, không di cư tự do để có thời gian phát triển kinh tế cho gia đình; tuyên truyền bà con giữ mối quan hệ đoàn kết trong thôn cũng như với các anh em dân tộc khác trong vùng 6 khe của xã Trung Sơn, cùng nhau học hỏi và phát triển kinh tế theo hướng đổi mới… Với đặc thù 100% hộ đồng bào dân tộc Mông ở thôn Nhồi theo đạo Thiên Chúa, Phông còn chủ động phối hợp với Ban hành giáo vận động, hướng dẫn các hộ chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hăng hái thi đua lao động sản xuất và thực hiện tốt phương châm sống “Tốt đời đẹp đạo”, “Kính chúa yêu nước”. Anh thường xuyên vận động các tổ chức, cá nhân quyên góp ủng hộ các hộ nghèo, người già neo đơn trên địa bàn. Không dừng lại ở đó, anh thường xuyên vận động nhiều tổ chức, cá nhân quyên góp ủng hộ các hộ nghèo, người già neo đơn trên địa bàn. Ở khu Thành Xuân, xã Trung Sơn có gia đình ông Phùng Xuân Khánh và vợ là bà Dương Thị Lứu có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Ông Khánh là bộ đội xuất ngũ. Sau này ông đi lao động không may bị thương ở tay rồi bị nhiễm trùng. Ông bà chỉ có một con gái lập gia đình xa quê. Hai ông bà sống trong một căn nhà lụp xụp, không thể che được những cơn gió, những tháng ngày giá rét của mùa đông. Cảm thương trước gia cảnh của ông, tháng 10 vừa qua, thầy giáo Phông đã liên hệ với các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm, quyên góp tiền, ngày công lao động để xây dựng cho ông bà một căn nhà ấm cúng… Giờ đây, thôn Nhồi đã có nhiều đổi thay. Những con đường bê tông trải dài khắp thôn xóm, trường học kiên cố, điện lưới quốc gia, sóng điện thoại đã về tới tận thôn bản. 100% số hộ đồng bào Mông đã định cư ổn định, biết thâm canh lúa nước, trẻ em đến tuổi đều được đến trường. Trong niềm vui chung ấy có sự đóng góp không nhỏ của thầy giáo Lý A Phông. Nhờ những nỗ lực, cống hiến trong những năm qua, thầy Phông đã được Ban Dân tộc tỉnh Phú Thọ tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc huyện Yên Lập giai đoạn 2014 - 2019. Năm 2016, anh được Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam chứng nhận là giáo viên trẻ cắm bản tiêu biểu; năm 2018 vinh dự là 1 trong 170 đoàn viên thanh niên tiên tiến của tỉnh làm theo lời Bác. Năm 2019 tại Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Yên Lập, anh vinh dự được tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện chương trình hành động và Quyết tâm thư Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp huyện lần thứ II năm 2014. Phương Thanh  

Cô giáo mầm non yêu nghề, mến trẻ

TĐKT - Thấm nhuần lời dạy của Bác, cô Nguyễn Thị Ngọc Hằng, giáo viên Trường Mầm non Sao Sáng, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang luôn tiên phong trong mọi công tác, gương mẫu với đồng nghiệp, nhiệt huyết với công việc và là tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác. Các em học sinh luôn say mê, hứng thú với tiết học của cô giáo Hằng Sau khi tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non tại Trường Đại học Tiền Giang năm 2008, cô Hằng nhận công tác tại Trường Mầm non Sao Sáng. Hơn 10 năm công tác tại trường, hiểu được công việc nuôi dạy trẻ rất khó khăn, vất vả nhưng với niềm đam mê nghề, cô đã nỗ lực không ngừng. Ngay từ những ngày mới vào nghề, cô giáo Hằng đã chú ý tìm hiểu, đọc sách báo, sưu tầm những mẩu chuyện, chi tiết… thể hiện tình cảm, tình thương yêu, chăm lo của Bác với trẻ em, thanh thiếu niên. Sau khi đã có vốn tư liệu dày dặn, cô lồng ghép vào các chủ đề dạy học trong lớp. Dần dần, những mẩu chuyện nhỏ về sự quan tâm, chuyện Bác chia kẹo cho thiếu nhi, viết thư động viên, ân cần dạy bảo thanh thiếu niên của Bác khiến trẻ rất yêu thích. Xác định việc học tập và làm theo Bác là việc làm thường xuyên, hàng ngày gắn với hoạt động chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục, nuôi dạy trẻ, cô Hằng đã tích cực đổi mới, sáng tạo trong dạy học. Trong các giờ dạy, cô luôn lấy trẻ làm trung tâm, tổ chức nhiều hoạt động phù hợp với lứa tuổi như: Cho trẻ trải nghiệm nặn bánh, nhặt rau, chăm sóc vườn rau cùng cô… để thu hút trẻ cùng tham gia. Cô cũng thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin trong bài giảng, qua việc trình chiếu hình ảnh, video, giúp trẻ được quan sát trực quan, sinh động; sưu tầm và làm những đồ dùng học tập phù hợp với nội dung, chủ đề trong từng tiết học, kích thích sự sáng tạo và tư duy của trẻ như: Làm quả dứa, quả bưởi, khâu con rối, làm búp bê… Quá trình chăm sóc, giáo dục và đảm bảo an toàn cho trẻ gặp nhiều khó khăn do các cháu còn nhỏ, lại hiếu động, cô Hằng thường xuyên quan sát, gần gũi trẻ, hướng dẫn cho trẻ một số kỹ năng tự bảo vệ bản thân, khuyến khích trẻ giúp cô làm đồ dùng, đồ chơi, tìm hiểu tâm lý trẻ để biết trẻ thích gì. Cô ân cần, chăm sóc cẩn thận, chu đáo từng bữa ăn, giấc ngủ, uốn nắn cho trẻ từ những việc làm nhỏ nhất, dạy cho trẻ những kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi.  “Giáo viên mầm non phải kiêm nhiều vai trò khác nhau mới có thể chăm sóc tốt cho các con, là cô giáo nhưng có lúc lại như là một diễn viên, nghệ sĩ, lúc khác lại trở thành họa sĩ, nhà thơ... Chỉ mong muốn tạo cho các con có một hành trình vui vẻ khi đến lớp để mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. – cô Hằng chia sẻ. Nhờ đó mà lớp do cô chủ nhiệm luôn duy trì được sĩ số trẻ từ đầu năm học đến cuối năm học đạt 100%. Tất cả các cháu đến lớp đều thích tham gia các hoạt động, phát huy được tính tích cực, năng động và sáng tạo, ngoan ngoãn, lễ phép, biết chào hỏi, biết cảm ơn… Không chỉ yêu nghề, mến trẻ, có năng lực chuyên môn tốt mà cô Hằng còn là người sống giản dị, hòa đồng và tận tụy vì công việc chung của trường. Cô luôn tích cực đi đầu tham gia vào các phong trào thi đua và các hoạt động do nhà trường và ngành giáo dục tổ chức như: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”… Ngoài công tác chuyên môn, cô Hằng còn là bí thư chi đoàn của trường. Với cương vị này, cô luôn vận dụng, thực hiện tốt lời dặn dò của Bác Hồ với thanh, thiếu niên, nhi đồng. Từ đó, cô chủ động triển khai các chương trình, hoạt động tuyên truyền cho đoàn viên, thanh niên của trường đẩy mạnh học tập và làm theo Bác cũng như những bài học trong Di chúc của Bác Hồ; đồng thời, động viên các giáo viên trẻ không ngừng rèn luyện tay nghề, chuyên môn trong hoạt động giảng dạy và chăm sóc trẻ. Bác Hồ đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu còn nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ nhỏ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”. Nhìn nụ cười hiền hậu, ánh mắt trìu mến của cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Hằng, tin rằng cô sẽ làm tốt vai trò là người mẹ hiền thứ hai luôn yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ đàn con thơ của mình. Tuệ Minh

Biểu dương 90 cấp ủy viên là Chủ tịch Công đoàn cơ sở tiêu biểu doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước

TĐKT - Tối 12/1, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam phối hợp Báo Nhân Dân tổ chức Chương trình giao lưu nghệ thuật “Giai cấp công nhân Việt Nam dưới cờ Đảng quang vinh” và biểu dương 90 cấp ủy viên là Chủ tịch Công đoàn cơ sở tiêu biểu doanh nghiệp (DN) ngoài khu vực Nhà nước. Đến dự có: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai; các Ủy viên Trung ương Đảng: Thuận Hữu, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Nguyễn Đình Khang, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam; Lê Thị Thủy, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.  Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai và Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Nguyễn Đình Khang trao Bằng khen của BCH Tổng LĐLĐ Việt Nam cho các chủ tịch công đoàn cơ sở tiêu biểu. (Ảnh TTXVN) 90 cấp ủy viên là Chủ tịch Công đoàn cơ sở (CĐCS) là những điển hình cho những đảng viên “một gánh hai vai”, đội ngũ trung kiên, lực lượng nòng cốt của Đảng, góp phần tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong 90 cấp ủy viên được biểu dương lần này, có 39 đồng chí là bí thư, 27 đồng chí là phó bí thư và 34 đồng chí là ủy viên thường vụ, đảng ủy viên, chi ủy viên. Những địa phương có nhiều cấp ủy viên là Chủ tịch CĐCS DN tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài được biểu dương gồm: TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Long An. Phát biểu ý kiến tại Lễ biểu dương, đồng chí Trương Thị Mai đánh giá cao Tổng LĐLĐ Việt Nam, Báo Nhân Dân đã tôn vinh, biểu dương các đồng chí cấp ủy viên là Chủ tịch Công đoàn cơ sở tiêu biểu. Hoạt động này không chỉ ghi nhận, động viên, khích lệ mà còn khẳng định vai trò của tổ chức đảng cơ sở qua những cán bộ công đoàn tiêu biểu là bí thư, phó bí thư, chi ủy viên. Hình ảnh và kết quả hoạt động của các đồng chí là sự thuyết phục đối với người lao động (NLĐ), doanh nghiệp (DN) và xã hội. Trưởng Ban Dân vận nhấn mạnh: Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thực hiện các cam kết quốc tế và tham gia theo lộ trình 8/8 công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) vừa mang đến cơ hội, vừa đặt ra những thách thức mới, những yêu cầu mới đối với tổ chức Công đoàn. Do đó, đồng chí Trương Thị Mai đề nghị: Công đoàn tiếp tục là chỗ dựa vững chắc, tin cậy, là sự lựa chọn đầu tiên của NLĐ. Đồng thời, Công đoàn phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới NLĐ; khuyến khích NLĐ trau dồi kỹ năng nghề nghiệp, lao động có trách nhiệm, góp phần phát triển DN, cũng chính là nâng cao cuộc sống của chính mình. Trên cơ sở đó, phát triển tổ chức, phát triển đoàn viên, tạo nguồn để bồi dưỡng và giới thiệu cho Đảng xem xét, kết nạp. Tổ chức công đoàn cần tiếp tục quan tâm, cổ vũ để có thêm nhiều cấp ủy viên - chủ tịch công đoàn cơ sở tiêu biểu, có sức lan tỏa mạnh mẽ và quan trọng hơn đó là tạo được sự tin yêu, ủng hộ của NLĐ trong DN, góp phần đưa phong trào công nhân, viên chức, NLĐ và hoạt động công đoàn có bước phát triển mới. Nhân dịp này, đồng chí Trương Thị Mai đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh; nhiều đoàn viên công đoàn ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát biểu tại Hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Nguyễn Đình Khang cho biết: Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các loại hình DN ngoài khu vực Nhà nước, nhất là DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cùng với đó, tổ chức công đoàn trong các loại hình DN này đã được thành lập và đi vào hoạt động, góp phần phát triển bền vững, củng cố khối đại đoàn kết. Công tác giới thiệu, phát triển đảng trong công nhân, viên chức, lao động được quan tâm. Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, các cấp công đoàn đã tập trung chăm lo công tác phát triển tổ chức Đảng, đảng viên, đoàn viên. Nhiệm kỳ Đại hội XI Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu cho Đảng 387.380 đoàn viên công đoàn ưu tú, trong đó có 276.192 đoàn viên công đoàn ưu tú được kết nạp Đảng. Năm 2019, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn cả nước đã giới thiệu 119.603 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng kết nạp. Thục Anh  

Những suất cơm đầy ắp yêu thương

TĐKT - Gần 8 năm hoạt động, nhóm nấu ăn Bếp cơm từ thiện Mỹ Long (đường Nguyễn Trãi, phường Mỹ Long, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang) đã là địa chỉ quen thuộc của nhiều sinh viên, học sinh và những người lao động có thu nhập thấp trên địa bàn thành phố. Đây chính là nơi gắn kết những tấm lòng thiện nguyện, mỗi người một việc làm nhỏ cùng nhau góp thành hoạt động mang ý nghĩa lớn trao đến những người có hoàn cảnh khó khăn.   Bếp cơm từ thiện Mỹ Long đã thật sự tiếp thêm sức mạnh giúp những người có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống Ông Hồ Mong Thọ, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo phường Mỹ Long cho biết: Thành thị là nơi tập trung nhiều tầng lớp, nhất là sinh viên và người lao động. Nhiều người có cuộc sống rất khó khăn. Để kiếm được một bữa cơm no bụng, với nhiều người không phải là điều dễ dàng. Xuất phát từ thực tế đó, cùng với sự ủng hộ của những mạnh thường quân, năm 2012, chúng tôi đã thành lập Bếp cơm từ thiện Mỹ Long phục vụ cơm trưa, nhằm chia sẻ một phần gánh nặng với những người có hoàn cảnh khó khăn. Bếp cơm từ thiện Mỹ Long thành lập 10 tổ nấu ăn, mỗi tổ từ 10-15 thành viên, luân phiên đảm nhiệm mọi công việc của bếp cơm. Ngoài ra, còn có hàng chục sinh viên tình nguyện chuyên phục vụ việc dọn dẹp, vệ sinh quán. Cứ từ 9 giờ đến 14 giờ các ngày từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần, bếp cơm luôn tất bật. Mỗi người có một điều kiện kinh tế khác nhau, nhưng ở họ có điểm chung đáng trân trọng là lòng yêu thương, sẵn sàng chia sẻ khó khăn với người nghèo. Với họ, đó là niềm vui mỗi ngày. Bà Võ Thị Nhị, Tổ trưởng Tổ nấu ăn chia sẻ: Tôi gắn bó với bếp cơm chỉ bởi một suy nghĩ giản đơn muốn đem lại niềm vui cho mọi người, giúp cho các em học sinh, sinh viên, người lao động có bữa cơm no đủ để đủ sức khỏe học tập và lao động tốt. 800 - 1200 suất cơm ăn tại chỗ và mang về mỗi ngày là tấm lòng thơm thảo, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách. Tuy chỉ là cơm chay nhưng đã phần nào giảm bớt nỗi lo cơm áo gạo tiền cho những ai có hoàn cảnh khó khăn. Cũng theo bà Nhị, trong mỗi suất ăn đều có đầy đủ các món gồm: Canh, món xào, món mặn được các thành viên bếp cơm chuẩn bị sẵn trong các khay cơm bằng inox có nắp đậy. Khi mọi người đến ăn chỉ cần nhận khay cơm và nước uống đã chuẩn bị sẵn rồi đến bàn ăn. Thức ăn đều đảm bảo vệ sinh thực phẩm. Tổ nấu ăn cũng thường xuyên thay đổi món ăn để mọi người đến ăn thấy ngon miệng hơn. Em Võ Đức Minh, sinh viên Đại học An Giang chia sẻ: Cơm từ thiện ở đây ngon, các bác phát cơm cũng rất vui vẻ, niềm nở. Nhờ những phần cơm miễn phí, em đỡ được một khoản chi phí sinh hoạt. “Không có bếp ăn từ thiện chắc tôi không còn sống đến giờ. Các anh chị ở đây không chỉ phát cơm từ thiện cho tôi mà còn thường xuyên hỏi thăm, động viên, giúp đỡ tôi khiến tôi rất cảm động”- Cụ bà Huỳnh Thị Sanh, 82 tuổi, không có người thân, chia sẻ. Để có thể nấu được những suất ăn như vậy, ngoài sự ủng hộ của chính quyền địa phương là sự đóng góp tích cực của mạnh thường quân. Người góp công, người góp của. Ngoài số tiền lúc đầu Ban điều hành bếp cơm vận động được, các đơn vị, cá nhân còn ủng hộ gạo, gia vị, nguyên liệu chế biến thức ăn, khay đựng cơm, lò nấu cơm bằng điện có công suất lớn, mỗi ngày nấu hơn 120 kg gạo cùng nhiều trang thiết bị nhà bếp hiện đại…  Ông Thọ cho biết: Ngoài việc chăm lo bữa ăn trưa, Bếp cơm từ thiện Mỹ Long còn tổ chức phát cơm lưu động đến những người nghèo, hoàn cảnh neo đơn ở khu vực chợ Long Xuyên, người nhà và bệnh nhân khó khăn ở bệnh viện thành phố, các em sinh viên ở ký túc xá Trường Đại học An Giang... Chúng tôi điều phối rau, củ, quả tiếp nhận được từ mọi người quanh chợ trong ngày và phân phát cho những bếp cơm từ thiện khác. Có thể thấy, tuy việc làm nhỏ nhưng nếu dốc hết lòng, đặt hết tâm và tình yêu thương vào đó thì sẽ mang ý nghĩa rất thiết thực. Những suất cơm ấm áp tình người của Bếp cơm từ thiện Mỹ Long đã thật sự tiếp thêm sức mạnh giúp những người có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Tùng Chi

Trang