Chuyên đề

Hội Khuyến học huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Nòng cốt liên kết đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập Huyện Đông Hưng có diện tích tự nhiên 19.930,2 ha, dân số trên 251.222 người ở 43 xã và 1 thị trấn. Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Thái Bình, có hệ thống giao thông thuận lợi, nối địa bàn huyện với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa trong vùng.        Ở địa phương có truyền thống văn hiến, con người Đông Hưng có tinh thần hiếu học, cầu tiến và ngày càng quan tâm, chăm lo học tập cho con cháu. Chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng nguồn lực, đẩy mạnh công tác khuyến học - khuyến tài, hướng tới xây dựng xã hội học tập. Nhất là sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 11 của Bộ Chính trị “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập”, Huyện ủy, UBND huyện đã có 21 văn bản chỉ đạo gồm: nghị quyết, thông tri, chỉ thị, kế hoạch, công văn, quyết định… chỉ đạo công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên toàn huyện. 100% các tổ chức Đảng ở cơ sở đã xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Chỉ thị 11 của Bộ Chính trị. Toàn huyện đã có 90 - 95% đảng viên được học tập, quán triệt Chỉ thị 11 của Bộ Chính trị. Nhiều đảng viên đã góp ý kiến, kiến nghị để việc triển khai chỉ thị đạt kết quả cao. 100% các địa phương thành lập Ban chỉ đạo xây dựng xã hội học tập và ra nghị quyết chuyên đề về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Nhiều đảng bộ đã đưa hoạt động khuyến học vào tiêu chí đánh giá chi bộ trong sạch vững mạnh hằng năm. Đã có 9.571 đảng viên trong huyện là hội viên khuyến học, chiếm tỷ lệ 69% tổng số đảng viên. Nhiều đảng bộ có số đảng viên là hội viên khuyến học đạt 100%. Đồng chí Bí thư Huyện ủy, đồng chí Chủ tịch UBND huyện trao Cờ cho Hội Khuyến học huyện tại Đại hội lần thứ IV (nhiệm kỳ 2015 - 2020) Hội Khuyến học huyện Đông Hưng được thành lập ngày 24/5/2001 theo Quyết định số 135 của UBND huyện Đông Hưng. Trong hơn 15 năm xây dựng, Hội Khuyến học đã phát triển sâu rộng khắp các địa bàn dân cư trong huyện. 100% các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện… có các tổ chức hội khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Số hội viên khuyến học toàn huyện là 68.775 người, chiếm tỷ lệ 27,5% dân số. Tổng số người tham gia công tác khuyến học từ huyện đến cơ sở là 6.256 người. Các phong trào xây dựng gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập và đơn vị học tập phát triển rộng rãi, được đông đảo gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư hưởng ứng và hoạt động có hiệu quả cao. Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở Đông Hưng luôn được ban chỉ đạo tỉnh chọn làm điểm để triển khai, rút kinh nghiệm. Năm 2014, triển khai Quyết định 89 về xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020 và Quyết định 281 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020, huyện Đông Hưng đã triển khai thí điểm ở 2 xã với 24 mô hình: gia đình, dòng họ, cộng đồng và đơn vị học tập. Sau một năm triển khai đã có 100% mô hình đạt chuẩn, được Trung ương Hội khuyến học đánh giá cao và được tặng Bằng khen. Năm 2016, triển khai đại trà trong toàn huyện; kết quả đã có 38.029 gia đình đăng ký đạt 57% số gia đình, 697 dòng họ đăng ký đạt 62% số dòng họ, 191 cộng đồng đăng ký đạt 80%, 190 đơn vị đăng ký đạt 100%. Kết quả đã có 36.082 gia đình đạt chuẩn gia đình học tập, đạt tỷ lệ 41% tổng số gia đình, 331 dòng họ đạt chuẩn dòng họ học tập, đạt tỷ lệ 38% tổng số dòng họ, 176 cộng đồng đạt chuẩn cộng đồng học tập, đạt tỷ lệ 76%, 121 đơn vị đạt chuẩn đơn vị học tập, đạt tỷ lệ 76%. Ông Nguyễn Thanh Cầm, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Thái Bình trao Cờ thi đua Trung ương Hội cho Hội Khuyến học huyện Đông Hưng “Đơn vị thi đua xuất sắc giai đoạn 2001 - 2016” Phong trào xây dựng quỹ khuyến học các cấp phát triển mạnh, có nhiều hình thức huy động quỹ, đặc biệt mô hình nuôi heo khuyến học trong học sinh ở các trường tiểu học, THCS, THPT đã trở thành phong trào rộng khắp trong các nhà trường. Hằng năm, toàn huyện đã huy động quỹ khuyến học đạt từ 15 tỷ đến 18 tỷ đồng, gồm quỹ khuyến học gia đình, dòng họ, cộng đồng, các cơ quan đơn vị doanh nghiệp. Tổ chức khen thưởng cho hàng chục nghìn học sinh học giỏi, cấp học bổng cho hàng nghìn học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Năm 2016, Quỹ khuyến học toàn huyện đạt bình quân 60.000 đ/người. Phong trào khuyến học huyện Đông Hưng luôn đạt đơn vị xuất sắc liên tục 15 năm qua, được nhận nhiều Bằng khen, Cờ thi đua của Trung ương Hội, của UBND tỉnh Thái Bình, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 2012, Hội Khuyến học Đông Hưng được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2016, được Trung ương Hội Khuyến học tặng Cờ thi đua “Đơn vị xuất sắc giai đoạn 2001- 2016”. Hội Khuyến học huyện Đông Hưng vinh dự và tự hào được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.   Ông Nguyễn Thanh Cầm, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Thái Bình trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Hội Khuyến học huyện Đông Hưng Có được thành tích xuất sắc trên, ngoài sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự hưởng ứng của nhân dân, sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể trong toàn huyện thì sự đóng góp tích cực và đầy hiệu quả của đội ngũ cán bộ khuyến học từ huyện đến cơ sở giữ vai trò quan trọng. Là người đứng đầu Hội Khuyến học huyện Đông Hưng, NGƯT Vũ Xuân Đáng,  nguyên cán bộ quản lý ngành giáo dục nghỉ hưu là một cán bộ tâm huyết, nhiệt tình, đầy trách nhiệm, luôn tích cực, chủ động và có nhiều sáng tạo trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo phong trào đúng, trúng và hiệu quả cao. Ngoài ra, ông luôn đi sâu, đi sát cơ sở vận động, phối kết hợp các lực lượng xã hội từ huyện đến xã, liên kết đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Bản thân ông nhiều năm liên tục được công nhận là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, cấp huyện; được nhận nhiều Bằng khen của Trung ương Hội, của UBND tỉnh Thái Bình. Năm 2013, ông vinh dự được Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen đạt thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào “Trí thức Thái Bình chung sức xây dựng nông thôn mới”. NGƯT Vũ Xuân Đáng, Chủ tịch Hội Khuyến học huyện đọc báo cáo tại Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Khuyến học Viêt Nam (1996 - 2016), 15 năm thành lập Hội Khuyến học Huyện Đông Hưng (2001 - 2016) Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập của Hội Khuyến học huyện Đông Hưng 15 năm qua rất đáng tự hào, đã có ý nghĩa tích cực làm thay đổi nhận thức trong nhân dân về việc chăm lo cho con cái học hành, nâng cao chất lượng giáo dục ở địa phương, đóng góp một phần trong thành tích xuất sắc của ngành giáo dục huyện, 11 năm liên tục dẫn đầu phong trào khối huyện, thành phố của tỉnh Thái Bình. Đồng thời góp phần tích cực vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Thành công trong xây dựng nông thôn mới: nhìn từ xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

Lấy người dân làm trung tâm Thọ Thành là một trong 33 đơn vị hành chính của huyện Yên Thành được tách ra từ xã Đức Vịnh. Đến nay, xã có diện tích tự nhiên là 897,79 ha; dân số 9.600 khẩu.  Đồng hành cùng huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và đất nước, năm 2011, Thọ Thành bước vào công cuộc xây dựng nông thôn mới (NTM). Năm 2012, việc dồn điền đổi thửa là một cuộc cách mạng thực sự diễn ra ở Thọ Thành. Bằng cách lấy đơn vị xóm làm đơn vị chuyển đổi, các xóm đã đi sâu sát nhân dân, có cách làm sáng tạo, phù hợp với lòng dân, đã chuyển đổi ruộng đất thắng lợi, từ 7.056 thửa sau chuyển đổi còn 2.135 thửa, giảm 4.921 thửa, bình quân 1,3 thửa/hộ (so với năm 2002: 3,72 thửa/hộ, giảm 2,42 thửa/hộ). Đặc biệt là chỉnh trang lại đồng ruộng, quy hoạch hệ thống giao thông đồng ruộng thuận lợi, hệ thống kênh mương tưới tiêu khoa học, chu chuyển cho đơn vị trung tâm 19,6 ha từ các xóm về cho phù hợp với dân cư,  đưa đất công ích về tập trung vào một vùng để quy hoạch trang trại, gia trại phát triển kinh tế cho tương lai. Sau thành công của “dồn điền, đổi thửa”, năm 2013, Đảng ủy, UBND xã đã khởi động giải tỏa giao thông, bước đầu triển khai ở xóm Đông Trung, Tam Đa. Sau đó phong trào đã phát triển mạnh ở các xóm Bái Trạch, Nam Nhân, Bắc Nhân, Đồn Dừa... và nhân rộng ra toàn xã.  Trong 2 năm 2014 - 2015, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM đã chủ động rà soát lại từng tiêu chí trong bộ 19 tiêu chí NTM để chỉ đạo quyết liệt các khâu, các chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt: xây dựng các đơn vị văn hóa, xây dựng cơ sở vật chất trường học, hệ thống giao thông, tiêu chí môi trường, y tế... Đặc biệt cuối năm 2015, đầu năm 2016, Thọ Thành có cách làm giao thông, thủy lợi kích cầu trong giai đoạn cuối về NTM là xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp lòng dân:  đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho cơ sở trường học, trạm y tế và đầu tư cho giải phóng mặt bằng,  mặt đường bê tông thôn xóm, nên đã thu hút đầu tư đóng góp của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng, đề cao vai trò của cán bộ là hạt nhân tiêu biểu trong khu dân cư, khơi dậy phong trào lan rộng trên toàn xã.  Đồng thời, thu hút ngoại lực từ các dự án đầu tư thuộc chương trình phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân: dự án đường làng nghề kẻ Cuồi, đường làng nghề Lạc Thổ, đường vào khu di tích Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, tôn tạo khu khu di tích Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, đường liên xã Đô - Thọ - Diễn Liên - Mã Thành, đường liên xã Thọ - Hồng, đã làm cho diện mạo của xã Thọ Thành ngày càng khởi sắc và từ đó tư tưởng của nhân dân vô cùng phấn khởi. Có thể nói thắng lợi của Thọ Thành trong xây dựng nông thôn mới là làm tốt công tác tuyên truyền vận động, đề ra các chủ trương sát, đúng, phù hợp với lòng dân, làm tốt công tác tư tưởng với nhân dân, lấy người dân làm trung tâm của mọi phong trào, vì xây dựng NTM cuối cùng cũng là người dân làm, để người dân hưởng lợi các thành quả. Đơn cử, khẩu hiệu “Giải tỏa đường làng, xây dựng NTM là quà tặng cho thế hệ mai sau” đã động viên, cổ vũ, khuyến khích nhân dân toàn xã đồng tình, tích cực ủng hộ. Trong giai đoạn xây dựng NTM, Thọ Thành đã huy động được tổng kinh phí 364,3 tỷ đồng; trong đó nhân dân đóng góp hiến đất, bờ rào, công trình 217,20 tỷ đồng, chiếm gần 59,7%. Và một diện mạo nông thôn mới nhiều khởi sắc Xây dựng NTM đã mang đến cho Thọ Thành một diện mạo đầy khởi sắc. Sau 5 năm, xã đã xây dựng và làm được 17 km bê tông đường xã, 28,8 km đường bê tông xóm và ngõ xóm, đạt tỷ lệ 75%. Hệ thống kênh mương cấp 2 xã quản lý đến nay đã bê tông hóa 14,8 km, đạt 86,3 %. Hệ thống thủy lợi cơ bản bảo đảm tưới tự chảy cho diện tích đất 2 vụ lúa. Hệ thống điện đã cơ bản được nâng cấp, cả xã có 6 trạm biến thế, tổng công suất 1.810KVA, 27 km đường dây bọc đủ cung cấp điện cho sản xuất và phát triển của xã; 100% hộ được sử dụng điện, Hệ thống trường học được đầu tư sửa chữa nâng cấp nhà 2 tầng. Các nhà văn hóa xóm được xây dựng mới và đầu tư mua sắm thiết bị phục vụ cho sinh hoạt. Hệ thống sân vận động xã, xóm được quy hoạch và xây dựng đủ điều kiện vui chơi và tổ chức thi đấu thể dục, thể thao... Trạm xá xã được nâng cấp, sửa chữa phục vụ tốt sức khỏe cho nhân dân và xã đã được UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn y tế giai đoạn 2. Ngành nghề, dịch vụ ở Thọ Thành tương đối phát triển. Chợ Thọ Thành là chợ trung tâm khu vực phía bắc huyện Yên Thành. Hiện nay, Thọ Thành đã có 2 làng nghề và 1 làng có nghề; có 1 HTX Thắng Lợi chuyên tổ chức sản xuất, bao tiêu, thu mua hàng tre đan xuất khẩu cho lao động địa phương và vùng phụ cận. HTX Nông nghiệp dịch vụ tổng hợp mới được thành lập lại, hoạt động theo Luật HTX năm 2012, hoạt động trên nhiều lĩnh vực bước đầu có hiệu quả. Tính đến hết năm 2016, tổng giá trị sản xuất xã hội của Thọ Thành đạt 243,986 tỷ đồng, bình quân thu nhập đầu người trên 32 triệu đồng/năm. Toàn xã có 100% nhà ngói, trong đó có 30% nhà cao tầng kiên cố, 100% hộ sử dụng ti vi, 98% hộ dùng hệ thống nước sạch hợp vệ sinh; phương tiện ô tô tải, ô tô con có trên 50 cái; phương tiện phục vụ sản xuất phát triển nhanh như các xưởng cưa, hàn xì cơ khí, sửa chữa, máy làm đất, gặt đập liên hoàn đưa vào sản xuất. Đặc biệt, HTX Nông nghiệp Thọ Thành bước đầu tổ chức bắc mạ khay đưa máy cấy vào sản xuất chuẩn bị cho việc phân công lại lao động nông nghiệp trong địa bàn. Hệ thống điện, đường, trường, trạm khang trang, 80% các tổ liên gia xây dựng hệ thống đèn chiếu sáng công cộng tạo nên một miền quê giàu đẹp, văn minh. Bộ mặt quê hương ngày càng khởi sắc, không chỉ kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, mà đời sống tinh thần văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được quan tâm phát triển mạnh mẽ. 2/3 trường học đạt chuẩn, xã đạt chuẩn quốc gia về y tế mức độ 2, có 9/12 làng được công nhận đơn vị văn hóa. Tất cả các xóm đều có nhà văn hóa đẹp đẽ, thiết bị khang trang, có sân chơi thể thao, đủ điều kiện sinh hoạt, vui chơi tập thể cho nhân dân trong xóm. Bên cạnh đó, Đảng ủy, chính quyền, MTTQ xã Thọ Thành luôn chú trọng công tác an sinh xã hội. Các hộ nghèo, các gia đình chính sách, neo đơn luôn được quan tâm và thăm hỏi kịp thời nhân các ngày lễ, tết. Việc vận động xóa đói, giảm nghèo được tổ chức thường xuyên: số tiền cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội đã được giải ngân cho vay gần 17 tỷ đồng. Số hộ nghèo năm 2012 chiếm 7,5%, đến năm 2015 còn 4,63%, đầu năm 2016 giảm còn 4,1%; cuối năm 2016, đầu năm 2017 số hộ nghèo còn 89 hộ, chiếm 3,6% . Bằng sự chung sức đồng lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, cuối năm 2016, Thọ Thành đã đạt đầy đủ các tiêu chí xây dựng NTM và đầu năm 2017, xã đã vinh dự được UBND tỉnh Nghệ An trao Bằng công nhận đạt chuẩn NTM; được tặng thưởng một công trình trị giá 500.000.000 đồng; 4 tập thể và 4 cá nhân có thành tích xuất sắc được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh. Những phần thưởng cao quý đó là động lực quan trọng để xã Thọ Thành tiếp tục phát huy nội lực, phát triển các tiêu chí xây dựng NTM một cách bền vững, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Tổng Công ty Điện lực miền Bắc đảm bảo cung cấp điện trong ngày nắng nóng

Trong những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6/2017, miền Bắc đang diễn ra đợt nắng nóng trên diện rộng, nhiệt độ tăng cao, khiến phụ tải tăng bất thường tại nhiều khu vực, dẫn đến nguy cơ quá tải đường dây, trạm biến áp trung, hạ thế, nhảy aptomat gây mất điện.   Để đảm bảo cung ứng điện an toàn, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân các tỉnh, thành phía Bắc, đồng thời đảm bảo thực hiện đúng công tác dịch vụ khách hàng, không để xảy ra bức xúc trong dư luận, Tổng công ty điện lực miền Bắc đã ban hành Công điện số 101/CĐ-EVN NPC-KT+KD chỉ đạo 27 Công ty Điện lực thành viên, Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc, Trung tâm chăm sóc khách hàng tăng cường triển khai mọi nhiệm vụ để đảm bảo cung cấp điện trong các ngày nắng nóng. Nội dung công điện nêu rõ: Khi nhiệt độ ngoài trời ≥36°C, dừng thực hiện các công việc thao tác, công tác trên lưới điện gây mất điện cho khách hàng. Bố trí tăng cường lực lượng ứng trực khi nhiệt độ ngoài trời ≥36°C để kịp thời xử lý nếu có sự cố xảy ra, giảm thiểu thấp nhất thời gian mất điện của khách hàng. Tăng cường công tác quản lý vận hành, kiểm tra và thực hiện kịp thời các biện pháp san tải, cân, đảo pha, hoán đổi máy biến áp, hoàn thành đóng điện các công trình chống quá tải để tăng cường khả năng cấp điện.     Những vấn đề được các cơ quan truyền thông phản ánh, yêu cầu lãnh đạo cao nhất của các đơn vị phải chủ động tiếp xúc, giải trình kịp thời. Đối với các kiến nghị, phản ánh của khách hàng về chỉ số, hóa đơn phải tổ chức giải quyết ngay trong vòng 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Các đơn vị chú trọng các hoạt động tuyên truyền tiết kiệm điện đến từng hộ gia đình, cơ quan, doanh nghiệp, trường học... và chỉ đạo các Điện lực chủ động làm việc với các cơ quan quản lý trên địa bàn, các khách hàng lớn, đề nghị khách hàng hạn chế sử dụng đồng thời các thiết bị điện vào giờ cao điểm. Thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ thông tin về kế hoạch ngừng cấp điện có kế hoạch, mất điện do sự cố vào chương trình OMS. Đối với các trường hợp thay đổi thông tin khách hàng, san tải, cấy thêm trạm phải cập nhật ngay thông tin vào chương trình CMIS, OMS để Trung tâm chăm sóc khách hàng có thông tin chính xác phản hồi yêu cầu của khách hàng. Tăng cường công tác phúc tra ghi chỉ số công tơ, không điều chỉnh lịch ghi chỉ số công tơ của khách hàng sinh hoạt trong các tháng nắng nóng. Đối với các trường hợp phải điều chỉnh lịch, phiên ghi chỉ số do thực hiện san tải, cấy thêm trạm mới... các đơn vị bố trí lịch ghi hợp lý để khách hàng ít bị ảnh hưởng nhất bởi giá bán điện lũy tiến và phải thông báo cho khách hàng biết trước khi thực hiện. Trung tâm chăm sóc khách hàng tính toán, bố trí hợp lý, đầy đủ giao dịch viên tham gia tiếp nhận, phối hợp xử lý, phản hồi thông tin cho khách hàng. Chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan đảm bảo vận hệ thống công nghệ thông tin, tổng đài và các phần mềm chăm sóc khách hàng hoạt động tin cậy, ổn định, liên tục. Tăng cường việc giám sát, đôn đốc các đơn vị khẩn trương tổ chức xử lý yêu cầu của khách hàng đảm bảo đúng quy định, đặc biệt là phản ánh kiến nghị liên quan đến sự cố điện. Đối với các trường hợp mất điện, các đơn vị phải nhanh chóng phối hợp, xử lý để khôi phục cấp điện lại cho khách hàng trong thời gian sớm nhất, đồng thời thực hiện thông báo đúng theo quy định. Sự chỉ đạo kịp thời của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc đã đảm bảo nguồn điện sinh hoạt ổn định cho nhân dân trong đợt nắng nóng cao điểm vừa qua. Theo dự báo, trong mùa hè năm 2017 tình hình nắng nóng gay gắt trên diện rộng còn diễn biến phức tạp, việc chủ động kế hoạch cung ứng điện trong các đơn vị thành viên của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc sẽ được triển khai chặt chẽ, kịp thời và hiệu quả hơn.

Tập Đoàn Hoa Sen xuất khẩu lô hàng 12.000 tấn tôn thành phẩm đến châu Âu

Ngày 30/5/2017, Tập đoàn Hoa Sen xuất khẩu lô hàng 12.000 tấn tôn thành phẩm đến châu Âu qua cảng PTSC, Thanh Hóa. Lô hàng có́ trị giá khoảng 9 triệu USD, là lô hàng tôn thành phẩm lớn nhất từ trước đến nay của Tập đoàn Hoa Sen xuất khẩu đến châu Âu. Sự kiện xuất khẩu lô hàng lớn đến thị trường Châu Âu tiếp tục thể hiện nỗ lực không ngừng của Tập đoàn Hoa Sen trong việc khẳng định tầm vóc của một doanh nghiệp năng động, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu đến các khu vực tiềm năng. Trước đó, tháng 3/2016, Tập đoàn Hoa Sen đã xuất khẩu lô hàng 20.000 tấn tôn thành phẩm đến thị trường Hoa Kỳ, đánh dấu một bước đột phá trong hoạt động xuất khẩu của Tập đoàn nói riêng và cả ngành tôn, thép Việt nói chung. Lô hàng 12.000 tấn tôn thành phẩm của Tập đoàn Hoa Sen được xuất khẩu sang châu Âu Bên cạnh việc dẫn đầu thị trường nội địa trong lĩnh vực tôn thép, bắt đầu từ năm 2008, hoạt động xuất khẩu của Tập đoàn Hoa Sen đã không ngừng phát triển và vươn tới những vùng đất mới trên khắp thế giới. Trong những năm qua, sản lượng xuất khẩu chiếm khoảng 40% tổng sản lượng của Tập đoàn Hoa Sen, là một trong hai kênh bán hàng chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Tập đoàn. Với định hướng không ngừng vươn ra biển lớn, Tập đoàn Hoa Sen đã luôn nỗ lực tìm kiếm các thị trường mới. Thị trường châu Âu là một trong những thị trường lớn của Tập đoàn. Lô hàng 12.000 tấn tôn thành phẩm của Tập đoàn Hoa Sen lần này sẽ cập bến tại 3 nước: Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha. Tập đoàn Hoa Sen bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu từ năm 2012 và đã có những bước phát triển mạnh mẽ ở thị trường này. Hiện tại, sản phẩm của Tập đoàn Hoa Sen đã có mặt tại rất nhiều nước châu Âu: Ba Lan, Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ, Croatia, Nga… Đây là những thị trường rất khó tính, đòi hỏi những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng cũng như thời gian giao hàng. Với định hướng lấy chất lượng là yếu tố tiên quyết để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, Tập đoàn Hoa Sen luôn chú trọng đầu tư công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm tôn đạt tiêu chuẩn quốc tế như EN 10346, chứng chỉ ROHS và REACH của Châu Âu…Việc xuất khẩu lô hàng 12.000 tấn tôn thành phẩm tới thị trường châu Âu đã khẳng định chất lượng và dịch vụ của Tập đoàn Hoa Sen, không những làm hài lòng khách hàng trong nước mà còn đáp ứng những nhu cầu khắt khe nhất của thị trường quốc tế. Trong thời gian tới, Tập đoàn Hoa Sen dự kiến xuất khẩu đến thị trường châu Âu từ 10.000 – 15.000 tấn/tháng. Tập đoàn Hoa Sen là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên xuất khẩu lô hàng tôn thành phẩm với khối lượng lớn nhất tới thị trường châu Âu. Đây là kết quả của sự nỗ lực không ngừng của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu tôn, thép, luôn chủ động nâng cao nội lực, tìm kiếm thị trường mới, đón đầu hội nhập. Trần Lê – Hương Lan

Thông tư Số: 22/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính

Ngày 16/2/2016,  Bộ Tài chính đã có Thông tư Số: 22/2016/TT-BTC  quy định Quy tắc, điều khoản, biều phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Thông tư bao gồm các nội dung cụ thể sau:   Căn cứ Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Căn cứ Nghị định số 214/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16  tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm; Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.   Chương  I QUY ĐỊNH CHUNG   Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1.   Chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2.   Doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của pháp luật. 3.   Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 3. Giải thích từ ngữ 1.    “Doanh nghiệp bảo hiểm” là doanh nghiệp được thành lập và  hoạt động kinh doanh bảo hiểm hợp pháp tại Việt Nam và được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2.   “Chủ xe cơ giới” (tổ chức, cá nhân) là chủ sở hữu xe cơ giới hoặc được chủ sở hữu xe cơ giới giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp, điều khiển xe cơ giới. 3.  “Xe cơ giới” bao gồm xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo), xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) có tham gia giao thông. 4.   “Hành khách” là người được chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách thuộc các hình thức quy định trong Bộ luật Dân sự. 5.   “Bên thứ ba” là người bị thiệt hại về thân thể, tính mạng, tài sản do xe cơ giới gây ra, trừ những người sau: a)   Lái xe, phụ xe trên chính chiếc xe đó. b)  Người trên xe và hành khách trên chính chiếc xe đó. c)   Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao cho tổ chức, cá nhân khác chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó. 6.  “Ngày” (thời hạn) quy định trong Thông tư này là ngày làm việc. Điều 4. Nguyên tắc tham gia bảo hiểm 1.   Chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2.   Chủ xe cơ giới không được đồng thời tham gia hai hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự trở lên cho cùng một xe cơ giới. 3.  Ngoài việc tham gia hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe cơ giới có thể thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia hợp đồng bảo hiểm tự nguyện. 4.   Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới các hình thức sau: a)   Trực tiếp. b)   Thông qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. c)   Các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thông qua đại lý bảo hiểm thì đại lý bảo hiểm phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định khác của pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp bảo hiểm không được sử dụng đại lý bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm khác trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm đó chấp thuận bằng văn bản và doanh nghiệp bảo hiểm phải đào tạo và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm theo đúng quy định. Điều 5. Phạm vi bồi thường thiệt hại 1.   Thiệt hại ngoài hợp đồng về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra. 2.   Thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra.   Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ   Điều 6. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới 1.   Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận bảo hiểm) là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự duy nhất giữa chủ xe cơ giới và doanh nghiệp bảo hiểm. Mỗi xe cơ giới được cấp 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm. Chủ xe cơ giới bị mất Giấy chứng nhận bảo hiểm phải có văn bản đề nghị doanh nghiệp bảo hiểm (nơi đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm) cấp lại Giấy chứng nhận bảo hiểm. 2.   Doanh nghiệp bảo hiểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho chủ xe cơ giới khi chủ xe cơ giới đã thanh toán phí bảo hiểm hoặc cam kết thanh toán phí bảo hiểm theo quy định tại Khoản 3 Điều này. 3.    Việc thanh toán phí bảo hiểm hoặc cam kết thanh toán phí bảo hiểm được thực hiện như sau: a)    Trường hợp phí bảo hiểm dưới 50 triệu đồng: Chủ xe cơ giới thanh toán 01 lần tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. b)    Trường hợp phí bảo hiểm từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng: Chủ xe cơ giới thỏa thuận bằng văn bản với doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán 01 lần, thời hạn thanh toán không quá 10 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. c)    Trường hợp phí bảo hiểm từ 100 triệu đồng trở lên: Chủ xe cơ giới thỏa thuận bằng văn bản với doanh nghiệp bảo hiểm việc thanh toán phí bảo hiểm như sau: -   Lần 1: Thanh toán 50% tổng phí bảo hiểm trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm; -    Lần 2: Thanh toán 50% phí bảo hiểm còn lại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm.   d)    Việc thanh toán phí bảo hiểm phải được xác nhận bằng một trong các hình thức sau: Biên lai thu phí bảo hiểm; hóa đơn thu phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm; xác nhận thanh toán phí bảo hiểm của chủ xe cơ giới trên Giấy chứng nhận bảo hiểm (đối với trường hợp chủ xe cơ giới đã thanh toán phí bảo hiểm đầy đủ); các hình thức chứng từ hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. 4.   Trường hợp chủ xe cơ giới không thanh toán đủ phí bảo hiểm quy định tại Khoản 3 Điều này, hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực  vào ngày kế tiếp  ngày chủ xe cơ giới phải thanh toán phí bảo hiểm. Trong thời hạn 05 ngày làm  việc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm  phải thông báo bằng văn bản cho chủ xe cơ giới về việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm và hoàn lại cho chủ xe cơ giới phần phí bảo hiểm đã thanh toán thừa (nếu có) hoặc yêu cầu chủ xe cơ giới thanh toán đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm không phải hoàn phí bảo hiểm trong trường hợp đã xảy ra sự kiện bảo hiểm và phát sinh trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trước khi hợp đồng bảo hiểm bị chấm dứt. Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm trong thời gian hợp đồng bảo hiểm bị chấm dứt. Hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực kể từ thời điểm chủ xe thanh toán đủ phí bảo hiểm và được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận bằng văn bản. 5.  Phát hành, quản lý và sử dụng Giấy chứng nhận bảo hiểm: a)    Doanh nghiệp bảo hiểm được phép tự in Giấy chứng nhận bảo hiểm theo đúng mẫu do Bộ Tài chính quy định tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới phải in riêng, tách biệt với phần Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện (nếu có). Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm ghép Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới thì thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 3, Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này; b)   Giấy chứng nhận bảo hiểm phải được in số theo dãy số tự nhiên, thứ tự từ nhỏ đến lớn; c)     Giấy chứng nhận bảo hiểm phải được sử dụng theo đúng thứ tự  Giấy  chứng nhận bảo hiểm của từng quyển, không được dùng cách số (trừ trường hợp viết sai cần hủy bỏ hoặc việc bỏ cách số là phù hợp với các quy định cụ thể theo quy trình quản lý ấn chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm   bị hủy bỏ phải được gạch chéo, ghi rõ là hủy bỏ và phải lưu trữ đầy đủ tại doanh nghiệp bảo hiểm);   d)    Doanh nghiệp bảo hiểm phải ghi đầy đủ các thông tin quy định trên Giấy chứng nhận bảo hiểm. Các thông tin ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm cấp cho chủ xe cơ giới phải trùng khớp với các thông tin trong các liên lưu tại doanh  nghiệp bảo hiểm; đ) Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện mở sổ sách theo dõi việc phát hành, sử dụng và quyết toán việc sử dụng Giấy chứng nhận bảo hiểm, đảm bảo thường xuyên quản lý được chi tiết theo từng Giấy chứng nhận bảo hiểm; e)    Doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng quy trình phát hành, quản lý và sử dụng Giấy chứng nhận bảo hiểm bảo đảm các quy định nêu trên. Điều 7. Thời hạn và hiệu lực bảo hiểm 1.   Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của Giấy chứng nhận bảo hiểm được ghi cụ thể trên Giấy chứng nhận bảo hiểm nhưng không được trước thời điểm chủ xe cơ giới thanh toán đủ phí bảo hiểm, trừ một số trường hợp quy định tại điểm b, điểm c Khoản 3 Điều 6 Thông tư này. 2.   Thời hạn bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm là 01 năm. Trong các trường hợp sau, thời hạn bảo hiểm có thể dưới 01 năm: a)    Xe cơ giới nước ngoài tạm nhập, tái xuất có thời hạn tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới 01 năm; b)   Niên hạn sử dụng của xe cơ giới nhỏ hơn 01 năm; c)    Xe cơ giới thuộc đối tượng đăng ký tạm thời theo quy định của pháp luật, bao gồm: -   Ô tô mới nhập khẩu và sản xuất lắp ráp lưu hành từ kho, cảng, nhà máy, đại lý bán xe đến nơi đăng ký hoặc về các đại lý, kho lưu trữ khác; -   Ô tô làm thủ tục xóa sổ để tái xuất về nước; -   Ô tô được phép quá cảnh (trừ xe có Hiệp định ký kết của Nhà nước); -   Ô tô sát xi có buồng lái, ô tô tải không thùng; -   Ô tô sát hạch; -    Xe mang biển số khu kinh tế thương mại theo quy định của Chính phủ vào hoạt động trong nội địa Việt Nam; -   Xe mới lắp ráp tại Việt Nam chạy thử nghiệm trên đường giao thông công cộng; -   Xe phục vụ hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ hoặc Bộ Công an; -   Các loại xe cơ giới khác được phép tạm đăng ký theo quy định của pháp luật. d)    Trường hợp chủ xe cơ giới có nhiều xe tham gia bảo hiểm vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm nhưng đến năm tiếp theo có  nhu  cầu đưa về cùng một thời điểm bảo hiểm để quản lý, thời hạn bảo hiểm của các xe này có thể nhỏ hơn 01 năm và bằng thời gian hiệu lực còn lại của hợp đồng bảo hiểm đầu tiên của năm đó. Thời hạn bảo hiểm của năm tiếp theo đối với tất cả các hợp đồng bảo  hiểm (đã được đưa về cùng thời hạn) là 01 năm. 3.   Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe cơ giới thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cũ vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới. Điều 8. Phí bảo hiểm 1.   Phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải thanh toán cho doanh nghiệp bảo hiểm khi mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ  giới. Mức phí bảo hiểm của từng loại xe cơ giới được quy định tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này. 2.   Đối với các xe cơ giới được phép mua bảo hiểm có thời hạn dưới 01 năm theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 của Thông tư này, mức phí bảo hiểm sẽ được  tính dựa trên mức phí bảo hiểm quy định tại Phụ lục 5 ban hành theo Thông tư này và tương ứng với thời hạn được bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm. Cách tính cụ thể như sau: Phí bảo hiểm năm theo loại xe cơ giới = Phí bảo hiểmphải nộp / 365  x Thời hạn được bảo hiểm (ngày) Trường hợp thời hạn được bảo hiểm từ 30 ngày trở xuống thì phí bảo hiểm phải nộp được tính bằng phí bảo hiểm năm theo loại xe cơ giới/(chia) cho 12 tháng. Điều 9. Mức trách nhiệm bảo hiểm Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể như sau: 1.   Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra  là 100 triệu đồng/1 người/1 vụ tai nạn. 2.   Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 50 triệu đồng/1 vụ tai nạn. 3.   Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác  sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 100 triệu đồng/1 vụ tai nạn. Điều 10. Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm 1.  Hợp đồng bảo hiểm chỉ được hủy bỏ trong những trường hợp sau: a)   Xe cơ giới bị thu hồi đăng ký và biển số theo quy định của pháp luật; b)   Xe cơ giới hết niên hạn sử dụng theo quy định của pháp luật; c)   Xe cơ giới bị mất được cơ quan công an xác nhận; d)   Xe cơ giới hỏng không sử dụng được hoặc bị phá hủy do tai nạn giao  thông được cơ quan công an xác nhận. 2.   Chủ xe cơ giới muốn hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm và các bằng chứng về việc xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo  quy định tại Khoản 1 Điều này. Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt từ thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm nhận được thông báo hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm. 3.    Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, doanh nghiệp   bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe cơ giới 70% phần phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ. Doanh nghiệp bảo hiểm không phải hoàn phí bảo hiểm trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, nhưng chủ xe cơ giới yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đã xảy ra sự kiện bảo hiểm và phát sinh trách nhiệm bồi thường  bảo hiểm. 4.   Trường hợp chủ xe cơ giới không có thông báo về việc hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, nhưng doanh nghiệp bảo hiểm có những bằng chứng cụ thể về việc xe cơ  giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Khoản 1 Điều này, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo cho chủ xe cơ giới để thực hiện các thủ tục hủy bỏ hợp đồng. Sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo  mà chủ xe cơ giới không thực hiện các thủ tục hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên được hủy bỏ. Điều 11. Giám định thiệt hại 1.    Khi xảy ra tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền phải phối hợp chặt chẽ với chủ xe cơ giới, bên thứ ba hoặc người đại diện hợp pháp của các bên liên quan thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Kết quả giám định phải lập thành văn bản có chữ ký của các bên liên quan. Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm về chi phí giám định. 2.    Trường hợp chủ xe cơ giới không thống nhất về nguyên nhân và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm xác định, hai bên có thể thỏa thuận chọn cơ quan giám định độc lập thực hiện việc giám định. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được việc trưng cầu giám định độc lập thì một trong các bên được yêu cầu Tòa án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi cư trú của chủ xe cơ giới chỉ định giám định độc lập. Kết luận bằng văn bản của giám định độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên. 3.   Trường hợp kết luận của giám định độc lập khác với kết luận giám định của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả chi phí giám định độc lập. Trường hợp kết luận của giám định độc lập trùng với kết luận giám định của doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải trả chi phí giám định độc lập. 4.    Trong trường hợp đặc biệt không thể thực hiện được việc giám định, thì doanh nghiệp bảo hiểm được căn cứ vào các biên bản, kết luận của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và các tài liệu liên quan để xác định nguyên nhân và  mức độ thiệt hại. Điều 12. Loại trừ bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau: 1.  Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe hoặc của người bị thiệt hại. 2.   Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới. 3.   Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe. Trường hợp lái xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc không thời hạn thì được coi là không có Giấy phép lái xe. 4.   Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại. 5.  Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn. 6.  Chiến tranh, khủng bố, động đất. 7.   Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy  tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt. Điều 13. Nguyên tắc bồi thường 1.   Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại. 2.   Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả tai nạn. 3.  Mức bồi thường bảo hiểm: a)   Mức bồi thường cụ thể cho từng loại thương tật, thiệt hại về người được xác định theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này hoặc theo thỏa thuận (nếu có) giữa chủ xe cơ giới và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp có quyết định của tòa án thì căn cứ vào quyết định của tòa án nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp nhiều xe cơ giới gây tai nạn dẫn đến các thiệt hại về người, mức bồi thường được xác định theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm. Đối với vụ tai nạn được cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân do lỗi hoàn toàn của bên thứ ba thì mức bồi thường bảo hiểm về người đối với các đối tượng thuộc bên thứ ba bằng 50% mức bồi thường quy định Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. b)    Mức bồi thường cụ thể đối với thiệt hại về tài sản/1 vụ tai nạn được xác  định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm. 4.    Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông  tư này. 5.   Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước. Điều 14. Hồ sơ bồi thường Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với chủ xe cơ giới, người bị thiệt hại, cơ quan công an và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác để thu thập  các tài liệu có liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lập Hồ sơ bồi thường. Hồ sơ bồi thường bao gồm các tài liệu sau: 1.   Tài liệu liên quan đến xe, lái xe (Bản sao có xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm sau khi đã đối chiếu với bản chính): a)   Giấy đăng ký xe; b)   Giấy phép lái xe; c)    Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc các giấy tờ tùy thân khác của lái xe; d)   Giấy chứng nhận bảo hiểm. 2.   Tài liệu chứng minh thiệt hại về người (Bản sao của các cơ sở y tế hoặc bản sao có xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm), tùy theo mức độ thiệt hại về người  có thể bao gồm một hoặc một số các tài liệu sau: a)   Giấy chứng thương; b)   Giấy ra viện; c)   Giấy chứng nhận phẫu thuật; d)   Hồ sơ bệnh án; đ) Giấy chứng tử (trong trường hợp nạn nhân tử vong). 3.  Tài liệu chứng minh thiệt hại về tài sản: a)   Hóa đơn, chứng từ hợp lệ về việc sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra do chủ xe thực hiện tại các cơ sở do doanh nghiệp bảo hiểm chỉ định hoặc được sự đồng ý của doanh nghiệp bảo hiểm; b)   Các giấy tờ chứng minh chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ xe đã chi ra để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm. 4.  Bản sao các tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn (trừ trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều này): a)   Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn; b)  Sơ đồ hiện trường, bản ảnh (nếu có); c)   Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn; d)  Thông báo sơ bộ kết quả điều tra ban đầu vụ tai nạn giao thông; đ) Các tài liệu khác có liên quan đến vụ tai nạn (nếu có). 5.    Trường hợp cơ quan có thẩm quyền không có các tài liệu quy định tại Khoản 4 Điều này và thiệt hại xảy ra ước tính dưới 10 triệu đồng, hồ sơ bồi thường phải có các tài liệu quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều này và các tài liệu sau: a)   Biên bản xác minh vụ tai nạn giữa doanh nghiệp bảo hiểm và chủ xe cơ giới có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nơi xảy ra tai nạn. Biên bản xác minh vụ tai nạn phải có các nội dung sau: -   Thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn; -   Thông tin do chủ xe cơ giới hoặc lái xe gây tai nạn, nạn nhân hoặc đại diện của nạn nhân, các nhân chứng tại địa điểm xảy ra tai nạn (nếu có) cung cấp. Các đối tượng cung cấp thông tin phải ghi rõ họ tên, số chứng minh thư, địa chỉ; -   Mô tả hiện trường vụ tai nạn và thiệt hại của phương tiện bị tai nạn (kèm theo bản vẽ, bản ảnh). b)   Biên bản giám định xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền lập; c)   Các tài liệu có liên quan đến vụ tai nạn (nếu có). Điều 15. Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường 1.   Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới là 01 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khả kháng theo quy định của pháp luật. 2.   Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ trường hợp bất khả kháng), chủ xe cơ giới phải gửi thông báo bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này và các tài liệu quy định trong hồ sơ yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới cho doanh nghiệp bảo hiểm. 3.   Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm là 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới và không  quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ. 4.   Trường hợp từ chối bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho chủ xe cơ giới biết lý do từ chối bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm. 5.   Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm là 03 năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Quá thời hạn trên quyền khởi kiện không còn giá trị. Điều 16. Quyền của chủ xe cơ giới 1.   Được lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2.   Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích, cung cấp các thông tin liên  quan đến việc giao kết, thực hiện và hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm. 3.   Trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm mức phí bảo hiểm phù hợp cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. 4.   Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời theo hợp đồng bảo hiểm. 5.   Chủ xe cơ giới là đơn vị sản xuất kinh doanh, phí bảo hiểm được tính vào chi phí hoạt động kinh doanh; chủ xe cơ giới là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, phí bảo hiểm được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị. 6.   Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Điều 17. Nghĩa vụ của chủ xe cơ giới 1.   Phải tham gia và thanh toán đầy đủ phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan. Khi mua bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải cung cấp đầy đủ và trung thực những nội dung đã được quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm. 2.    Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp bảo hiểm xem xét tình trạng xe trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. 3.   Trường hợp có sự thay đổi về mục đích sử dụng xe dẫn đến tăng hoặc giảm các rủi ro được bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải kịp thời thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm để áp dụng mức phí bảo hiểm phù hợp cho thời gian còn lại của hợp  đồng bảo hiểm. 4.   Chủ xe cơ giới phải luôn mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực khi tham gia giao thông, xuất trình giấy tờ này khi có yêu cầu của lực lượng cảnh sát giao thông và cơ quan chức năng có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật. 5.  Tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ. 6.  Khi tai nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm: a)   Thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm để phối hợp giải quyết, tích cực cứu chữa, hạn chế thiệt hại về người và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn đồng thời thông báo cho cơ quan công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất; b)   Không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm; trừ trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về người và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; c)   Cung cấp các tài liệu trong Hồ sơ bồi thường quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 và điểm c Khoản 5 Điều 14 (trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện sửa chữa, khắc phục thiệt hại thì chủ xe cơ giới không phải cung cấp tài liệu quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 14 Thông tư này) và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình xác minh các tài liệu đó. Phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm thu thập tài liệu theo quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 14 Thông tư này. 7.    Chủ xe cơ giới phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này. 8.   Thông báo và trả tiền bồi thường cho người bị tai nạn số tiền họ được doanh nghiệp bảo hiểm trả đối với từng trường hợp thiệt hại về người theo đúng mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. 9.  Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Điều 18. Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm 1.   Thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm, có quyền yêu cầu chủ xe cơ giới nộp thêm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. 2.   Yêu cầu chủ xe cơ giới cung cấp đầy đủ và trung thực những nội dung đã được quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm; xem xét tình trạng xe cơ giới trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. 3.   Đề nghị lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sát điều tra cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến vụ tai nạn theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP. 4.   Từ chối giải quyết bồi thường đối với những trường hợp không thuộc trách nhiệm bảo hiểm. 5.   Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới phù hợp với thực tế triển khai loại hình bảo hiểm này. 6.   Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Điều 19. Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm 1.    Phải bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo  đúng Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Thông tư này. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhận được thông báo của chủ xe cơ giới về sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số tiền chênh lệch cho chủ xe cơ giới. 2.   Phải tổ chức tuyên truyền rộng rãi về chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm và giải thích rõ Quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cho chủ xe cơ giới. 3.   Phải sử dụng mẫu Giấy chứng nhận bảo hiểm theo quy định tại Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3 (nếu có), Phụ lục 4 (nếu có) ban hành kèm theo Thông tư này để cấp cho chủ xe cơ giới. 4.   Không được chi hỗ trợ đại lý bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới mọi hình thức ngoài mức hoa hồng bảo hiểm đại lý được hưởng theo quy định của Bộ Tài chính. 5.    Không được khuyến mại dưới mọi hình thức đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 6.   Thanh toán cho lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sát điều tra chi phí sao chụp những hồ sơ, biên bản tai nạn đã được cung cấp và có trách nhiệm giữ gìn bí mật trong quá trình điều tra. 7.    Thu thập các tài liệu trong Hồ sơ bồi thường quy định tại điểm a Khoản 3 (trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện sửa chữa, khắc phục thiệt hại), Khoản 4, điểm b và điểm c Khoản 5 Điều 14 Thông tư này. Phối hợp với chủ xe cơ giới thu thập tài liệu quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 14 Thông tư này. 8.   Thông báo cho người bị tai nạn, chủ xe cơ giới biết số tiền bồi thường thiệt hại về người và thanh toán số tiền bồi thường theo đúng mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. 9.    Chi trả bồi thường nhanh chóng và chính xác theo quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 10.    Trong vòng 15 ngày trước khi hết thời hạn bảo hiểm phải thông báo cho chủ xe cơ giới về việc hết thời hạn của hợp đồng bảo hiểm. 11.   Trích 1% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới hàng năm thanh toán góp vào Quỹ bảo hiểm xe cơ giới. 12.   Phải hạch toán tách biệt doanh thu phí bảo hiểm, hoa hồng, bồi thường và các khoản chi phí khác liên quan đến bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 13.   Xây dựng và vận hành hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo việc thống  kê và cập nhật tình hình triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đảm bảo kết nối vào cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Hệ thống cơ sở dữ liệu tối thiểu phải cung cấp được các thông tin sau: a)   Thông tin chủ xe cơ giới: -   Tên chủ xe; -   Số Giấy chứng minh nhân dân của chủ xe hoặc số hộ chiếu (đối với chủ xe là cá nhân); -   Địa chỉ liên lạc. b)   Thông tin về xe cơ giới: -   Biển số đăng ký; -   Nhãn hiệu; -  Loại xe; -  Dung tích; -   Màu sơn; -   Năm sản xuất; -   Số máy; -   Số khung; -  Trọng tải (trường hợp xe ô tô); -   Số chỗ ngồi (trường hợp xe ô tô); -  Mục đích sử dụng xe: kinh doanh hoặc không kinh doanh (trường hợp xe ô tô); -   Số giấy chứng nhận bảo hiểm; -  Thời điểm có hiệu lực bảo hiểm; -  Thời điểm hết hiệu lực bảo hiểm; -   Phí bảo hiểm; -   Ngày nộp phí; -   Ngày cấp đơn; -   Nơi cấp đơn; -   Người cấp đơn. c)   Thông tin ghi nhận về số lần gây tai nạn, số lần bị xử lý vi phạm Luật Giao thông đường bộ của lái xe cơ giới: -   Số lần gây tai nạn (chi tiết thời gian, địa điểm, mức độ vi phạm theo xác định lỗi của cơ quan công an); -    Số lần đã nhận tiền bồi thường, số tiền bồi thường theo từng vụ tai nạn (chi tiết theo từng vụ tai nạn); -   Số lần bị xử lý vi phạm Luật giao thông đường bộ của lái xe (nếu có). 14.     Báo cáo Bộ Tài chính về tình hình thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo định kỳ hoặc khi có yêu cầu, cụ thể: a)   Báo cáo định kỳ thực hiện theo quy định tại Phụ lục 8 và Phụ lục 9 ban hành kèm theo Thông tư này; b)   Báo cáo về tình hình triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới khi có yêu cầu của Bộ Tài chính. 15.   Chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 16.   Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Điều 20. Giải quyết tranh chấp Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, nếu không giải quyết được bằng thương lượng giữa các bên liên quan sẽ được đưa ra Tòa án tại Việt  Nam  giải quyết.   Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 21. Hiệu lực thi hành 1.   Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2016. 2.   Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã được cấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực vẫn được tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. 3.    Thông tư này thay thế Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Điều 1 Thông tư số 151/2012/TT-BTC ngày 12/9/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 và Thông tư số 103/2009/TT-BTC ngày 25/5/2009; Điều 1 Thông tư số 43/2014/TT-BTC ngày 11/4/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008, Thông tư số 103/2009/TT-BTC ngày 25/5/2009 và Thông tư số 151/2012/TT-BTC ngày 12/9/2012 của Bộ Tài chính. 4.   Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để xem xét, giải quyết./. KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG   Trần Xuân Hà

Quy định việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ giới

Ngày 25/5/2009, Bộ Tài chính đã quy định Thông tư số: 103/2009/TT-BTC về quy định việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ giới, nội dung cụ thể:   Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Căn cứ Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 09 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ giới như sau: Chương I   QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi áp dụng Thông tư này quy định việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ giới (gọi tắt là Quỹ) theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 09 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (gọi tắt là Nghị định 103/2008/NĐ-CP). Điều 2. Nguyên tắc quản lý Quỹ 1. Quỹ được quản lý tập trung tại Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, có tài khoản riêng tại ngân hàng thương mại và được sử dụng con dấu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam. 2. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và đúng mục đích theo quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. 3. Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) giám sát việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ. Chương II   QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 3. Nguồn hình thành Quỹ 1. Đóng góp của doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Thu từ lãi tiền gửi. 3. Số dư Quỹ năm trước được chuyển sang năm sau sử dụng. 4. Các khoản thu hợp pháp khác (nếu có). Điều 4. Mức đóng góp Quỹ 1. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới hàng năm để đóng vào Quỹ. Việc đóng góp vào Quỹ được thực hiện từ năm tài chính 2009. 2. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm báo cáo đầy đủ doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cho Bộ Tài chính, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam trước ngày 31 tháng 3 hàng năm. 3. Mức đóng góp cụ thể hàng năm do Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) thông báo. Điều 5. Thời hạn đóng góp Quỹ 1. Kỳ I: trước ngày 15 tháng 4 hàng năm, 50% số dự kiến đóng góp trong năm và số còn phải đóng của năm trước (nếu có). 2. Kỳ II: trước ngày 30 tháng 9 hàng năm, số dự kiến đóng góp còn lại trong năm. Điều 6. Nội dung chi, mức chi của Quỹ 1. Chi đề phòng hạn chế tổn thất, tai nạn giao thông đường bộ: Mức chi không vượt quá 35% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm. 2. Chi tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông đường bộ và chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: Mức chi không vượt quá 10% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm. 3. Chi hỗ trợ nhân đạo: Mức chi không vượt quá 15% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm, cụ thể: Hỗ trợ chi phí mai táng đối với thiệt hại về tính mạng của người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe do xe cơ giới gây ra trong trường hợp không xác định được xe gây tai nạn, xe không tham gia bảo hiểm, loại trừ bảo hiểm quy định tại Điều 13 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP. Mức hỗ trợ chi phí mai táng là 5 triệu đồng/1 người/vụ. 4. Chi hỗ trợ khen thưởng thành tích cho lực lượng công an trong công tác kiểm soát phát hiện và xử lý vi phạm hành chính các chủ xe cơ giới trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: Mức chi không vượt quá 20% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm. 5. Chi xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: Mức chi không thấp hơn 10% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm. Nội dung này sẽ có đề án riêng, Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) phối hợp với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và các cơ quan có liên quan xây dựng tổ chức thực hiện đề án này. 6. Chi cho hoạt động của Cơ quan Quốc gia Việt Nam thực hiện Chương trình bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới ASEAN (gọi tắt là Cơ quan Quốc gia bảo hiểm xe cơ giới) như chi lương, phụ cấp, chi phí quản lý (mua sắm, sửa chữa tài sản, chi phí dịch vụ,…) và các khoản chi khác. Mức chi không vượt quá 5% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm. 7. Chi quản lý Quỹ và chi khác: Mức chi không vượt quá 3% tổng số tiền đóng vào Quỹ hàng năm. Ban điều hành Quỹ phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ xây dựng kế hoạch, lập dự toán kinh phí cho các nội dung chi nêu trên và trình Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt trước khi thực hiện. Việc thực hiện phải đảm bảo tuân thủ đúng các quy định tại Thông tư này và quy định pháp luật khác có liên quan. Trường hợp cần thay đổi mức chi cho phù hợp với thực tế, Hội đồng quản lý Quỹ đề xuất Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) có ý kiến bằng văn bản trước khi thực hiện Điều 7. Tổ chức, quản lý và điều hành Quỹ 1. Bộ máy quản lý, điều hành Quỹ bao gồm: a) Hội đồng quản lý Quỹ; b) Ban điều hành Quỹ; c) Ban kiểm soát Quỹ. 2. Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Hội đồng quản lý Quỹ, Ban điều hành Quỹ và Ban kiểm soát Quỹ theo quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 10 Thông tư này. Điều 8. Hội đồng quản lý Quỹ 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản lý Quỹ: a) Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc quản lý, điều hành Quỹ; b) Ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng quản lý Quỹ, Ban điều hành Quỹ, Ban kiểm soát Quỹ sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính; c) Ban hành các quy định cụ thể về quản lý và sử dụng Quỹ; phê duyệt dự toán và quyết toán của Quỹ; quyết định thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc quản lý và sử dụng Quỹ; d) Ra Quyết định thành lập Ban điều hành Quỹ và Ban kiểm soát Quỹ; đ) Báo cáo Bộ Tài chính dự toán, quyết toán Quỹ đã được phê duyệt. 2. Hội đồng quản lý Quỹ bao gồm: a) Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ: Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam; b) Thành viên: - Đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm- Bộ Tài chính; - Đại diện Cục Cảnh sát giao thông đường bộ- đường sắt - Bộ Công an; - Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam; - Đại diện lãnh đạo của ít nhất 3 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới có thị phần lớn nhất về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Hội đồng quản lý Quỹ. Điều 9. Ban điều hành Quỹ 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban điều hành Quỹ: a) Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Hội đồng quản lý Quỹ trong việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ; b) Chấp hành các quy định về quản lý và sử dụng Quỹ đúng kế hoạch được Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt, theo đúng quy định tại Thông tư này, không được sử dụng Quỹ vào các hoạt động khác ngoài tôn chỉ, mục đích của quỹ. 2. Ban điều hành Quỹ bao gồm: a) Trưởng Ban điều hành Quỹ: Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam; b) Thành viên: Đại diện của ít nhất 3 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới có thị phần lớn nhất về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Điều 10. Ban kiểm soát Quỹ 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm soát Quỹ: a) Giám sát hoạt động của Quỹ đảm bảo tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và quy định tại Thông tư này; b) Tổng hợp đánh giá, kiến nghị với Hội đồng quản lý Quỹ về tình hình tài chính của Quỹ hàng quý, 6 tháng, năm; c) Thực hiện kiểm tra đối với việc quản lý và sử dụng Quỹ theo yêu cầu của Hội đồng quản lý Quỹ. 2. Ban kiểm soát Quỹ bao gồm: a) Ít nhất 3 thành viên là đại diện của 3 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; b) Trưởng Ban kiểm soát Quỹ do Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bổ nhiệm trong số các thành viên của Ban kiểm soát. Điều 11. Lập dự toán, kế toán, quyết toán Quỹ 1. Lập dự toán thu, chi của Quỹ: a) Trước ngày 15 tháng 12 hàng năm, Ban điều hành Quỹ lập dự toán thu, chi của Quỹ bao gồm các nội dung sau: - Tình hình thu, chi của Quỹ năm hiện tại; - Kế hoạch thu, chi của Quỹ năm kế tiếp; b) Ban điều hành Quỹ báo cáo dự toán thu, chi của Quỹ để Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt. Dự toán thu, chi của Quỹ phải được gửi cho Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) và các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ngay sau khi phê duyệt. 2. Kế toán Quỹ: Ban điều hành Quỹ phải tổ chức công tác kế toán, thống kê theo đúng quy định của Luật kế toán, Luật thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành. a) Chấp hành các quy định về chứng từ kế toán; hạch toán kế toán toàn bộ các khoản thu, chi của Quỹ; b) Mở sổ kế toán ghi chép, hệ thống và lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến Quỹ; c) Định kỳ hàng quý, 6 tháng có trách nhiệm lập báo cáo thu, chi của Quỹ để báo cáo Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt và gửi Bộ Tài chính. Báo cáo quý, 6 tháng: chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý, 6 tháng. 3. Quyết toán Quỹ: a) Hàng năm, Ban điều hành Quỹ có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chi Quỹ để báo cáo Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt; Báo cáo năm phải lập trước ngày 10 tháng 2 của năm kế tiếp. b) Báo cáo quyết toán năm của Quỹ phải có xác nhận của kiểm toán độc lập; c) Báo cáo quyết toán năm của Quỹ phải được gửi Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm), các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trước ngày 31 tháng 3 của năm kế tiếp. Điều 12. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Cử đại diện tham gia Hội đồng quản lý Quỹ, Ban điều hành Quỹ, Ban kiểm soát Quỹ và phối hợp với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam thực hiện việc quản lý, sử dụng Quỹ bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và đúng mục đích theo quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. 2. Báo cáo đầy đủ doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cho Bộ Tài chính, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và thực hiện đóng góp vào Quỹ theo đúng quy định tại Thông tư này. 3. Lập và gửi Bộ Tài chính các báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ theo quý, năm quy định tại Phụ lục 7 và Phụ lục 8 ban hành kèm theo Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính. a) Báo cáo quý: Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc quý (Bao gồm cả bản cứng và bản mềm); b) Báo cáo năm: Chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm (Bao gồm cả bản cứng và bản mềm). Điều 13. Trách nhiệm của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm 1. Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam trong việc quản lý, sử dụng, thanh toán, quyết toán Quỹ. 2. Thông báo mức đóng góp Quỹ hàng năm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Chương III   ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 14. Điều khoản thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký. 2. Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới quy định tại Thông tư này thay thế Quỹ tuyên truyền và đảm bảo an toàn giao thông đường bộ được quy định tại Điều 2 Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC ngày 9/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính (Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm) để nghiên cứu giải quyết./.    Nơi nhận: - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Quốc hội; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Chính phủ; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Toà án nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; - Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp); - Các đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính; - Công báo; - Website Chính phủ; - Website Bộ Tài chính; - Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam; - Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ; - Lưu: VT, QLBH. KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG (đã ký)  

Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Ngày 16/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số: 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Nội dung cụ thể sau: CHÍNH PHỦ   Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005; Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 09 tháng 12 năm 2000; Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 29 tháng 6 năm 2001; Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, NGHỊ ĐỊNH: Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; quyền và nghĩa vụ của chủ xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của pháp luật. 3. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó. Điều 3. Giải thích từ ngữ 1. “Doanh nghiệp bảo hiểm” là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm hợp pháp tại Việt Nam và được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. “Chủ xe cơ giới” (tổ chức, cá nhân) là chủ sở hữu xe cơ giới hoặc được chủ sở hữu xe cơ giới giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp, điều khiển xe cơ giới. 3. “Xe cơ giới” bao gồm xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo), xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) có tham gia giao thông. 4. “Hành khách” là người được chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách thuộc các hình thức quy định trong Bộ luật Dân sự. 5. “Bên thứ ba” là người bị thiệt hại về thân thể, tính mạng, tài sản do xe cơ giới gây ra, trừ những người sau: a) Lái xe, phụ xe trên chính chiếc xe đó; b) Người trên xe và hành khách trên chính chiếc xe đó; c) Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao cho tổ chức, cá nhân khác chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó. 6. “Ngày” (thời hạn) quy định trong Nghị định này là ngày làm việc. Điều 4. Quỹ bảo hiểm xe cơ giới 1. Quỹ bảo hiểm xe cơ giới do các doanh nghiệp bảo hiểm đóng để sử dụng cho các mục đích sau: a) Công tác đề phòng hạn chế tổn thất, tai nạn giao thông đường bộ; b) Tổ chức tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông đường bộ và chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; c) Hỗ trợ nhân đạo cho những thiệt hại xảy ra đối với người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe do xe cơ giới gây ra trong những trường hợp không xác định được xe gây tai nạn hoặc xe không tham gia bảo hiểm; d) Hỗ trợ chi phí mai táng trong các trường hợp loại trừ bảo hiểm quy định tại Điều 13 Nghị định này; đ) Hỗ trợ khen thưởng thành tích cho lực lượng công an trong công tác kiểm soát phát hiện và xử lý vi phạm hành chính các chủ xe cơ giới trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; e) Hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; g) Hỗ trợ các mục đích khác để phối hợp, chỉ đạo thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới hàng năm để đóng vào Quỹ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 5. Cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới 1. Cơ sở dữ liệu được xây dựng nhằm thống kê, cập nhật và hệ thống hoá toàn bộ thông tin liên quan đến xe cơ giới và chủ xe cơ giới tham gia giao thông và tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và sự giám sát của nhân dân. 2. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.   Chương II   BẢO HIỂM BẮT BUỘC   TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI Điều 6. Nguyên tắc tham gia bảo hiểm 1. Chủ xe cơ giới phải tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Nghị định này và Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do Bộ Tài chính quy định. 2. Chủ xe cơ giới không được đồng thời tham gia hai hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự trở lên cho cùng một xe cơ giới. 3. Ngoài việc tham gia hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe cơ giới có thể thoả thuận với doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia hợp đồng bảo hiểm tự nguyện. 4.  Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới các hình thức sau: a) Trực tiếp; b) Thông qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; c) Thông qua đấu thầu; d) Các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thông qua đại lý bảo hiểm thì đại lý bảo hiểm phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định khác của pháp luật liên quan. Doanh nghiệp bảo hiểm không được sử dụng đại lý bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm khác trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm đó chấp thuận bằng văn bản. Điều 7. Phạm vi bồi thường thiệt hại 1. Thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra. 2. Thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra. Điều 8. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới 1. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (sau đây gọi là Giấy chứng nhận bảo hiểm) là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự giữa chủ xe cơ giới với doanh nghiệp bảo hiểm. 2. Khi mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, chủ xe cơ giới được doanh nghiệp bảo hiểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho chủ xe cơ giới khi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm. Những trường hợp đặc thù do Bộ Tài chính quy định. 3. Bộ Tài chính quy định cụ thể về mẫu Giấy chứng nhận bảo hiểm để áp dụng và quản lý thống nhất trong phạm vi cả nước. Điều 9. Phí bảo hiểm và mức trách nhiệm bảo hiểm 1. Phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm khi mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. 3. Bộ Tài chính quy định mức phí và mức trách nhiệm bảo hiểm. Điều 10. Thời hạn và hiệu lực bảo hiểm 1. Thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm là một năm, trong các trường hợp sau, thời hạn bảo hiểm có thể dưới 01 năm: a) Xe cơ giới nước ngoài tạm nhập tái xuất có thời hạn tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới 01 năm; b) Niên hạn sử dụng của xe cơ giới nhỏ hơn một năm theo quy định của pháp luật. 2. Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm. 3. Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe cơ giới thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cũ vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới. Điều 11. Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm 1. Hợp đồng bảo hiểm chỉ được hủy bỏ trong những trường hợp sau: a) Xe cơ giới bị thu hồi đăng ký và biển số theo quy định của pháp luật; b) Xe cơ giới hết niên hạn sử dụng theo quy định của pháp luật; c) Xe cơ giới bị mất được cơ quan công an xác nhận; d) Xe cơ giới hỏng không sử dụng được hoặc bị phá huỷ do tai nạn giao thông được cơ quan công an xác nhận; xe tạm nhập, tái xuất. 2. Chủ xe cơ giới muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm muốn huỷ bỏ và các bằng chứng về việc xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều này. Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt từ thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm nhận được thông báo huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm. 3. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe cơ giới 70% phần phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ. Doanh nghiệp bảo hiểm không phải hoàn phí bảo hiểm trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, nhưng chủ xe cơ giới yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đã xảy ra sự kiện bảo hiểm và phát sinh trách nhiệm bồi thường bảo hiểm. 4. Trường hợp chủ xe cơ giới không có thông báo về việc huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm, nhưng doanh nghiệp bảo hiểm có những bằng chứng cụ thể về việc xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều này, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo cho chủ xe cơ giới để thực hiện các thủ tục huỷ bỏ hợp đồng. Sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà chủ xe cơ giới không thực hiện các thủ tục huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên được huỷ bỏ. Điều 12. Giám định thiệt hại 1. Khi xảy ra tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền phải phối hợp chặt chẽ với chủ xe cơ giới, bên thứ ba hoặc người đại diện hợp pháp của các bên liên quan thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Kết quả giám định phải lập thành văn bản có chữ ký của các bên liên quan. Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm về chi phí giám định. 2. Trường hợp chủ xe cơ giới không thống nhất về nguyên nhân và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm xác định, hai bên thoả thuận chọn cơ quan giám định độc lập thực hiện việc giám định. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được việc trưng cầu giám định độc lập thì một trong các bên được yêu cầu Toà án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi cư trú của chủ xe cơ giới chỉ định giám định độc lập. Kết luận bằng văn bản của giám định độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên. 3. Trường hợp kết luận của giám định độc lập khác với kết luận giám định của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả chi phí giám định độc lập. Trường hợp kết luận của giám định độc lập trùng với kết luận giám định của doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải trả chi phí giám định độc lập. 4. Trong trường hợp đặc biệt không thể thực hiện được việc giám định, thì doanh nghiệp bảo hiểm được căn cứ vào các biên bản, kết luận của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và các tài liệu liên quan để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại. Điều 13. Loại trừ bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau: 1. Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe, hoặc của người bị thiệt hại. 2. Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới. 3. Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe. 4. Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại. 5. Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn. 6. Chiến tranh, khủng bố, động đất. 7. Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt. Điều 14. Nguyên tắc bồi thường 1. Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại. 2. Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả tai nạn. 3. Mức bồi thường bảo hiểm: a) Mức bồi thường bảo hiểm về người: được xác định dựa trên Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người theo quy định của Bộ Tài chính; b) Mức bồi thường thiệt hại về tài sản: được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới. 4. Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính. 5. Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm đầu tiên. Điều 15. Hồ sơ bồi thường 1. Hồ sơ bồi thường do doanh nghiệp bảo hiểm lập bao gồm các tài liệu sau: a) Tài liệu liên quan đến xe, lái xe; b) Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người và tài sản; c) Tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn. 2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới có trách nhiệm thu thập, cung cấp các tài liệu liên quan trong hồ sơ bồi thường. 3. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể hồ sơ bồi thường. Điều 16. Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường 1. Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới là 01 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khả kháng theo quy định của pháp luật. 2. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ trường hợp bất khả kháng), chủ xe cơ giới phải gửi thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo các tài liệu quy định trong hồ sơ yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới. 3. Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm là mười lăm ngày kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới và không quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ. 4. Trường hợp từ chối bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho chủ xe cơ giới biết lý do từ chối bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm. 5. Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm là 03 năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Quá thời hạn trên quyền khởi kiện không còn giá trị. Điều 17. Quyền của chủ xe cơ giới 1. Được lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích, cung cấp các thông tin liên quan đến việc giao kết, thực hiện và huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm. 3. Trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm mức phí bảo hiểm phù hợp cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. 4. Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời theo hợp đồng bảo hiểm. 5. Chủ xe cơ giới là đơn vị sản xuất kinh doanh, phí bảo hiểm được tính vào chi phí hoạt động kinh doanh; chủ xe cơ giới là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, phí bảo hiểm được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị. 6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Điều 18. Nghĩa vụ của chủ xe cơ giới 1. Phải tham gia và đóng đầy đủ phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Nghị định này. Khi mua bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải cung cấp đầy đủ và trung thực những nội dung đã được quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm. 2. Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp bảo hiểm xem xét tình trạng xe trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. 3. Trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải kịp thời thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm để áp dụng mức phí bảo hiểm phù hợp cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. 4. Chủ xe cơ giới phải luôn mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực khi tham gia giao thông, xuất trình giấy tờ này khi có yêu cầu của lực lượng cảnh sát giao thông và cơ quan chức năng có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật. 5. Tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ. 6. Khi tai nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm: a) Thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm để phối hợp giải quyết, tích cực cứu chữa, hạn chế thiệt hại về người và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn; đồng thời thông báo cho cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất; b) Không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm; trừ trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về người và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; c) Chủ xe cơ giới phải cung cấp các tài liệu trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình xác minh các tài liệu đó. 7. Chủ xe cơ giới phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm  trong trường hợp xe cơ giới thuộc đối tượng được hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này. 8. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Điều 19. Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm, có quyền yêu cầu chủ xe cơ giới nộp thêm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. 2. Yêu cầu chủ xe cơ giới cung cấp đầy đủ và trung thực những nội dung đã được quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm; xem xét tình trạng xe cơ giới trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. 3. Đề nghị cơ quan Công an cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến vụ tai nạn theo quy định tại khoản 3 Điều 22 Nghị định này. 4. Từ chối giải quyết bồi thường đối với những trường hợp không thuộc trách nhiệm bảo hiểm. 5. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới phù hợp với thực tế triển khai loại hình bảo hiểm này. 6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Điều 20. Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Phải bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo đúng Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhận được thông báo của chủ xe cơ giới về sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số tiền chênh lệch cho chủ xe cơ giới. 2. Cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm và giải thích rõ Quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cho chủ xe cơ giới. 3. Phải sử dụng mẫu Giấy chứng nhận bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính để cấp cho chủ xe cơ giới. 4. Không được chi hỗ trợ đại lý bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới mọi hình thức ngoài mức hoa hồng bảo hiểm đại lý được hưởng theo quy định của Bộ Tài chính. 5. Không được khuyến mại dưới mọi hình thức đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 6. Thanh toán cho cơ quan Công an chi phí sao chụp những hồ sơ, biên bản tai nạn đã được cung cấp và có trách nhiệm giữ gìn bí mật trong quá trình điều tra. 7. Chi trả bồi thường nhanh chóng và chính xác theo quy định của Nghị định này. 8. Trong vòng 15 ngày trước khi hết thời hạn bảo hiểm phải thông báo cho chủ xe cơ giới về việc hết thời hạn của hợp đồng bảo hiểm. 9. Trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới hàng năm đóng vào Quỹ bảo hiểm xe cơ giới. Mức đóng góp hàng năm theo quy định của Bộ Tài chính. 10. Phải hạch toán tách biệt doanh thu phí bảo hiểm, hoa hồng, bồi thường và các khoản chi phí khác liên quan đến bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 11. Xây dựng và vận hành hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo việc thống kê và cập nhật tình hình triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đảm bảo kết nối vào cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. 12. Báo cáo Bộ Tài chính về tình hình thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo định kỳ hoặc khi có yêu cầu. 13. Chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 14. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Chương III   TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BỘ, NGÀNH VÀ ỦY BAN   NHÂN DÂN TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG Điều 21. Trách nhiệm của Bộ Tài chính 1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Ban hành quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 3. Quy định việc phát hành, quản lý và sử dụng mẫu Giấy chứng nhận bảo hiểm. 4. Hướng dẫn hồ sơ yêu cầu bồi thường. 5. Quy định mức đóng góp hàng năm và ban hành cơ chế quản lý, sử dụng, thanh toán, quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ giới. 6. Trực tiếp hoặc chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 7. Chỉ đạo các lực lượng chức năng xử phạt vi phạm hành chính các doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm các quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan. 8. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 22. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông và lực lượng Cảnh sát khác liên quan giám sát và kiểm tra các chủ xe cơ giới trong việc: a) Yêu cầu chủ xe cơ giới xuất trình Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực khi làm thủ tục cấp đăng ký xe; b) Thông qua tuần tra kiểm soát phát hiện và xử lý vi phạm hành chính các chủ xe cơ giới tham gia giao thông không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực; yêu cầu chủ xe phải mua bảo hiểm. 3. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sát điều tra cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến các vụ tai nạn giao thông cho doanh nghiệp bảo hiểm để giải quyết bồi thường, bao gồm: a) Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn; b) Sơ đồ hiện trường, bản ảnh (nếu có); c) Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn; d) Thông báo sơ bộ kết quả điều tra ban đầu vụ tai nạn giao thông; đ) Các tài liệu khác có liên quan đến vụ tai nạn (nếu có). 4. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông và lực lượng Cảnh sát khác liên quan phối hợp với các đơn vị của Bộ Tài chính trong việc kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 5. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông và lực lượng Cảnh sát khác thực hiện việc chia sẻ và kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu về xe cơ giới do ngành mình quản lý vào cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 23. Trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải 1. Phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Chỉ đạo các cơ quan đăng kiểm khi kiểm định an toàn kỹ thuật xe cơ giới phải yêu cầu chủ xe cơ giới xuất trình Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực. Cơ quan đăng kiểm chỉ cấp tem và sổ kiểm định an toàn kỹ thuật cho xe cơ giới khi chủ xe có Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực. 3. Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 4. Thực hiện việc chia sẻ và kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu về xe cơ giới do ngành mình quản lý vào cơ sở dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 5. Phối hợp với các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất trong giao thông đường bộ theo đúng quy định của pháp luật. Điều 24. Trách nhiệm của Bộ Y tế Chỉ đạo các cơ sở y tế Trung ương và địa phương trong việc cung cấp các bản sao hồ sơ bệnh án, các tài liệu liên quan đến việc cấp cứu, chữa trị các nạn nhân bị tai nạn về giao thông đường bộ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ bồi thường, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Điều 25. Trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông 1. Chỉ đạo các cơ quan thông tin, báo chí Trung ương và địa phương thường xuyên tuyên truyền, phổ biến về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam dành thời lượng phát sóng nhất định để thường xuyên tuyên truyền, phổ biến về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 26. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác, cơ quan thuộc Chính phủ 1. Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Điều 27. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Chỉ đạo các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền tổ chức thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trên địa bàn. 2. Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí địa phương thường xuyên tuyên truyền, phổ biến về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 3. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông và lực lượng cảnh sát khác có liên quan trên địa bàn tổ chức kiểm tra, xử lý các chủ xe cơ giới không tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 4. Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền. Điều 28. Trách nhiệm của Cơ quan Quốc gia Việt Nam thực hiện Chương trình bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới ASEAN 1. Cơ quan Quốc gia Việt Nam thực hiện Chương trình bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới ASEAN (gọi tắt là Cơ quan Quốc gia bảo hiểm xe cơ giới) là cơ quan thường trực giúp các Bộ, ngành liên quan trong việc chỉ đạo giám sát việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của cơ quan Quốc gia bảo hiểm xe cơ giới. Chương IV XỬ LÝ VI PHẠM Mục 1 CÁC HÀNH VI VI PHẠM, HÌNH THỨC VÀ MỨC XỬ PHẠT Điều 29. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về tham gia bảo hiểm của người điều khiển xe cơ giới 1. Phạt tiền 100.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe mô tô ba bánh và các loại xe cơ giới tương tự không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực. 2. Phạt tiền 500.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe cơ giới tương tự không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực. Điều 30. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về từ chối bán bảo hiểm 1. Phạt tiền 50.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền 10.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 2. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này; đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 31. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về mẫu Giấy chứng nhận bảo hiểm 1. Phạt tiền 50.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền 50.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) và người có liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng Giấy chứng nhận bảo hiểm cấp cho chủ xe cơ giới không đúng quy định của Bộ Tài chính. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thu hồi Giấy chứng nhận bảo hiểm đã cấp và thực hiện cấp lại Giấy chứng nhận bảo hiểm mới cho chủ xe cơ giới theo đúng quy định của Bộ Tài chính. 3. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này; đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 32. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về thời hạn bảo hiểm 1. Phạt tiền 30.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; Phạt tiền 30.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi không tuân thủ thời hạn bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định này. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thu hồi Giấy chứng nhận bảo hiểm đã cấp và thực hiện cấp lại Giấy chứng nhận bảo hiểm mới cho chủ xe cơ giới theo đúng thời hạn quy định và áp dụng mức phí phù hợp. 3. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này; đổng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 33. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về mức phí bảo hiểm 1. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi không tuân thủ mức phí bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải điều chỉnh mức phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chủ xe cơ giới theo đúng quy định. 3. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này; đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 34. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về mức trách nhiệm bảo hiểm 1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi không tuân thủ mức trách nhiệm bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải điều chỉnh lại mức trách nhiệm bảo hiểm theo đúng quy định. 3. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này; đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 35. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về trả hoa hồng bảo hiểm, chi hỗ trợ đại lý 1. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc), Kế toán trưởng và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi trả hoa hồng bảo hiểm không đúng mức do Bộ Tài chính quy định. 2. Phạt tiền 70.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền 70.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc), Kế toán trưởng và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Trả hoa hồng bảo hiểm không đúng đối tượng quy định; b) Chi hỗ trợ đại lý bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại khoản 4 Điều 20 Nghị định này. 3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thu hồi toàn bộ số tiền đã chi sai do hành vi vi phạm các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. 4. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này; đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 36. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về khuyến mại 1. Phạt tiền 50.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng giám đốc (Giám đốc), Kế toán trưởng và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 20 Nghị định này. 2. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này; đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 37. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm 1. Phạt tiền 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi tự ý huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới không thuộc các trường hợp hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải khôi phục lại hợp đồng bảo hiểm đã bị huỷ bỏ. Điều 38. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về giải quyết bồi thường bảo hiểm 1. Phạt tiền 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan thực hiện giải quyết bồi thường không đúng quy định. 2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan có hành vi yêu cầu người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm trả thù lao, hay các quyền lợi vật chất khác trái pháp luật trong quá trình giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm; b) Cá nhân, tổ chức có hành vi trục lợi để nhận tiền bồi thường, trả tiền bảo hiểm; c) Cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm đồng loã với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật vì mục đích vụ lợi; d) Doanh nghiệp bảo hiểm từ chối thực hiện nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm đã được giao kết. 3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải bồi thường đúng theo quy định. Cá nhân, tổ chức buộc phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu được do hành vi vi phạm các quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này. 4. Đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, c và d khoản 2 Điều này, ngoài việc bị phạt tiền doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Điều 39. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về hạch toán kế toán 1. Phạt tiền 30.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền 10.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc), Kế toán trưởng và người liên quan của doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm khoản 10 Điều 20 Nghị định này. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thực hiện đúng quy định tại khoản 10 Điều 20 Nghị định này. Điều 40. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về đóng góp Quỹ bảo hiểm xe cơ giới 1. Phạt tiền 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền 20.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện một trong các hành vi sau đây: a) Đóng Quỹ bảo hiểm xe cơ giới không đúng thời hạn quy định; b) Đóng Quỹ bảo hiểm xe cơ giới không đủ số tiền quy định. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thực hiện đóng đủ số tiền vào Quỹ bảo hiểm xe cơ giới theo quy định. Điều 41. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về chế độ báo cáo, thống kê 1. Phạt tiền 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm; phạt tiền 20.000.000 đồng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc), Kế toán trưởng của doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau: a) Báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ không đầy đủ nội dung, mẫu biểu hoặc không đúng thời hạn theo quy định; b) Không xây dựng và vận hành hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo thời hạn do Bộ Tài chính quy định. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thực hiện báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ đầy đủ nội dung, mẫu biểu theo quy định; thực hiện kế hoạch xây dựng và vận hành hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo thời hạn do Bộ Tài chính quy định. 3. Trường hợp tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm và các cá nhân bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới.   Mục 2 THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH Điều 42. Thẩm quyền xử phạt 1. Thanh tra tài chính và thanh tra chuyên ngành liên quan thuộc Bộ Tài chính xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và theo quy định tại Nghị định này. 2. Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với chủ xe cơ giới theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và theo quy định tại Nghị định này. Điều 43. Áp dụng quy định của pháp luật liên quan về xử lý vi phạm hành chính 1. Nguyên tắc xử phạt; thời hiệu xử phạt; trình tự, thủ tục xử phạt; việc thu, nộp tiền phạt được thực hiện theo các quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. 2. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đã bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này thì không bị xử phạt theo quy định tại các văn bản pháp luật về xử phạt khác. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 44. Hiệu lực thi hành Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Nghị định số 115/1997/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 1997 của Chính phủ về chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 45. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan hướng dẫn thi hành Nghị định này. 2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.     Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW; - Văn phòng TW và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - Ủy ban Giám sát tài chính QG; - BQL KKTCKQT Bờ Y; - Ngân hàng Chính sách Xã hội; - Ngân hàng Phát triển Việt Nam; - Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN,   các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, KTTH (5b).

Huyện Mê Linh (TP Hà Nội): quyết tâm phấn đấu trở thành huyện nông thôn mới

Sau 5 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) với cách làm sáng tạo, huyện Mê Linh hoàn thành sớm công tác quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển vùng sản xuất... Đến nay, diện mạo NTM của huyện đã có nhiều đổi thay, những tuyến đường giao thông đang kết nối hoàn chỉnh, vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn đang hình thành, đời sống người dân được nâng cao. Thực hiện chương trình 02 - CTr/TU của Thành ủy Hà Nội về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông thôn”, huyện đã chỉ đạo tập trung nguồn lực đầu tư cho 4 xã chưa đạt chuẩn NTM hoàn thiện các tiêu chí: đường giao thông, nhà văn hóa, kênh mương thủy lợi...; đồng thời duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí xã đạt chuẩn NTM theo hướng bền vững, phát triển. Được sự quan tâm của Ban chỉ đạo Chương trình 02-Ctr/TU của Thành ủy, UBND và các sở, ban, ngành thành phố, đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Phát triển nông thôn thành phố, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo huyện, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện được thực hiện quyết liệt và đã đạt được nhiều kết quả mới. Về phát triển nông nghiệp, các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi  đều có những chuyển biến tích cực. Tiến độ sản xuất vụ xuân đã đảm bảo hoàn thành theo đúng kế hoạch của thành phố. Công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được quan tâm chỉ đạo, giám sát chặt chẽ nên tình hình chăn nuôi của huyện vẫn duy trì và có bước phát triển, không bùng phát các loại dịch bệnh nguy hiểm.  Đặc biệt, việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi sau khi thực hiện dồn điền, đổi thửa đã mang lại nhiều hiệu quả rõ nét, người dân phấn khởi thực hiện. Nhiều hộ đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa có năng suất thấp sang trồng cây cảnh, bưởi, ổi, nuôi cá, trang trại chăn nuôi… bước đầu đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, giúp nông dân tăng thu nhập, phát triển kinh tế gia đình vững chắc. Các vùng sản xuất tập trung đã hình thành rõ nét như vùng chăn nuôi tập trung các xã Liên Mạc, Tự Lập, Tiến Thắng và đang tiếp tục được nhân rộng khẳng định được hiệu quả kinh tế và từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung. Huyện Mê Linh có 16 xã, UBND huyện đã phê duyệt quy hoạch 16/16 xã. Đến nay, tình hình thực hiện các tiêu chí NTM cụ thể đạt được như sau: hạ tầng nông thôn (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở dân cư) được quan tâm đầu tư tương đối đồng bộ, làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi, đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt, đi lại và sản xuất của nhân dân. Về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất: thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện đến cuối năm 2016 đạt 33,01 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo tính đến đầu năm 2017 là 2.160 hộ, chiếm tỷ lệ 4,2%; tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trên địa bàn đạt 92%; mô hình hợp tác xã (HTX) phát triển và hoạt động hiệu quả, toàn huyện hiện có 78 HTX, trong đó có 50 HTX dịch vụ nông nghiệp, 25 HTX hoạt động trong lĩnh vực khác, 3 quỹ tín dụng nhân dân. Các tiêu chí về văn hóa - xã hội, môi trường cũng được nâng lên rõ rệt. Hiện nay, số người trong độ tuổi từ 15 - 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS là 99,6%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT là 98%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 59%. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, toàn bộ trạm y tế xã đều đạt chuẩn quốc gia về y tế. Toàn huyện có 70/74 làng, thôn được công nhận Làng văn hóa (đạt 94,56%) và 40.391 hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa, đạt 86,5%. Qua kiểm tra đánh giá việc sử dụng nước sinh hoạt, cảnh quan môi trường, thu gom rác thải... 16/16 xã cơ bản đạt tiêu chí môi trường. Hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở được củng cố và nâng cao, 16/16 Đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt “hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên, không có đảng bộ, chính quyền yếu kém, góp phần đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định. Đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng NTM từ huyện đến cơ sở đã có một bước trưởng thành quan trọng; cán bộ, đảng viên, nhân dân ở nhiều nơi đã nhận thức đầy đủ hơn về mục tiêu, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, một vấn đề nổi cộm đặt ra trong quá trình xây dựng NTM ở Mê Linh, dẫn đến một số tiêu chí chậm hoàn thành là do điều kiện kinh tế và nhận thức của nhân dân trên địa bàn các xã không đồng đều dẫn đến việc huy động nguồn lực phục vụ cho nhu cầu đầu tư, xây dựng là rất khó. Một số cán bộ và quần chúng nhân dân vẫn có tư tưởng trông chờ vào ngân sách nhà nước, trong khi đó nhu cầu kinh phí đầu tư xây dựng nông thôn mới rất lớn, nguồn thu ngân sách của huyện ít, nguồn đấu giá đất hạn chế. Nhận rõ những tồn tại và hạn chế, mục tiêu của huyện Mê Linh trong năm 2017 là tiếp tục đầu tư cho các tiêu chí chưa đạt và cơ bản đạt, chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông trục chính và liên thôn, đường giao thông ngõ xóm, nhà văn hóa; tiếp tục duy trì và hoàn thành các tiêu chí cơ bản đạt tại các xã đã được UBND thành phố công nhận đạt chuẩn NTM; chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung công tác xây dựng NTM, trong đó ưu tiên nguồn lực đầu tư cho 4 xã chưa đạt chuẩn; phấn đấu đến cuối năm 2017 có thêm 3 xã đạt chuẩn NTM, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM toàn huyện là 15 xã, chiếm 93,75%. Để đạt được các mục tiêu này, bên cạnh việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương, tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thiện các tiêu chí chưa đạt được, Ban chỉ đạo Chương trình 02-CT tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động.

Trang