Chính trị - Xã hội
Ngày 15/10, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 1105/QĐ-BNV phê duyệt Kế hoạch phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số của Bộ Nội vụ giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
Mục tiêu cơ bản đến năm 2025
Đảm bảo 100% hoạt động chỉ đạo, điều hành của Bộ Nội vụ được thực hiện trên nền tảng dữ liệu lớn chuyên ngành nội vụ (Big Data), có quy mô Quốc gia, được quản trị thống nhất; ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa, tự động hóa hoạt động.
Xây dựng và đưa vào vận hành kho dữ liệu dùng chung, sử dụng công nghệ BigData, Data lake thiết lập nền tảng thống nhất để tích hợp, lưu trữ, khai thác, trao đổi và chia sẻ dữ liệu giữa các ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ.
Cổng thông tin điện tử Bộ Nội vụ (MOHA), Cổng thông tin tiếp nhận và trả lời phản ánh kiến nghị của Bộ được nâng cấp lên Công nghệ 4.0, hiện đại, thẩm mỹ, tự động hóa cao, lưu trữ dữ liệu lớn, đáp ứng yêu cầu là Cổng giao tiếp điện tử duy nhất của Bộ Nội vụ đối với cá nhân, tổ chức. Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp ngành Nội vụ và Trung tâm điều hành thông minh của Bộ Nội vụ (IOC).
Hoàn thành việc sản xuất, cấp phát, quản lý Thẻ công chức, viên chức điện tử trong các cơ quan hành chính nhà nước; Đưa vào vận hành các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Xây dựng và đưa vào vận hành CSDL Quốc gia về CBCCVC trong các cơ quan nhà nước.
Hoàn thành thí điểm và đưa vào triển khai trong thực tiễn cơ quan, tổ chức ảo; công chức, viên chức số; xây dựng cơ chế quản lý, vận hành của các đối tượng số trên không gian mạng của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy các đơn vị chuyên trách công nghệ thông tin (CNTT) của Bộ theo hướng tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc xây dựng, quản lý vận hành Bộ Nội vụ số; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin (CNTT) của Bộ đủ mạnh, để thực hiện tốt nhiệm vụ.
Nền tảng đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sát hạch, thi nâng ngạch... được xây dựng và đi vào hoạt động hiệu quả tại các cơ sở, đào tạo bồi dưỡng của Bộ; tối thiểu 70% nội dung, chương trình đào tạo, thi tuyển, thi nâng ngạch quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp hoặc tương đương được thực hiện trực tuyến.
100% văn bản trao đổi giữa Bộ Nội vụ và các cơ quan nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử và được ký số bởi chữ ký chuyên dùng trừ các văn bản có nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước.
90% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc có nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước). Tối thiểu 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trên hoàn toàn trực tuyến, người dân chỉ phải nhập dữ liệu một lần. 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 4;
100% hồ sơ công việc, hồ sơ thủ tục hành chính được số hóa và tạo lập trên môi trường điện tử, được lưu trữ và chia sẻ dữ liệu trên môi trường điện tử để tiện khai thác và sử dụng. 100% dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nội vụ được thiết kế, thiết kế lại nhằm tối ưu hóa trải nghiệm người dùng; 100% giao dịch trên cổng Dịch vụ công trực tuyến và một cửa điện tử Bộ Nội vụ, kết nối với Cổng dịch vụ công Quốc gia, được xác thực điện tử.
100% báo cáo định kỳ (không bao gồm nội dung mật) của Bộ Nội vụ được cập nhật, chia sẻ trên Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ và được kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo Quốc gia. 50% các hoạt động văn bản, tài liệu hành chính thông thường (trừ các văn bản có nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước) trong hoạt động thanh tra, kiểm tra của Bộ Nội vụ được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý.
100% cán bộ, công chức, viên chức được tập huấn, bồi dưỡng phổ cập kỹ năng số cơ bản; 50% công chức, viên chức được tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng phân tích, khai thác dữ liệu và công nghệ số.
Hoàn thành việc triển khai đánh giá cải cách hành chính và đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước qua Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin.
Các giải pháp đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cho hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin (HTTT), các nội dung thông tin số trên không gian mạng của ngành Nội vụ.
Định hướng đến năm 2030
Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được từ giai đoạn 2021 – 2025 để phát triển Chính phủ số của Bộ Nội vụ nhằm chuyển đổi cách thức tổ chức, vận hành, môi trường làm việc, công cụ làm việc để cán bộ, công chức, viên chức có thể hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình.
Chuyển đổi cách thức phục vụ người dân, doanh nghiệp mang lại nhiều lợi ích và sự hài lòng của người dân khi giao dịch với Bộ Nội vụ. Hình thành nền tảng dữ liệu và hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT), kết nối, chia sẻ giữa Bộ Nội vụ và các cơ quan nhà nước, giảm 20% thủ tục hành chính, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp.
Tổ chức khai thác, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) trong các cơ quan nhà nước; Kết nối, chia sẻ với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Tổ chức khai thác, quản lý, vận hành kho dữ liệu tổng hợp của Bộ Nội vụ, sử dụng các công nghệ BigData, AI để quản lý, phân tích, cung cấp thông tin hỗ trợ ra quyết định cho các cấp lãnh đạo.
Vận hành hệ thống, kết nối, chia sẻ dữ liệu, tổ chức triển khai đánh giá cải cách hành chính và đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước qua Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin.
Nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2021 - 2025
Để đạt được những mục tiêu trên, Bộ Nội vụ xác định những nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2021 – 2025, cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện môi trường pháp lý: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ điện tử; các đề án, dự án về lưu trữ tài liệu điện tử.
Thông tư quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức điện tử. Xây dựng, ban hành các văn bản liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật của thẻ công chức điện tử cũng như các quy định về việc quản lý, sử dụng thẻ công chức điện tử; các quy định về mã hiệu, số hiệu, Qr code cán bộ, công chức, viên chức...
Xây dựng và ban hành các quy chế, quy định về quản lý, vận hành các hệ thống công nghệ thông tin tại Bộ Nội vụ. Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chế độ báo cáo, thống kê ngành Nội vụ trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ. Ban hành các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật kết nối, chia sẻ tích hợp các cơ sở dữ liệu của ngành Nội vụ.
Thứ hai, phát triển hạ tầng số: Phát triển hạ tầng điện toán đám mây của Bộ Nội vụ, quy hoạch Trung tâm dữ liệu của Bộ, dự phòng lẫn nhau qua kênh truyền cáp quang dùng riêng, có đường truyền Internet băng rộng tốc độ cao và có kết nối trực tiếp với trạm trung chuyển Internet quốc gia (VNIX).
Tiếp tục tăng cường hạ tầng máy chủ, lưu trữ, bảo mật đáp ứng phát triển, vận hành các phần mềm chuyên ngành (Voffice, cổng thông tin điện tử một cửa, Dịch vụ công, các nền tảng tích hợp, chia sẻ,..) các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức.
Xây dựng trục tích hợp dữ liệu (LGSP) của Bộ Nội vụ, thực hiện kết nối liên thông, đồng bộ, chia sẻ các dịch vụ dùng chung, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo Kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ Nội vụ phiên bản 2.0.
Hoàn thiện hạ tầng kết nối mạng tại các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ, đảm bảo hệ thống mạng nội bộ ổn định, tốc độ cao và an toàn, bảo mật đáp ứng phát triển Chính phủ số.
Thứ ba, phát triển nền tảng hệ thống: Xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của Bộ Nội vụ, thực hiện kết nối liên thông, đồng bộ, chia sẻ các dịch vụ dùng chung, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo Kiến trúc chính phủ điện tử Bộ Nội vụ phiên bản 2.0. Xây dựng hệ thống Trung tâm giám sát, điều hành an toàn, an ninh mạng (SOC) cho các hệ thống thông tin của bộ và kết nối với hệ thống hỗ trợ giám sát, điều hành an toàn mạng phục vụ Chính phủ số của quốc gia, hệ thống an ninh mạng phục vụ Chính phủ số của quốc gia. Phát triển các hệ thống nền tảng cho phát triển Chính phủ số, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của Bộ Nội vụ.
Thứ tư, phát triển dữ liệu: Phát triển các cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ Chính phủ số của Bộ Nội vụ như: xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp ngành Nội vụ và Trung tâm điều hành thông minh của Bộ Nội vụ (IOC); xây dựng Đề án Chuyển đổi số của Bộ Nội vụ đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.
Triển khai Đề án “Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin để đánh giá, tiếp nhận ý kiến về kết quả cải cách hành chính và đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030”; xây dựng “Hệ thống thông tin quản lý công tác Hợp tác quốc tế của Bộ Nội vụ”; tạo lập bộ cơ sở dữ liệu về thi đua, khen thưởng trên toàn quốc, bao gồm cả các dữ liệu khen thưởng được lưu trữ từ trước đến nay, làm cơ sở cho việc khai thác, sử dụng các dữ liệu thi đua, khen thưởng phục vụ công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên môi trường internet…
Xây dựng nền tảng phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp của Bộ Nội vụ nhằm lưu trữ tập trung hướng tới hình thành kho dữ liệu dùng chung của Bộ: thiết kế kiến trúc dữ liệu tổng thể của Bộ Nội vụ đảm bảo nguyên tắc mỗi loại dữ liệu chỉ do một đầu mối cung cấp; thiết lập trung tâm dữ liệu điện tử dùng chung có thể chia sẻ, kết nối để tối ưu hóa việc khai thác và đảm bảo tính bảo mật đối với từng loại thông tin; tổ chức thu thập, số hóa và lập chỉ mục dữ liệu đã được số hóa, chuẩn hóa cấu trúc và chuyển đổi các dữ liệu thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ thành dữ liệu điện tử.
Thứ năm, phát triển ứng dụng, dịch vụ số: Phát triển Hệ thống tích hợp Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử của Bộ Nội vụ với các hệ thống xử lý nghiệp vụ chuyên ngành để cung cấp dịch vụ số, kết nối với Hệ thống giám sát, đo lường mức độ cung cấp và sử dụng dịch vụ Chính phủ số và các hệ thống quy mô quốc gia cần thiết khác.
Phát triển các dịch vụ công trực tuyến dựa trên nhu cầu của người dân và theo các sự kiện trong cuộc đời, người dân chỉ cung cấp thông tin một lần. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong cung cấp dịch vụ như trợ lý ảo, trả lời tự động… Triển khai các kênh tương tác trực tuyến giữa Bộ Nội vụ và người dân. Xây dựng khai thác vận hành hệ thống thông tin báo cáo của bộ kết nối với hệ thống thông tin báo cáo của Chính phủ, từng bước tự động hóa công tác báo cáo, thống kê phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ.
Triển khai các hệ thống làm việc từ xa theo hướng thuê dịch vụ nhằm đa dạng hóa các hình thức làm việc phù hợp với các đối tượng, hoàn cảnh khác nhau… Phát triển các ứng dụng, dịch vụ chuyên ngành phục vụ nội bộ và kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin trong và ngoài Bộ Nội vụ.
Đẩy mạnh việc số hóa (áp dụng ISO điện tử) tại các quy trình nội bộ công việc giữa các đơn vị và với Văn phòng Bộ như cung cấp số liệu, đăng ký xe đi công tác, đăng ký phòng họp, đăng ký làm thêm giờ, sửa chữa, bổ sung trang thiết bị,...để phục vụ mục tiêu xây dựng Bộ Nội vụ số. Tổ chức triển khai, vận hành phần mềm quản lý văn bản điện tử của Bộ Nội vụ theo Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi nhận, văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước …
Thứ sáu, đảo đảm an toàn, an ninh mạng: Duy trì triển khai đảm bảo an toàn, an ninh mạng theo mô hình 4 lớp: Lớp 1: Có đơn vị chuyên trách tại chỗ là Phòng Quản lý an toàn thông tin, Trung tâm Thông tin; Lớp 2 và 3: Tự thực hiện giám sát và kiểm tra, đánh giá; Lớp 4: Hệ thống hiện đã kết nối với Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC).
Phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai xây dựng hệ thống bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng theo quy định của pháp luật; chủ trì tổ chức thuê dịch vụ đảm bảo an ninh mạng; định kỳ tổ chức tập huấn, diễn tập bảo đảm an toàn thông tin phục vụ Chính phủ số của Bộ Nội vụ. Xây dựng các chính sách và quy định về vai trò và quyền khi truy cập dữ liệu ở các mức độ khác nhau.
Xây dựng các hệ thống kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin phục vụ phát triển Chính phủ số gồm: hệ thống giám sát, cảnh báo sớm về nguy cơ an ninh mạng; hệ thống hỗ trợ điều phối, ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng.
Hướng dẫn công tác bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống nền tảng, hệ thống phục vụ phát triển Chính phủ số Bộ Nội vụ. Tham gia mạng lưới ứng cứu sự cố an toàn an ninh mạng quốc gia và các chiến dịch bảo đảm an toàn thông tin mạng do Bộ Thông tin và Truyền thông điều phối, phát động.
5 giải pháp
Bộ Nội vụ cũng đưa ra 05 giải pháp để thực hiện các nhiệm vụ, đó là: Tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức Bộ Nội vụ; Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho toàn thể công chức, viên chức, người lao động của Bộ Nội vụ và toàn thể xã hội về phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số và chuyển đổi số; tăng cường hợp tác quốc tế, bao gồm các hoạt động hợp tác quốc tế trong phát triển công nghệ, Chính phủ điện tử/Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng (thăm quan, học tập, chia sẻ); nghiên cứu, hợp tác để làm chủ, ứng dụng hiệu quả các công nghệ số phục vụ công tác quản lý, điều hành của Bộ; thiết lập cơ chế theo dõi, giám sát, đánh giá, đo lường hiệu quả các dự án đầu tư dựa trên số liệu và chế độ báo cáo định kỳ đảm bảo thực thi các mục tiêu trong triển khai Chính phủ điện tử, Chính phủ số của Bộ Nội vụ.
Theo moha.gov.vn
TĐKT - Mới đây (ngày 13/10), Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam đã có quyết định phân bổ số tiền 8 tỷ đồng để hỗ trợ người dân từ vùng dịch Covid-19 trở về các tỉnh Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bình Định kể từ ngày 1/10/2021.
Theo quyết định, Ban Cứu trợ Trung ương - UBTƯ MTTQ Việt Nam hỗ trợ tỉnh Sóc Trăng số tiền 2 tỷ đồng, tỉnh An Giang số tiền 2 tỷ đồng, tỉnh Đồng Tháp số tiền 1 tỷ đồng, tỉnh Kiên Giang số tiền 2 tỷ đồng, tỉnh Bình Định số tiền 1 tỷ đồng. Đối tượng hỗ trợ là người dân trở về quê từ các vùng dịch Covid-19 (Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An) gặp khó khăn và phải cách ly y tế, trong đó ưu tiên hỗ trợ người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ mồ côi, người già neo đơn do dịch Covid-19.
Mức hỗ trợ đối với người dân trở về quê từ vùng dịch Covid-19 là 300 ngàn đồng/người, bằng với mức hỗ trợ của 1 phần quà đại đoàn kết tiếp sức đồng bào miền Nam vượt qua đại dịch Covid-19. Thời gian người dân trở về quê được hỗ trợ là từ ngày 1/10/2021 trở về sau.
Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam đề nghị các địa phương sử dụng kinh phí hỗ trợ công khai, minh bạch và theo đúng quy định của pháp luật. Kết thúc đợt hỗ trợ có báo cáo kết quả, danh sách người được hỗ trợ có xác nhận của địa phương gửi về UBTƯ MTTQ Việt Nam.
Đối với các địa phương tự cân đối được nguồn kinh phí, Trung ương chưa xem xét hỗ trợ đợt này. Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam đề nghị các địa phương này sẽ chi từ nguồn kinh phí vận động được cho công tác phòng, chống Covid-19 của địa phương để hỗ trợ cho người dân trở về quê từ vùng dịch bằng với mức hỗ trợ của Trung ương.
Trước đó, từ thực tế công dân đang tạm trú ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam trở về địa phương sau khi nới lỏng giãn cách xã hội, Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam cũng đã có kiến nghị tới Chính phủ, chính quyền địa phương về việc phân bổ vắc xin tiêm chủng cho người dân để bà con đủ điều kiện đi làm trở lại, đặc biệt là các tỉnh có công dân trở về từ vùng dịch; tiếp tục hỗ trợ lương thực, thực phẩm, vật tư trang thiết bị y tế cần thiết cho các khu cách ly tập trung người dân trở về từ vùng dịch; hỗ trợ chi phí xét nghiệm, chi phí cách ly (ăn, ở), đi lại cho công dân trở về quê.
Đồng thời, chỉ đạo các địa phương có kế hoạch, phương án đón công dân trở về quê (giảm thiểu tình trạng người dân tục di chuyển về quê); tập trung triển khai các giải pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn ổn định cuộc sống tại địa phương.
Thục Anh
Tôn vinh nét đẹp và những đóng góp nổi bật của phụ nữ quân đội
TĐKT - Chiều 15/10, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức tổng kết, trao giải Cuộc vận động sáng tác và khai mạc triển lãm ảnh “Tự hào Phụ nữ Quân đội”. Thượng tướng Đỗ Căn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dự, chỉ đạo và cắt băng khai mạc triển lãm. Cùng dự, có các đồng chí: Nguyễn Thị Minh Hương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Lương Đức Thắng, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. Thượng tướng Đỗ Căn trao Bằng khen của Tổng cục Chính trị tặng các tác giả đoạt giải A Cuộc vận động sáng tác. Đại tá Phùng Thị Phú, Trưởng ban Phụ nữ Quân đội (PNQĐ) cho biết: Với mục đích tuyên truyền, tôn vinh nét đẹp và những đóng góp nổi bật của PNQĐ trong xây dựng quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, được lưu giữ lại dưới lăng kính của các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, Ban PNQĐ đã tham mưu cho Tổng cục Chính trị tổ chức Cuộc vận động sáng tác và triển lãm ảnh “Tự hào Phụ nữ Quân đội”. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng Đại hội Đại biểu PNQĐ lần thứ VI, Đại hội Đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII; kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và 11 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam. Sau 4 tháng triển khai (từ tháng 4 đến tháng 8/2021), Ban Tổ chức Cuộc vận động đã nhận được 1.000 tác phẩm nhiếp ảnh (gồm 900 ảnh đơn và 100 ảnh bộ), của 250 tác giả và 49 nhóm tác giả tham gia (trong đó có 20 tác giả ngoài quân đội; 230 tác giả và 49 nhóm tác giả thuộc 54 đơn vị trong quân đội). Các tác phẩm gửi tham gia Cuộc vận động có nội dung phong phú, sinh động, thể hiện hình ảnh đẹp của các nữ quân nhân, dân quân tự vệ và phản ánh hoạt động của PNQĐ trên mọi lĩnh vực (từ năm 2016 trở lại đây), tập trung vào nhóm các chủ đề chính: Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị với PNQĐ; hình ảnh nữ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ thực hiện công tác chuyên môn theo chức trách nhiệm vụ được giao: Sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất, công tác bảo đảm, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, luyện tập trên thao trường, thể thao thành tích cao, văn hóa nghệ thuật, báo chí tuyên truyền, thực hiện nhiệm vụ quốc tế...; ảnh chân dung thể hiện nét đẹp của một hoặc nhiều nữ quân nhân; hình ảnh các nữ quân nhân trong phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc, văn minh; hình ảnh PNQĐ tham gia các hoạt động chính sách xã hội, “đền ơn đáp nghĩa”, “nhân đạo từ thiện”, tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo vệ môi trường, tham gia nhiệm vụ phòng, chống đại dịch Covid-19… Với tinh thần làm việc nghiêm túc, công tâm và phương pháp khoa học, Hội đồng nghệ thuật của Cuộc vận động đã tiến hành thẩm định, đánh giá, thống nhất bỏ phiếu lựa chọn 150 tác phẩm xuất sắc nhất (gồm 89 tác phẩm ảnh đơn, 61 tác phẩm ảnh bộ), có ngôn ngữ hình ảnh sáng tạo, tính biểu đạt cao, thông điệp rõ ràng, kỹ thuật tạo hình và nội dung tốt để trưng bày triển lãm và trao thưởng. Các đại biểu tham quan triển lãm 3 giải A đã được trao cho các tập thể, cá nhân có các tác phẩm xuất sắc, gồm: Hội Phụ nữ Cục Gìn giữ hòa bình, Bộ Tổng Tham mưu với tác phẩm “Vươn tới khát vọng hòa bình”; Binh chủng Đặc công với tác phẩm “Bản lĩnh “Những bông hồng thép””; tác giả Nguyễn Tuấn Huy (Báo Quân đội nhân dân) với tác phẩm “Gửi trọn niềm tin vào nơi tâm dịch”. Ngoài ra, Ban Tổ chức đã trao 7 giải B, 10 giải C và 25 giải Khuyến khích cho các tập thể, cá nhân có những tác phẩm ảnh chất lượng; tặng Chứng nhận cho 150 tác giả và nhóm tác giả có tác phẩm được lựa chọn trưng bày tại triển lãm. 150 tác phẩm xuất sắc tham gia Cuộc vận động được trưng bày triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam từ ngày 15/10 đến hết ngày 24/10/2021. Triển lãm ảnh “Tự hào Phụ nữ Quân đội” sẽ góp phần tuyên truyền, giới thiệu về vị trí, vai trò, cũng như những đóng góp của phụ nữ quân đội trong sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tôn vinh vẻ đẹp và những phẩm chất cao quý của người nữ chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đây là một trong những nguồn lưu trữ tư liệu chân thực và tin cậy nhất về lịch sử công tác phụ nữ trong quân đội. Phương ThanhHành trình “Tôi yêu Tổ quốc tôi” kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Hội LHTN Việt Nam
TĐKT - Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam (15/10/1956 – 15/10/2021), sáng 15/10, tại Hà Nội, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam với sự đồng hành của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (Viettinbank) long trọng tổ chức Hành trình “Tôi yêu Tổ quốc tôi”. Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Võ Văn Thưởng dự chương trình. Cùng dự có các đồng chí: Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Thứ nhất BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Bùi Quang Huy, Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Bí thư Thường trực BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam; Nguyễn Ngọc Lương, Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương; cùng lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo Hội LHTN Việt Nam các thời kỳ; các anh, chị là lãnh đạo các ban, đơn vị của Trung ương Đoàn; các anh, chị là Phó Chủ tịch, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam. Các đại biểu ấn nút khởi động chương trình đồng hành với 650 trẻ em mồ côi do dịch bệnh Covid-19 đến hết năm 18 tuổi Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương Nguyễn Ngọc Lương khẳng định: Trải qua 65 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam ngày càng lớn mạnh, với gần 10 triệu hội viên; xứng đáng là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên Việt Nam yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh và lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đoàn kết mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam trong và ngoài nước cùng phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì hạnh phúc và sự tiến bộ của thanh niên. Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid -19, Hội LHTN Việt Nam các cấp, các hội thành viên tập thể, cán bộ, hội viên và thanh niên đã phát huy tinh thần “Tiên phong - Tương trợ - Thích ứng”, triển khai nhiều hình thức hiệu quả tham gia phòng, chống dịch và hỗ trợ nhân dân. Các chương trình “San sẻ yêu thương, chung tay vượt qua đại dịch”, “Triệu túi an sinh”, “Triệu bữa cơm”, “ATM gạo, ATM Oxy”, “Hát để sẻ chia”, “Cùng em học trực tuyến”, “Mạng lưới thầy thuốc trẻ đồng hành” và nhiều chương trình khác đã góp phần không nhỏ trong công tác phòng, chống dịch và hỗ trợ người dân, thanh thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn do dịch bệnh... Các chương trình, hoạt động của các cấp bộ Đoàn, Hội đã cùng cả hệ thống chính trị tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh, sớm đưa Việt Nam trở lại trạng thái bình thường mới. Anh Nguyễn Ngọc Lương, Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phát biểu tại chương trình Anh Nguyễn Ngọc Lương, Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương cho biết: Thay vì tổ chức nhiều hoạt động lớn để kỷ niệm ngày truyền thống, Trung ương Hội và Hội LHTN Việt Nam các cấp đã quyết định triển khai phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” bằng các hoạt động cụ thể tham gia phòng, chống dịch; đồng thời chuyển đổi hình thức triển khai các hoạt động tuyên truyền trên các nền tảng mạng xã hội, tổ chức thăm hỏi, tri ân các thế hệ cán bộ Hội; tuyên dương các tấm gương cán bộ Hội, hội viên, thanh niên tiêu biểu trên các lĩnh vực và triển khai các công trình, phần việc thanh niên đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị. “Sau 65 ngày thi đua cao điểm lập thành tích chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống Hội LHTN Việt Nam, Hội LHTN Việt Nam các cấp đã triển khai được 7.906 công trình, phần việc thanh niên; 21.672 hoạt động chăm sóc sức khỏe, tham gia phòng, chống Covid-19; tuyên dương, tôn vinh 12.849 cán bộ, hội viên, thanh niên tiêu biểu; 4.368 hoạt động đền ơn đáp nghĩa uống nước nhớ nguồn; kết nạp được 58.585 hội viên mới lớp hội viên “65 năm” – Anh Nguyễn Ngọc Lương cho biết. Tại Hành trình “Tôi yêu Tổ quốc tôi” kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống, Hội LHTN Việt Nam, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam và các đơn vị trực thuộc thống nhất cùng đồng hành với 650 trẻ em mồ côi do dịch bệnh Covid - 19 đến hết năm 18 tuổi. Ngay trong Hành trình, đã có 65 em mồ côi do Covid-19 đã được các anh chị cán bộ, hội viên, thanh niên và các tổ chức Hội đồng hành cùng các em trên chặng đường tiếp theo… Dịp này, Hội cũng khởi công công trình kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống tại Thừa Thiên - Huế; trao giải thưởng “15 tháng 10” tặng 65 cán bộ Hội tiêu biểu trên cả nước và giải thưởng “Thanh niên sống đẹp” tặng 65 bạn trẻ xuất sắc. Mai ThảoTĐKT - Người đã tiêm đủ liều vaccine phòng COVID-19 và người đã khỏi bệnh COVID-19 chỉ xét nghiệm khi có yêu cầu điều tra dịch tễ; không chỉ định xét nghiệm đối với người dân thực hiện đi lại, trừ các trường hợp đến từ địa bàn có dịch ở cấp độ 4 hoặc cách ly y tế.
Ngày 12/10/2021, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn tạm thời về chuyên môn y tế thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả Covid-19
PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương - Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế cho biết, yêu cầu về xét nghiệm tại hướng dẫn tạm thời của Bộ Y tế vừa đảm bảo an toàn phòng, chống dịch, vừa tạo điều kiện tối đa cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và những người đã tiêm vaccine COVID-19 hoặc đã khỏi bệnh, đồng thời cũng tạo sự chủ động, linh hoạt cho các địa phương trong quyết định xét nghiệm phù hợp để xử lý ổ dịch.
Theo đó, điểm mới trong thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 trong hướng dẫn tạm thời này thể hiện ở chỗ:
Việc xét nghiệm được thực hiện theo địa bàn nguy cơ và nhóm nguy cơ. Các trường hợp có một trong các biểu hiện triệu chứng như: Sốt, ho, mệt mỏi, đau họng, khó thở, mất vị giác và khứu giác…, cơ quan y tế thực hiện xét nghiệm tầm soát ngẫu nhiên, định kỳ tại các khu vực có nguy cơ cao, tập trung đông người như cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, chợ đầu mối, bến xe, siêu thị…; nhóm nguy cơ gồm các trường hợp di chuyển nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người… như lái xe, người chạy xe mô tô chở khách (xe ôm), người giao hàng hóa (shipper)…
Không chỉ định xét nghiệm đối với những người dân thực hiện đi lại, trừ các trường hợp đến từ địa bàn có dịch ở cấp độ 4 hoặc cách ly y tế vùng (phong tỏa) và các trường hợp nghi ngờ hoặc có chỉ định điều tra dịch tễ đến từ địa bàn có dịch ở cấp độ 3.
Những người đã tiêm đủ liều vaccine và người đã khỏi bệnh chỉ phải thực hiện xét nghiệm trong các tình huống sau: Khi có yêu cầu điều tra dịch tễ; người thuộc diện cách ly y tế hoặc theo dõi y tế; người đến từ địa bàn có dịch ở cấp độ 4 hoặc cách ly y tế vùng (phong tỏa).
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được tự tổ chức xét nghiệm SARS-CoV-2 cho người có nguy cơ lây nhiễm COVID-19 cao.
Các địa phương chủ động quyết định đối tượng, địa bàn xét nghiệm phù hợp để xử lý ổ dịch tùy thuộc vào các yếu tố nguy cơ, tình hình dịch bệnh và mức độ của ổ dịch.
Cục trưởng Nguyễn Thị Liên Hương cũng nhấn mạnh, hướng dẫn tạm thời của Bộ Y tế đã nêu thực hiện xét nghiệm theo phương pháp gộp mẫu trong trường hợp xét nghiệm tầm soát, sàng lọc, định kỳ.
La Giang
TĐKT - Ngày 14/10, Thứ trưởng Bộ Y đề Trần Văn Thuấn đã ký công văn đề nghị các cơ sở sản xuất/nhập khẩu test xét nghiệm SARS-CoV-2 khẩn trương báo cáo các thông tin khả năng cung ứng và giá bán tại thời điểm hiện tại (bao gồm các sản phẩm chưa được cấp giấy phép nhập khẩu, cấp số lưu hành cơ sở có nhu cầu kinh doanh).
Bộ Y tế yêu cầu các doanh nghiệp khẩn trương báo cáo về khả năng cung ứng và giá test kit ở thời điểm hiện tại
Trong đó, các đơn vị báo cáo về khả năng cung ứng test xét nghiệm SARS-CoV-2 (tên, chủng loại test xét nghiệm, hãng, nước sản xuất/cung ứng, thông tin về lưu hành sản phẩm, thông số kỹ thuật của sản phẩm, khả năng cung ứng theo tháng, giá bán theo đơn vị đóng gói nhỏ nhất (đồng), các thông tin khác có liên quan). Đồng thời, báo cáo về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện sản xuất/nhập khẩu test xét nghiệm SARS-CoV-2 (nếu có).
Bộ Y tế đề nghị các cơ sở ký tên, đóng dấu các văn bản, tài liệu gửi về Bộ Y tế trước 16h00 ngày 17/10/2021 và các cơ sở chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của toàn bộ thông tin công bố với Bộ Y tế.
Bộ Y tế sẽ tổng hợp và báo cáo Chính phủ, đồng thời thông báo cho các đơn vị, địa phương thông tin test xét nghiệm SARS-CoV-2 (đã được cấp phép) để tham khảo trong quá trình quyết định mua test xét nghiệm SARS-CoV-2.
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) gây ra (dịch Covid-19) và yêu cầu xét nghiệm SARS-CoV-2 phục vụ phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay, Bộ Y tế khuyến khích và ủng hộ các cơ sở sản xuất và kinh doanh tìm kiếm nguồn hàng trang thiết bị y tế/sinh phẩm chẩn đoán in vitro chẩn đoán xét nghiệm SARS-CoV-2 (test xét nghiệm SARS-CoV-2) chất lượng, tin cậy, giá thành hợp lý, đảm bảo cung ứng đủ cho nhu cầu xét nghiệm phục vụ phòng, chống dịch Covid-19.
La Giang
Việt Nam và Nhật Bản ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng các-bon thấp
TĐKT - Ngày 14/10, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, thay mặt Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Yamada Takio thay mặt Chính phủ Nhật Bản đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng các-bon thấp giữa hai Chính phủ cho giai đoạn 2021 - 2030. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam Trần Hồng Hà và Đại sứ Nhật bản tại Việt Nam ký biên bản ghi nhớ Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng các-bon thấp giữa Việt Nam và Nhật Bản được ký kết lần đầu vào tháng 7 năm 2013 và ký gia hạn vào tháng 6 năm 2017 với thời hạn đến hết năm 2020 để triển khai thực hiện Cơ chế tín chỉ chung JCM nhằm thúc đẩy đầu tư, phát triển các công nghệ, sản phẩm, hệ thống, dịch vụ và cơ sở hạ tầng phát thải các-bon thấp tại Việt Nam trên cơ sở hỗ trợ về tài chính và công nghệ từ Chính phủ Nhật Bản. Các doanh nghiệp tham gia dự án theo Cơ chế JCM hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện và được Chính phủ Nhật Bản tài trợ một phần kinh phí thực hiện. Tín chỉ các-bon thu được từ hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của các dự án được chia sẻ giữa Việt Nam và Nhật Bản theo thỏa thuận thống nhất giữa các doanh nghiệp tham gia và được Ủy ban hỗn hợp 2 nước quyết định, đảm bảo nguyên tắc minh bạch, công bằng và có trách nhiệm chung. Qua 8 năm thực hiện Cơ chế tín chỉ chung JCM, đã có 15 phương pháp luận, 14 dự án được đăng ký, có 4.415 tín chỉ các-bon được cấp cho các dự án tương đương với 4.415 tấn CO2 được cắt giảm. Kinh phí hỗ trợ nhận được từ phía Nhật Bản cho Cơ chế JCM ước tính khoảng 35 triệu đô la Mỹ, chiếm gần 40% tổng kinh phí các dự án. Cơ chế JCM đã mở ra một kênh đầu tư mới cho các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Việt Nam. Ngoài cơ hội tiếp cận, áp dụng những công nghệ, sản phẩm, dịch vụ các-bon thấp tiên tiến của phía Nhật, doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia dự án JCM sẽ được hỗ trợ tăng cường năng lực thực hiện các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Việc triển khai Cơ chế này cũng là cơ hội để các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương và địa phương tích lũy thêm kinh nghiệm xây dựng, quản lý thực hiện các dự án tạo tín chỉ các-bon theo yêu cầu quốc tế; qua đó, từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, thực hiện các mục tiêu bắt buộc đã cam kết trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tranh thủ ngoại lực, việc tận dụng hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản thông qua Cơ chế JCM sẽ thúc đẩy phát triển đất nước theo sát định hướng về kinh tế xanh, thân thiện với môi trường đã nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; góp phần triển khai hiệu quả Luật Bảo vệ môi trường sắp có hiệu lực vào đầu năm 2022, đặc biệt trong thực hiện các quy định về giảm phát thải khí nhà kính, tạo tiền đề cho phát triển thị trường các-bon trong nước trong tương lại gần. Việc ký và triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ cũng đã và sẽ tiếp tục thắt chặt quan hệ hữu nghị, đối tác chiến lược sâu rộng, toàn diện; nổi bật trên các phương diện kinh tế, thương mại, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu giữa hai Chính phủ. Trước khi ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng các-bon thấp giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã có trao đổi song phương qua hình thức trực tuyến với Bộ trưởng Môi trường Nhật Bản Yamaguchi Tsuyoshi. Tại cuộc họp, hai bên đã trao đổi về các nội dung thực hiện cơ chế JCM trong thời gian tới; sử dụng mô hình đánh giá tổng thể về biến đổi khí hậu (AIM) làm cơ sở xây dựng chiến lược dài hạn về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và trung hòa các-bon; Chương trình nghị sự Biến đổi khí hậu Nhật Bản - ASEAN 2.9 dự kiến sẽ được thảo luận tại Cuộc họp cấp Bộ trưởng và Hội nghị thượng đỉnh Môi trường Nhật Bản - ASEAN sắp tới; chuẩn bị Kỳ họp Đối thoại chính sách môi trường Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 7 và Tuần lễ Môi trường Việt Nam - Nhật Bản vào tháng 12/2021. Phương ThanhKhai mạc Lớp bồi dưỡng trực tuyến đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 - 2026
TĐKT - Ngày 12/10, tại trụ sở Bộ, Bộ Nội vụ tổ chức Lễ khai mạc Lớp bồi dưỡng trực tuyến đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì Lễ khai mạc. Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà phát biểu khai mạc Lớp bồi dưỡng Phát biểu khai mạc Lớp bồi dưỡng, Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Từ thực tế, hiệu quả hoạt động của HĐND phụ thuộc chủ yếu và được quyết định bởi chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND. Quang cảnh Lớp bồi dưỡng tại điểm cầu Bộ Nội vụ Để đại biểu HĐND cấp tỉnh có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay thì việc nâng cao kỹ năng và hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết. Với khối lượng công việc ngày càng lớn, đòi hỏi cao về năng lực thực thi công vụ của mỗi đại biểu HĐND, một trong những giải pháp quan trọng là bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đại biểu HĐND đã trở thành yêu cầu khách quan không chỉ đối với cơ quan dân cử mà còn là nhu cầu tự thân của mỗi đại biểu. Lớp bồi dưỡng kết nối trực tuyến với điểm cầu các tỉnh, thành phố Thực hiện nhiệm vụ do Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ, ngay sau khi có kết quả bầu cử đại biểu HĐND các cấp, Bộ Nội vụ đã khẩn trương ban hành Quyết định số 696/QĐ-BNV ngày 03/6/2021 phê duyệt Kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng đại biểu HĐND cấp tỉnh và các lớp tập huấn giảng viên, báo cáo viên bồi dưỡng đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nhiệm kỳ 2021 - 2026; thành lập Ban Chỉ đạo biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; phối hợp với Bộ Tài chính trao đổi về nội dung chi, định mức chi tổ chức các lớp bồi dưỡng đại biểu HĐND; hướng dẫn UBND các địa phương triển khai thực hiện việc bồi dưỡng đại biểu HĐND các cấp. Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, Bộ Nội vụ đã chủ động triển khai tổ chức lớp bồi dưỡng bằng hình thức trực tuyến. Đây là hình thức học tập vừa tiết kiệm được chi phí, vừa đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng kịp thời, trên diện rộng và vừa đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19. Để đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu của Lớp bồi dưỡng và hiệu quả học tập, Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà đề nghị các giảng viên, báo cáo viên là những người có nhiều kinh nghiệm giảng dạy và quản lý của Ban Công tác Đại biểu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ và Viện Kinh tế Việt Nam chuẩn bị tốt nội dung các bài giảng cũng như các vấn đề liên quan; kết hợp các phương pháp giới thiệu chuyên đề cho phù hợp với đối tượng và hình thức bồi dưỡng trực tuyến để Lớp bồi dưỡng đạt chất lượng, hiệu quả. Lớp bồi dưỡng được tổ chức trong 3 ngày từ 12 - 14/10. La GiangPhó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam vừa ký Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
* Xem toàn văn Nghị quyết 128/NQ-CP tại đây
Chính phủ xác định chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
Nghị quyết nêu: Tổ chức Y tế Thế giới, các nhà khoa học và các quốc gia nhận định dịch COVID-19 chưa thể kiểm soát được hoàn toàn trước năm 2023; có thể xuất hiện các chủng virus mới nguy hiểm hơn làm cho dịch diễn biến phức tạp khó lường. Tuy nhiên, việc bao phủ vaccine, có thuốc điều trị giúp giảm số ca nặng, tử vong và giảm tỉ lệ mắc. Do vậy, đã có nhiều quốc gia thay đổi chiến lược ứng phó dịch bệnh từ cố gắng dập tắt dứt điểm sang sống chung an toàn với dịch bệnh.
Đối với Việt Nam, một số kinh nghiệm đã bước đầu được đúc kết từ thực tiễn phòng, chống dịch; năng lực ứng phó của hệ thống y tế từng bước được nâng lên; diện bao phủ vaccine nhất là đối với nhóm người có nguy cơ cao, các đô thị lớn tăng nhanh giúp chúng ta chủ động hơn trong phòng, chống dịch.
Từ thực tiễn tình hình, ý kiến phân tích của các nhà khoa học, chuyên gia, ý kiến của các địa phương và Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, Chính phủ xác định mục tiêu công tác phòng, chống dịch vẫn là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân, khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, trật tự an toàn xã hội; chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
Phấn đấu đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sớm nhất
Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” (sau đây gọi là Quy định) với mục tiêu bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân; hạn chế đến mức thấp nhất các ca mắc, ca chuyển bệnh nặng, tử vong do COVID-19; khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; thực hiện mục tiêu kép, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sớm nhất có thể, phấn đấu trong năm 2021.
Trong khi tỉ lệ bao phủ vaccine đang được đẩy nhanh nhưng chưa đạt độ bao phủ toàn dân và các loại thuốc điều trị COVID-19 đang được phát triển, đưa vào sử dụng nhưng chưa có thuốc đặc trị; nhằm đảm bảo sự thống nhất thực hiện theo quy định, hướng dẫn của các bộ, ngành đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong kiểm soát tình hình dịch bệnh, tạo điều kiện khôi phục sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, đưa đời sống sinh hoạt của Nhân dân dần trở lại tình trạng bình thường mới; không để tình trạng cục bộ, cát cứ trong ban hành và thực hiện các giải pháp trên mức cần thiết gây ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất kinh doanh, đời sống xã hội.
Thực hiện các giải pháp đồng bộ
Quan điểm của Chính phủ là bảo đảm mục tiêu kép nhưng đặt sức khỏe, tính mạng người dân lên trên hết, trước hết; các giải pháp phòng, chống dịch phải dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn và điều kiện của đất nước; đảm bảo người dân được bảo vệ tốt nhất trước dịch bệnh, được tiếp cận dịch vụ y tế sớm nhất, nhanh nhất, ngay từ cơ sở; nhưng không gây ách tắc cho lưu thông, sản xuất.
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; huy động cả hệ thống chính trị; đề cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong phòng, chống dịch, thực hiện mục tiêu kép; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất trong toàn quốc, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở.
Trong phòng, chống dịch phải lấy phòng dịch là cơ bản, lâu dài; y tế là lực lượng nòng cốt cùng với các lực lượng quân đội, công an,... nhưng phải huy động sự tham gia của tất cả các lực lượng, các tầng lớp trong xã hội. Phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể trong phòng, chống dịch, trong sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt an toàn.
Các giải pháp thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 phải được thực hiện dứt khoát, kịp thời, quyết liệt; đảm bảo hài hòa giữa các giải pháp chuyên môn y tế với các giải pháp hành chính, kinh tế-xã hội. Các giải pháp y tế phải đồng bộ giữa cách ly với xét nghiệm, điều trị, vaccine, theo phương châm “cách ly, xét nghiệm là then chốt, vaccine, thuốc điều trị là điều kiện tiên quyết”.
Phân loại 4 cấp độ dịch
Quy định hướng dẫn cụ thể về phân loại đánh giá, xác định cấp độ dịch. Theo đó, phân loại cấp độ dịch theo 4 cấp:
Cấp 1: Nguy cơ thấp (bình thường mới) tương ứng với màu xanh.
Cấp 2: Nguy cơ trung bình tương ứng với màu vàng.
Cấp 3: Nguy cơ cao tương ứng với màu cam.
Cấp 4: Nguy cơ rất cao tương ứng với màu đỏ.
Phạm vi đánh giá cấp độ dịch: Đánh giá từ quy mô cấp xã. Khuyến khích đánh giá từ phạm vi, quy mô nhỏ nhất có thể (dưới cấp xã) nhằm đảm bảo linh hoạt, hiệu quả.
Quy định cũng nêu rõ 3 tiêu chí đánh giá cấp độ dịch gồm: Tỉ lệ ca mắc mới tại cộng đồng/số dân/thời gian; độ bao phủ vaccine (lưu ý nhóm tuổi có nguy cơ cao, tỉ lệ tiêm mũi thứ nhất, tỉ lệ tiêm đủ liều); khả năng thu dung, điều trị của các tuyến (lưu ý xác định rõ khả năng thu dung, điều trị hiện có và kế hoạch bổ sung).
Về xác định cấp độ dịch, Bộ Y tế hướng dẫn các tiêu chí, phương pháp đánh giá và xác định cấp độ dịch. Căn cứ vào Hướng dẫn của Bộ Y tế và tình hình dịch trên địa bàn, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định chuyển đổi cấp độ dịch. Trong trường hợp nâng cấp độ dịch thì phải thông báo trước tối thiểu 48 giờ cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp biết, có sự chuẩn bị trước khi áp dụng.
Biện pháp áp dụng theo 4 cấp độ dịch
Các biện pháp y tế bao gồm cách ly y tế, xét nghiệm, thu dung, điều trị, tiêm chủng thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế ở tất cả các cấp độ.
Quy định nêu cụ thể các biện pháp áp dụng theo 4 cấp độ dịch đối với một số hoạt động của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp gồm: 1- Tổ chức hoạt động tập trung trong nhà, ngoài trời đảm bảo các biện pháp phòng, chống dịch; 2- Vận tải hành khách công cộng đường bộ, đường thủy nội địa, hàng hải đảm bảo phòng, chống dịch COVID-19; 3- Lưu thông, vận chuyển hàng hóa nội tỉnh hoặc liên tỉnh; 4- Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Cơ sở sản xuất, đơn vị thi công các dự án, công trình giao thông, xây dựng; Cơ sở kinh doanh dịch vụ bao gồm trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích, chợ đầu mối; Nhà hàng/quán ăn, chợ truyền thống; Cơ sở kinh doanh các dịch vụ có nguy cơ lây nhiễm cao như vũ trường, karaoke, mát xa, quán bar, internet, trò chơi điện tử, làm tóc (bao gồm cắt tóc), làm đẹp và các cơ sở khác do địa phương quyết định; hoạt động bán hàng rong, vé số dạo,...); 5- Hoạt động giáo dục, đào tạo trực tiếp; 6- Hoạt động cơ quan, công sở; 7- Các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, thờ tự; 8- Hoạt động nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, tham quan du lịch; biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao; 9- Ứng dụng công nghệ thông tin.
Đối với cá nhân, Quy định cũng nêu rõ các biện pháp về tuân thủ 5K, ứng dụng công nghệ thông tin, về việc đi lại của người dân và về điều trị tại nhà đối với người nhiễm COVID-19 ở từng cấp độ dịch.
Áp dụng thống nhất trong toàn quốc
Quy định này được áp dụng thống nhất trong toàn quốc. Căn cứ vào các hướng dẫn của Bộ Y tế và các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định các biện pháp hành chính phù hợp bao gồm các quy định, hướng dẫn cụ thể về công suất, số lượng người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, văn hóa, văn nghệ, sự kiện tập trung đông người,... và có thể linh hoạt áp dụng các biện pháp bổ sung cụ thể nhưng không trái với quy định của Trung ương, không gây ách tắc lưu thông hàng hóa, sản xuất kinh doanh và đi lại, sinh hoạt của nhân dân. Trường hợp các quy định, hướng dẫn của Trung ương không phù hợp, khả thi thì kịp thời báo cáo cơ quan ban hành quy định, hướng dẫn. Cơ quan ban hành quy định, hướng dẫn phải có chỉ đạo ngay để tháo gỡ vướng mắc đồng thời nghiên cứu sửa đổi quy định, hướng dẫn.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định cách ly y tế vùng (phong tỏa ổ dịch) nhanh nhất, ở phạm vi hẹp nhất có thể và triển khai các hoạt động đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận dịch vụ y tế để người dân yên tâm tuân thủ các quy định phòng, chống dịch.
Tạm thời không áp dụng các quy định tại Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết 86/NQ-CP ngày 6/8/2021 của Chính phủ và các Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020, Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2686/QĐ-BCĐQG ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19. Trường hợp cần thiết phải áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch trên quy mô toàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cao hơn các biện pháp tại Quy định này thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Y tế, Thủ tướng Chính phủ.
Theo baochinhphu.vn
Hội thảo khoa học kỷ niệm 60 năm Đường Hồ Chí Minh trên biển sẽ diễn ra ngày 19/10/2021
TĐKT – Ngày 12/10, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và TP Hải Phòng tổ chức họp báo giới thiệu về Hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng “Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ tích lịch sử và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”. Đại tá Trần Ngọc Anh, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tá Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng Nguyễn Kim Pha chủ trì họp báo. Ban Tổ chức giới thiệu về Hội thảo Hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng “Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ tích lịch sử và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc” sẽ được tổ chức vào ngày 19/10/2021, theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hải Phòng với các quân khu, Học viện Lục quân, Trường Sĩ quan Lục quân 2 và Bộ Chỉ huy Quân sự một số tỉnh, thành phố. Đại tá Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết: Hội thảo lần này nhằm khẳng định, làm rõ về chủ trương xây dựng tuyến chi viện chiến lược Đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển, là thành công lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đường Hồ Chí Minh trên biển là biểu hiện sáng ngời của tinh thần yêu nước, ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tinh thần cách mạng kiên cường, truyền thống anh hùng, sáng tạo và tình đoàn kết quốc tế chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia; nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, trực tiếp đảm bảo cho chiến trường miền Nam đánh thắng kẻ thù xâm lược. Các tham luận tại Hội thảo sẽ tập trung làm rõ đường lối, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời về xây dựng tuyến vận tải quân sự - Đường Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; tổ chức thực hiện hiệu quả của Quân chủng Hải quân, Quân khu 3, cán bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang nói chung và TP Hải Phòng nói riêng. Bên cạnh đó, Hội thảo cũng sẽ phân tích rõ hơn về những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tổ chức mở đường, xây dựng lực lượng, tuyển chọn nhân lực, đóng mới phương tiện, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc, công tác chỉ huy, bảo đảm, bảo vệ…; khẳng định ý chí sắt đá, quyết tâm thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Hội thảo cũng là dịp để đánh giá tầm vóc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật chỉ đạo, xây dựng, tổ chức thành công tuyến vận tải đường Hồ Chí Minh trên biển đối với tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia; ý nghĩa, giá trị lịch sử của Đường Hồ Chí Minh trên biển đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và tình đoàn kết quốc tế hiện nay. Trong khuôn khổ Hội thảo sẽ diễn ra một số hoạt động: Lễ dâng hương tại Khu Di tích lịch sử Bến K15 - Điểm xuất phát Đường Hồ Chí Minh trên biển (phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn, TP Hải Phòng); thăm và tặng quà các gia đình chính sách trên địa bàn. Phương ThanhTrang
- « đầu tiên
- ‹ trước
- …
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- …
- sau ›
- cuối cùng »




















