BTĐKT - Gắn bó nhiều năm với cây chè và thị trường tiêu thụ nông sản, ông Hoàng Văn Thanh, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Chè Hà Thanh, xã Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã từng bước xây dựng mô hình sản xuất, kinh doanh chè theo hướng liên kết và hiện đại. Không chỉ mở rộng vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, ông còn nhạy bén nắm bắt xu hướng thương mại điện tử, đưa chè Đại Từ đến với thị trường rộng lớn hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới.
Từ sản xuất nhỏ lẻ đến liên kết vùng nguyên liệu
Sinh năm 1968, ông Hoàng Văn Thanh đến với cây chè từ hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình. Những năm 1990, ông bắt đầu buôn bán chè nhỏ lẻ, từng bước tích lũy kinh nghiệm, xây dựng mạng lưới khách hàng và mở rộng quy mô kinh doanh. Qua nhiều năm gắn bó với thị trường, ông nhận thấy muốn phát triển bền vững phải có nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng bảo đảm và tạo dựng được niềm tin với khách hàng.
HTX Chè Hà Thanh đã phát triển vùng chè gần 80 ha theo tiêu chuẩn VietGAP
Năm 2021, ông thành lập HTX Chè Hà Thanh với 22 thành viên, đánh dấu bước chuyển từ sản xuất, kinh doanh quy mô hộ gia đình sang liên kết phát triển kinh tế tập thể. Ban đầu, HTX có khoảng 12 ha chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhận thấy sản xuất riêng lẻ khó đáp ứng yêu cầu về quy mô và chất lượng, ông Thanh tích cực vận động các hộ dân tham gia liên kết, cùng xây dựng vùng nguyên liệu an toàn.
Đến nay, HTX đã liên kết với khoảng 80 hộ dân, phát triển vùng chè gần 80 ha theo tiêu chuẩn VietGAP, cung ứng bình quân khoảng 400 tấn chè búp khô mỗi năm. Việc liên kết không chỉ giúp HTX chủ động nguồn nguyên liệu mà còn tạo đầu ra ổn định hơn cho người trồng chè, từng bước khắc phục tình trạng sản xuất manh mún.
Cùng với mở rộng vùng nguyên liệu, HTX chú trọng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm. Hiện đơn vị có 5 dòng sản phẩm chè, trong đó chè xanh Hà Thanh đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Các sản phẩm được phân loại theo chất lượng, đáp ứng nhiều phân khúc thị trường, góp phần nâng cao giá trị cây chè trên địa bàn.
Đưa chè lên sàn thương mại điện tử
Một trong những dấu ấn nổi bật của ông Hoàng Văn Thanh là khả năng nhanh chóng thích ứng với những thay đổi của thị trường. Trong thời điểm dịch Covid-19 khiến hoạt động mua bán truyền thống gặp khó khăn, ông nhận thấy thương mại điện tử là hướng đi có nhiều tiềm năng nên chủ động đưa sản phẩm lên các sàn và nền tảng bán hàng trực tuyến.
Từ những khách hàng truyền thống tại các địa phương như Phước Long, Đồng Xoài, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, HTX từng bước mở rộng thị trường thông qua các kênh kinh doanh trên không gian số. Hiện khoảng 60% sản lượng chè của HTX được tiêu thụ qua các sàn thương mại điện tử và nền tảng trực tuyến. Theo ông Thanh, bán hàng trực tuyến giúp tiếp cận khách hàng rộng hơn nhưng cũng đòi hỏi đơn vị phải thường xuyên nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và chú trọng chăm sóc khách hàng.
Ông Hoàng Văn Thanh đẩy mạnh việc quảng bá và tiêu thụ sản phẩm chè
Song song với đổi mới phương thức tiêu thụ, HTX đầu tư hệ thống nhà xưởng, máy móc phục vụ chế biến với tổng diện tích khoảng 1.850 m². Nhiều thiết bị như máy vò, tôn sao điện, máy hút chân không, cân định lượng được đưa vào sử dụng, góp phần nâng cao năng suất và kiểm soát chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, hệ thống kho lạnh và kho bảo quản được đầu tư giúp HTX chủ động dự trữ hàng hóa, duy trì chất lượng chè và đáp ứng nhu cầu thị trường vào những thời điểm nguồn cung hạn chế.
Nhờ tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng bài bản, năm 2025, HTX đạt doanh thu 18 tỷ đồng, lợi nhuận 1,86 tỷ đồng. Năm 2026, doanh thu dự kiến đạt khoảng 20-21 tỷ đồng.
Góp sức xây dựng nông thôn mới từ phát triển kinh tế
Với ông Thanh, hiệu quả của mô hình HTX không chỉ được đo bằng doanh thu mà còn thể hiện ở những giá trị mang lại cho các hộ liên kết và cộng đồng địa phương. HTX hiện tạo việc làm cho nhiều lao động; riêng hoạt động sản xuất, kinh doanh của gia đình ông sử dụng khoảng 30-40 lao động, với thu nhập bình quân từ 10-12 triệu đồng/người/tháng. Đơn vị cũng quan tâm đến chính sách bảo hiểm y tế, an sinh xã hội cho người lao động và hỗ trợ những hội viên có hoàn cảnh khó khăn.
Mô hình HTX Chè Hà Thanh góp phần cụ thể hóa mục tiêu xây dựng nông thôn mới thông qua phát triển sản xuất, tổ chức lại kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho người dân. Từ những diện tích chè phân tán, các hộ dân được kết nối thành vùng nguyên liệu có quy trình sản xuất thống nhất, có đơn vị thu mua và kênh tiêu thụ ổn định. Đặc biệt, việc ứng dụng thương mại điện tử còn mở ra cơ hội để người nông dân tiếp cận phương thức kinh doanh hiện đại, từng bước thay đổi tư duy sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Ông Thanh cho biết, thời gian tới, ông dự định xây dựng showroom giới thiệu sản phẩm, tiếp tục phát triển thị trường trong nước và tìm kiếm đối tác xuất khẩu. Ông cũng mong muốn mở rộng liên kết với các hộ dân, HTX và địa phương trong vùng để hình thành nguồn cung đủ lớn, đáp ứng yêu cầu của những thị trường có tiêu chuẩn cao.
Năm 2026, ông Hoàng Văn Thanh được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trao tặng danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới, đồng thời được vinh danh ở lĩnh vực chuyển đổi số và thương mại điện tử. Từ những chuyến buôn chè nhỏ lẻ đến mô hình HTX với vùng nguyên liệu gần 80 ha, hành trình của ông cho thấy tinh thần chủ động, dám đổi mới của người nông dân. Bằng việc kết nối sản xuất, nâng cao chất lượng và đưa nông sản lên không gian số, ông đang góp phần nâng tầm giá trị chè Đại Từ, tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Nguyệt Hà
Xây dựng nông thôn mới
BTĐKT - Với lợi thế về những vùng chè đặc sản, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa phong phú, Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch gắn với xây dựng nông thôn mới. Không chỉ mở thêm hướng phát triển kinh tế, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân, du lịch còn góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống, cải thiện cảnh quan, môi trường, tạo sức sống mới cho những miền quê.
Đánh thức tiềm năng, mở rộng sinh kế từ những giá trị bản địa
Thay vì chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp truyền thống, nhiều địa phương đang từng bước khai thác những giá trị sẵn có của nông thôn để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và trải nghiệm nông nghiệp. Đây không đơn thuần là hướng mở rộng hoạt động dịch vụ mà còn là cách tổ chức lại kinh tế nông thôn theo hướng đa giá trị, trong đó nông nghiệp, văn hóa, cảnh quan và du lịch cùng hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
Thái Nguyên là một trong những địa phương đang đẩy mạnh hướng đi này. Với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, những vùng chè đặc sản, hệ thống di tích lịch sử, bản làng và các sản phẩm nông nghiệp đạt chuẩn OCOP, tỉnh có nhiều điều kiện để hình thành những sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng. Đến nay, toàn tỉnh có 19 điểm du lịch được UBND tỉnh công nhận, trong đó nhiều điểm gắn liền với nông nghiệp và sản phẩm OCOP.
Du khách trải nghiệm hái chè tại Hợp tác xã Nông sản Phú Lương
Tại các vùng chè Tân Cương, La Bằng, Minh Lập, Trại Cài..., du khách không chỉ được tham quan cảnh quan mà còn trực tiếp trải nghiệm các công đoạn chăm sóc, thu hái, chế biến chè, thưởng trà và cùng người dân chế biến những món ăn truyền thống. Những hoạt động bình dị trong đời sống sản xuất hằng ngày lại trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, giúp du khách hiểu hơn về nghề truyền thống, văn hóa và con người địa phương.
Đáng chú ý, du lịch cộng đồng tại xã Phú Đình đang mở ra hướng sinh kế bổ sung cho người dân vùng ATK. Một trong những mô hình tiêu biểu là Hợp tác xã Dịch vụ du lịch ATK Thời Nga. Được thành lập năm 2023 với 9 thành viên, hợp tác xã đầu tư nhà hàng, nhà sàn, homestay và các dịch vụ phục vụ khách du lịch. Từ đầu năm đến nay, đơn vị đã đón gần 11 nghìn lượt khách, doanh thu trên 1 tỷ đồng. Không chỉ tạo nguồn thu từ dịch vụ, hợp tác xã còn liên kết với các hộ dân để cung ứng nông sản an toàn. Riêng các loại gạo đặc sản như J02, bao thai Định Hóa, nếp cái hoa vàng, từ đầu năm đơn vị đã tiêu thụ gần 3 tấn cho người dân trong vùng.
Cách làm này cho thấy hiệu quả của việc đưa sản phẩm nông nghiệp vào chuỗi dịch vụ du lịch. Người trồng lúa có thêm đầu ra, người sản xuất nông sản có cơ hội quảng bá sản phẩm, còn du khách được thưởng thức những món ăn mang hương vị đặc trưng của địa phương. Với trên 70% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Phú Đình còn có lợi thế từ những giá trị văn hóa của đồng bào Tày, Sán Chay, Dao cùng các nét ẩm thực truyền thống.
Không chỉ ở vùng ATK, tại xã La Bằng, phát triển du lịch cũng được đặt trong mối quan hệ mật thiết với bảo vệ môi trường và gìn giữ vùng nguyên liệu. Tính đến đầu tháng 9/2026, địa phương duy trì 7 mô hình tự quản “Khu dân cư sáng, xanh, sạch, đẹp”; hoạt động “Ngày thứ Sáu xanh” được triển khai hằng tháng tại 14/14 xóm. Người dân được tuyên truyền sản xuất chè hữu cơ, thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường vùng sản xuất.
Thái Nguyên hiện có trên 22.000 ha chè cho thu hoạch. Năm 2026, tỉnh phấn đấu sản lượng chè búp tươi gần 280 nghìn tấn, tổng giá trị sản phẩm từ cây chè khoảng 16.800 tỷ đồng. Đây không chỉ là nguồn lực quan trọng của ngành nông nghiệp mà còn mở ra nhiều cơ hội phát triển du lịch trải nghiệm, từ tham quan vùng nguyên liệu, tìm hiểu quy trình sản xuất đến thưởng thức và mua sắm sản phẩm tại chỗ.
Những mô hình trên cho thấy, khi du lịch được kết nối với sản xuất nông nghiệp và đời sống cộng đồng, giá trị kinh tế không chỉ nằm ở hoạt động đón khách mà còn lan tỏa đến nhiều ngành nghề, nhiều hộ gia đình. Người dân vừa là chủ thể gìn giữ những giá trị bản địa, vừa trực tiếp tham gia cung cấp sản phẩm, dịch vụ và hưởng lợi từ hoạt động du lịch.
Xây dựng nông thôn mới từ yêu cầu phát triển bền vững
Du lịch muốn phát triển lâu dài không thể chỉ dựa vào cảnh đẹp hay những sản phẩm đặc trưng để thu hút du khách. Sức hấp dẫn của mỗi vùng quê còn đến từ những con đường sạch đẹp, không gian sống trong lành, cảnh quan được gìn giữ và nét văn hóa truyền thống vẫn hiện diện trong đời sống thường ngày. Bởi vậy, xây dựng nông thôn mới cũng chính là tạo dựng nền tảng để du lịch phát triển, đồng thời du lịch lại góp phần làm cho những thành quả ấy được phát huy hiệu quả hơn.
Tại Thái Nguyên, mối liên kết này đang được cụ thể hóa bằng những định hướng và chính sách hỗ trợ thiết thực. Tháng 8/2026, tỉnh ban hành Kế hoạch số 381/KH-UBND về phát triển du lịch nông thôn giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, trải nghiệm nông nghiệp gắn với bảo tồn thiên nhiên và văn hóa bản địa. Trong đó, văn hóa trà, những vùng chè đặc sản và sản phẩm OCOP được xác định là những nét riêng để hình thành các điểm đến hấp dẫn, góp phần tạo diện mạo nông thôn xanh, hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc.
Để người dân có thêm điều kiện tham gia vào hướng phát triển này, tỉnh cũng ban hành Nghị quyết số 76/2026/NQ-HĐND về một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, mỗi người lao động được vay tối đa 500 triệu đồng, mỗi hộ gia đình được vay tối đa 1,5 tỷ đồng để phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng, thời hạn vay tối đa 60 tháng; ngân sách tỉnh hỗ trợ từ 50% đến 90% lãi suất vay, tùy khu vực I, II, III. Đối với đầu tư điểm du lịch, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh có thể được vay tối đa 2,5 tỷ đồng/tổ chức, không quá 500 triệu đồng/lao động, thời hạn tối đa 60 tháng. Các hạng mục như hạ tầng, điểm đón tiếp, giới thiệu sản phẩm OCOP, đặc sản địa phương và trang thiết bị phục vụ vệ sinh môi trường tại các khu, điểm du lịch cộng đồng cũng được quan tâm hỗ trợ.
Những chính sách này không chỉ tạo thêm nguồn lực đầu tư mà còn mở ra cơ hội để nhiều hộ dân, hợp tác xã mạnh dạn phát triển dịch vụ ngay trên quê hương mình. Từ một vùng sản xuất chè, một làng nghề hay một bản làng còn lưu giữ nét sinh hoạt truyền thống, nếu được kết nối hợp lý với các hoạt động tham quan, trải nghiệm và lưu trú, đều có thể trở thành điểm đến mang dấu ấn riêng. Khi đó, giá trị du lịch không chỉ nằm ở những gì du khách nhìn thấy mà còn ở những sản phẩm họ được thưởng thức, những câu chuyện được lắng nghe và những trải nghiệm được mang về.
Từ thực tiễn tại Thái Nguyên có thể thấy, xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch không phải là hai nhiệm vụ tách rời. Những thành quả về hạ tầng, cảnh quan, môi trường và đời sống văn hóa tạo nền tảng cho du lịch phát triển; ngược lại, du lịch mở thêm đầu ra cho nông sản, tạo việc làm, tăng thu nhập và khuyến khích người dân chủ động gìn giữ những giá trị của quê hương.
Khi người dân thực sự trở thành chủ thể, được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển, du lịch sẽ không chỉ là hoạt động khai thác tiềm năng mà còn trở thành động lực thúc đẩy nông thôn chuyển mình. Đó cũng là hướng đi để những miền quê không chỉ đạt các tiêu chí nông thôn mới mà còn thực sự trở thành những không gian sống xanh, giàu bản sắc, có sức sống kinh tế và sức hấp dẫn lâu dài.
Bảo Linh
Thái Nguyên nâng cao thu nhập, tạo động lực xây dựng nông thôn mới
BTĐKT - Nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân là thước đo quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Tại Thái Nguyên, từ chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi đến liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, nhiều cách làm đang phát huy hiệu quả, giúp người dân khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai, tạo việc làm và từng bước nâng cao giá trị kinh tế ở khu vực nông thôn. Đổi mới sản xuất, gia tăng giá trị trên đồng đất quê hương Thay vì chỉ duy trì những cây trồng, vật nuôi quen thuộc, người dân Thái Nguyên đang từng bước lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng, từng hộ. Thực tế cho thấy, khi thay đổi cách làm, áp dụng kỹ thuật và tính toán đầu ra ngay từ đầu, hiệu quả kinh tế có thể được nâng lên rõ rệt. Ở Quảng Bạch, cây hồng không hạt đang trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều hộ dân vùng cao. Toàn xã hiện có khoảng 50 ha hồng không hạt, trong đó khoảng 30 ha đang cho thu hoạch. Loại cây này mang lại nguồn thu bình quân 6 - 8 tỷ đồng mỗi năm, giá trị kinh tế cao hơn khoảng 4 - 5 lần so với canh tác lúa và ngô. Tuy nhiên, diễn biến thời tiết bất lợi và bệnh thán thư cũng cho thấy yêu cầu phải tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, nâng chất lượng và ổn định đầu ra để duy trì hiệu quả sản xuất. Nông dân kiểm tra ruộng sâm Bố Chính để theo dõi sinh trưởng và kịp thời phát hiện sâu bệnh Không chỉ trồng trọt, chăn nuôi theo hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng mở ra cơ hội tăng thu nhập. Tại xã Thanh Thịnh, mô hình nuôi dê duy trì khoảng 200 con mỗi lứa, sau 3 tháng nuôi vỗ béo đạt trọng lượng 35 - 40kg/con; mỗi lứa mang lại nguồn thu khoảng 120 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Với cây ớt xuất khẩu, mỗi héc-ta có thể cho sản lượng khoảng 15 tấn quả, doanh nghiệp liên kết cam kết giá thu mua tối thiểu từ 10.000 đồng/kg trở lên, giúp người trồng có thể thu về khoảng 200 - 250 triệu đồng/ha mỗi vụ. Hiện diện tích ớt được duy trì khoảng 10 ha mỗi vụ. Những kết quả trên cho thấy nâng cao thu nhập không đơn thuần là tăng diện tích hay sản lượng, mà quan trọng hơn là lựa chọn đúng đối tượng sản xuất, nâng giá trị trên một đơn vị diện tích và giảm rủi ro thị trường. Đây cũng là hướng đi giúp người dân chủ động hơn trong phát triển kinh tế gia đình. Liên kết sản xuất, mở rộng sinh kế, cải thiện đời sống Cùng với đổi mới phương thức sản xuất, liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đang góp phần giải quyết bài toán đầu ra cho nông sản. Khi có sự hỗ trợ về giống, kỹ thuật, thu mua và tiêu thụ, các hộ sản xuất có điều kiện mở rộng quy mô, nâng chất lượng sản phẩm và yên tâm đầu tư lâu dài. Tại Cẩm Giàng, diện tích chuối tiêu hồng tăng từ 7,2 8ha với 56 hộ tham gia lên gần 20 ha trong năm 2026, thu hút 175 hộ, trong đó có 5ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Sự phát triển của vùng trồng cho thấy vai trò của liên kết trong việc tập hợp các hộ sản xuất, từng bước hình thành vùng nguyên liệu hàng hóa thay vì canh tác nhỏ lẻ, phân tán. Ở Tân Cương, mô hình chè hữu cơ tại Hợp tác xã Trà Nguyên Long có quy mô 5 ha với 12 thành viên. Thông qua hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và kết nối tiêu thụ, người trồng chè có thêm điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện giá bán. Đây là hướng phát triển phù hợp với lợi thế cây chè của địa phương, đồng thời cho thấy việc nâng thu nhập cần gắn với chất lượng và giá trị thương hiệu. Bò 3B không chỉ là vật nuôi giúp nông dân giảm nghèo mà còn có thể làm giàu Tại Phú Bình, mô hình nuôi bò 3B theo hướng tuần hoàn duy trì đàn 30 con, sử dụng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên, tận dụng phân bò để nuôi giun và sản xuất phân hữu cơ. Sau khoảng 12 tháng, mỗi con bò cho khoản thu 15 - 18 triệu đồng sau chi phí; giá trị thu nhập của một lứa ước hơn 450 triệu đồng. Trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho 2 lao động địa phương, với mức thu nhập khoảng 8,5 triệu đồng/người/tháng. Hiệu quả của mô hình không chỉ nằm ở nguồn thu từ chăn nuôi mà còn ở việc tận dụng phụ phẩm, tiết kiệm chi phí và tạo thêm việc làm tại chỗ. Ở những địa bàn còn khó khăn, hỗ trợ sinh kế tiếp tục là nguồn lực giúp người dân có điều kiện phát triển sản xuất. Tại Phủ Thông, giai đoạn 2021 - 2025, địa phương triển khai 78 hạng mục đầu tư, hỗ trợ về hạ tầng và đời sống; công trình cấp nước sinh hoạt phân tán phục vụ 113 hộ dân. Tổng kinh phí thực hiện hơn 40 tỷ đồng. Cùng với đầu tư hạ tầng, các hoạt động hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và phát triển sinh kế giúp người dân từng bước nâng cao năng lực tự tạo thu nhập. Từ đầu năm 2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai 10 mô hình thuộc lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản theo hướng an toàn, hữu cơ, tuần hoàn, liên kết chuỗi giá trị và thích ứng với biến đổi khí hậu; tổ chức 69 lớp tập huấn với 2.650 lượt người tham gia. Các tổ khuyến nông cộng đồng đã được triển khai tại 92/92 xã, phường, góp phần đưa kiến thức kỹ thuật đến gần hơn với người sản xuất. Theo Đề án số 20-ĐA/TU ngày 11/12/2025 về phát triển toàn diện khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 4%/năm; giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt đạt 150 triệu đồng; tổng giá trị sản phẩm chè đạt trên 25 nghìn tỷ đồng; 95% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đáng chú ý, thu nhập bình quân của người dân nông thôn phấn đấu tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm trên 1,5 điểm phần trăm mỗi năm. Để những mục tiêu này trở thành kết quả cụ thể, điều quan trọng là tiếp tục nhân rộng mô hình phù hợp, tăng cường liên kết tiêu thụ và hỗ trợ người dân tiếp cận khoa học kỹ thuật. Khi sản xuất tạo ra giá trị cao hơn, việc làm được duy trì và đầu ra nông sản ổn định, thu nhập của người dân sẽ có nền tảng tăng trưởng bền vững. Đây cũng là động lực thiết thực để xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên ngày càng đi vào chiều sâu, gắn với chất lượng cuộc sống của người dân. Tuệ MinhThái Nguyên khơi dậy sức dân từ phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới
BTĐKT - Từ những khoản đóng góp của cộng đồng đến các công trình dân sinh, hoạt động an sinh xã hội và chuyển đổi số ở cơ sở, phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới (NTM) tại Thái Nguyên đang được cụ thể hóa bằng nhiều việc làm thiết thực. Sự đồng hành của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và nhân dân không chỉ bổ sung nguồn lực phát triển hạ tầng mà còn lan tỏa tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ở khu vực nông thôn. Huy động nguồn lực, cụ thể hóa phong trào bằng những việc làm thiết thực Những ngày đầu tháng 10/2026, phong trào thi đua xây dựng NTM tại nhiều địa phương của Thái Nguyên tiếp tục được thúc đẩy thông qua các chương trình phát động gắn với nhiệm vụ cụ thể. Điểm đáng chú ý là các hoạt động không dừng ở việc kêu gọi, vận động mà hướng tới huy động nguồn lực, triển khai công trình, phần việc phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Ngày 6/10, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM xã Bình Thành tổ chức phát động Chương trình “Chung sức xây dựng nông thôn mới” năm 2026. Ngay tại buổi phát động, chương trình đã tiếp nhận trên 125 triệu đồng ủng hộ xây dựng NTM. Những đóng góp này thể hiện sự đồng lòng của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong việc chung tay hoàn thiện các công trình, tiêu chí, góp sức xây dựng quê hương ngày càng khang trang. Để nguồn lực vận động phát huy hiệu quả, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM xã Bình Thành xác định việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản ủng hộ phải bảo đảm công khai, minh bạch, ưu tiên cho những mục tiêu trọng tâm. Đồng thời, địa phương kêu gọi các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã, ban công tác Mặt trận 14 xóm và toàn thể nhân dân tiếp tục hưởng ứng bằng những việc làm thiết thực. Theo kế hoạch, các nguồn lực ủng hộ được tổng hợp, gửi về Ban Thường trực Ủy ban MTTQ xã trước ngày 30/10/2026, góp phần kịp thời triển khai các công trình, phần việc NTM. Nếu tại Bình Thành, trọng tâm là huy động sự đóng góp của cộng đồng thì ở xã Vô Tranh, phong trào thi đua xây dựng NTM được gắn với hoạt động chăm lo an sinh xã hội, hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn. Ngày 7/10, Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ xã Vô Tranh tổ chức phát động phong trào thi đua xây dựng NTM và Tháng cao điểm “Vì người nghèo” năm 2026, vận động nguồn lực hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát và thực hiện các chương trình an sinh xã hội trên địa bàn. Thông qua chương trình, địa phương kêu gọi các cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chung tay hỗ trợ hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, nhất là những gia đình đang sống trong nhà tạm, nhà dột nát. Hưởng ứng lời kêu gọi, lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà hảo tâm, trường học và các xóm trên địa bàn đã quyên góp, ủng hộ tổng số tiền trên 589 triệu đồng. Việc gắn phong trào xây dựng NTM với Tháng cao điểm “Vì người nghèo” cho thấy mục tiêu phát triển nông thôn không chỉ nằm ở diện mạo hạ tầng mà còn hướng đến cải thiện điều kiện sống, tạo cơ hội để người dân ổn định cuộc sống và vươn lên. Những nguồn lực được huy động từ cộng đồng vì thế vừa góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển địa phương, vừa lan tỏa tinh thần tương thân, tương ái. UBND xã Hợp Thành bàn giao gói thiết bị số cho nhà văn hóa các xóm Tại xã Hợp Thành, phong trào thi đua được triển khai với nhiều công trình, phần việc trên các lĩnh vực, từ phát triển hạ tầng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe đến chuyển đổi số và bảo vệ môi trường. Ngày 17/10, xã Hợp Thành tổ chức phát động phong trào thi đua xây dựng xã đạt chuẩn NTM năm 2027. Tại chương trình, UBND xã cùng đại diện 15 xóm ký giao ước thi đua, tập trung vào các nhiệm vụ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, hoàn thiện hạ tầng và bảo vệ môi trường. Cùng với việc xác định nhiệm vụ, nhiều cơ quan, đơn vị đã chung tay hỗ trợ địa phương triển khai các công trình thiết thực. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên hỗ trợ tuyến đường điện chiếu sáng tại xóm Khau Lai và mô hình khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường tại xóm Na Dau, tổng trị giá 160 triệu đồng. Chùa Khánh Tân hỗ trợ 200 triệu đồng xây dựng công trình nhà vệ sinh cho Trường THCS Hợp Thành. Tỉnh đoàn Thái Nguyên trao 150 triệu đồng hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà ở cho 5 hộ dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Đáng chú ý, UBND xã Hợp Thành đã bàn giao gói thiết bị số gồm máy tính, camera, wifi và tivi cho 15/15 nhà văn hóa xóm, tổng trị giá 310 triệu đồng. Công an xã trao tặng bộ thiết bị tập thể dục ngoài trời trị giá 20 triệu đồng cho Nhà văn hóa xóm Khuân Lân. Ngay sau lễ phát động, các lực lượng đồng loạt triển khai 6 nhóm hoạt động: Khám sức khỏe ban đầu cho nhân dân; giải phóng mặt bằng tuyến đường Khuân Lân và cầu Rộc Nhả; khánh thành công trình Trường Mầm non Hợp Thành; hỗ trợ xóa nhà tạm tại xóm Phú Thành; ra mắt nhà văn hóa số tại xóm Bản Đông; tổng vệ sinh, chỉnh trang cảnh quan nông thôn trên địa bàn. Từ những khoản hỗ trợ bằng tiền đến các công trình hạ tầng, thiết bị phục vụ sinh hoạt cộng đồng, phong trào thi đua tại Hợp Thành cho thấy sự đa dạng trong cách huy động và sử dụng nguồn lực. Mỗi phần việc hướng đến một nhu cầu cụ thể, góp phần cải thiện điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận thông tin và sinh hoạt của người dân. Phát huy sức mạnh cộng đồng, tạo sức sống bền vững cho nông thôn mới Điểm chung trong cách làm tại Bình Thành, Vô Tranh và Hợp Thành là sự gắn kết giữa phát động thi đua với hành động cụ thể, giữa huy động nguồn lực với giải quyết những vấn đề thiết thực tại cơ sở. Tùy điều kiện từng địa phương, phong trào được triển khai theo những hướng khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là hoàn thiện hạ tầng, chăm lo đời sống nhân dân và xây dựng môi trường nông thôn ngày càng khang trang, văn minh. Thực tế cho thấy, nguồn lực xây dựng NTM không chỉ đến từ ngân sách nhà nước mà còn được bổ sung thông qua sự đóng góp của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, nhà hảo tâm và người dân. Khi các nguồn lực này được kết nối, sử dụng đúng mục đích, nhiều công trình, phần việc có thể được triển khai kịp thời, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Điều quan trọng là việc vận động phải phù hợp với điều kiện thực tế, phát huy tinh thần tự nguyện, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch trong tiếp nhận và sử dụng các khoản đóng góp. Cùng với đầu tư hạ tầng, việc đưa các hoạt động an sinh xã hội vào phong trào thi đua giúp NTM gắn chặt hơn với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống. Những ngôi nhà được sửa chữa, xây mới, các công trình phục vụ trường học, thiết bị tại nhà văn hóa hay mô hình bảo vệ môi trường đều mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân. Đây cũng là cách để thành quả xây dựng NTM không chỉ thể hiện ở diện mạo nông thôn mà còn được cảm nhận qua những thay đổi trong sinh hoạt hằng ngày. Một điểm đáng chú ý khác là vai trò của cơ sở trong tổ chức thực hiện phong trào. Việc đại diện 15 xóm ở Hợp Thành ký giao ước thi đua, vận động sự tham gia của 14 xóm tại Bình Thành hay huy động các tổ chức, trường học và cộng đồng dân cư ở Vô Tranh cho thấy phong trào đang được triển khai với sự tham gia của nhiều lực lượng. Khi nhiệm vụ được cụ thể hóa đến từng địa bàn, từng công trình và phần việc, trách nhiệm của các bên cũng rõ ràng hơn, tạo điều kiện để người dân cùng tham gia, giám sát và thụ hưởng kết quả. Để duy trì sức lan tỏa, các địa phương cần tiếp tục lựa chọn những nội dung thi đua sát với nhu cầu của người dân, xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên và chú trọng hiệu quả sau đầu tư. Các công trình hoàn thành cần được quản lý, duy tu, sử dụng phù hợp; những mô hình bảo vệ môi trường, khu dân cư tự quản và nhà văn hóa số cần được duy trì hoạt động thường xuyên. Đối với nguồn lực xã hội hóa, việc công khai kết quả vận động và sử dụng kinh phí sẽ góp phần củng cố niềm tin, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiếp tục đồng hành. Từ những việc làm cụ thể tại Bình Thành, Vô Tranh và Hợp Thành, có thể thấy phong trào thi đua xây dựng NTM đang tạo cơ hội để sức dân được khơi dậy và phát huy theo nhiều cách thiết thực. Khi mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người dân đều có thể đóng góp bằng khả năng của mình, phong trào sẽ có thêm nền tảng để phát triển sâu rộng, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng. Bảo LinhBTĐKT - Những con đường được chỉnh trang, những tuyến đường hoa được chăm sóc, môi trường khu dân cư ngày càng sạch đẹp và sản xuất từng bước đổi mới đang góp phần làm nên diện mạo nông thôn Thái Nguyên. Trong năm 2026, khi Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2026 - 2030 bắt đầu được thực hiện, 15 xã trong tỉnh đang nỗ lực hoàn thiện các tiêu chí còn thiếu, phát huy những kết quả đã có và khơi dậy sự chung sức của người dân, hướng tới mục tiêu đạt chuẩn NTM.
Từ kết quả đã có đến những phần việc cần hoàn thiện
Tân Cương, Kha Sơn, La Hiên, Tân Thành, Bình Thành, Phú Đình, Vô Tranh, Bình Yên, Phú Xuyên, Đại Từ, Tân Khánh, An Khánh, La Bằng, Vạn Phú và Điềm Thụy là 15 xã phấn đấu đạt chuẩn NTM trong năm 2026. Mỗi địa phương có điều kiện, thế mạnh và những khó khăn riêng, nhưng đều đang đứng trước yêu cầu chung: Phát huy thành quả xây dựng NTM trước đây, đồng thời đáp ứng những tiêu chuẩn mới sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Kết quả rà soát ban đầu cho thấy, xã Kha Sơn có số chỉ tiêu đạt cao nhất với 40/47 chỉ tiêu, tương ứng 5/10 tiêu chí; tiếp đến là Điềm Thụy 38/47 chỉ tiêu, tương ứng 4/10 tiêu chí; La Hiên 36/47, tương ứng 4/10 tiêu chí; La Bằng 37/47, tương ứng 3/10 tiêu chí. Các xã Phú Xuyên, Vạn Phú và Vô Tranh cùng đạt 35/47 chỉ tiêu; Tân Cương đạt 34/47; Tân Thành đạt 31/47. Các xã còn lại đạt từ 21 đến 29 chỉ tiêu.
Diện mạo xã nông thôn mới Kha Sơn
Những con số này phản ánh phần việc mỗi địa phương đã thực hiện, đồng thời cho thấy chặng đường phía trước còn không ít việc phải làm. Số chỉ tiêu đạt và số tiêu chí hoàn thành chưa tương ứng, bởi một tiêu chí chỉ được tính đạt khi đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu thành phần. Vì vậy, bên cạnh những kết quả đã có, các xã cần tiếp tục tập trung vào những nội dung còn thiếu, nhất là các tiêu chí đòi hỏi nhiều thời gian, kinh phí và sự phối hợp của nhiều đơn vị.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu xây dựng NTM cũng có những thay đổi đáng kể. Các xã phải lập và phê duyệt lại quy hoạch chung; một số trường học, trạm y tế chưa đủ điều kiện công nhận lại đạt chuẩn theo quy định. Trong khi đó, nguồn lực đầu tư ở một số địa phương còn hạn chế, khiến việc hoàn thiện những hạng mục cần kinh phí lớn gặp khó khăn.
Bộ tiêu chí xã NTM giai đoạn 2026 - 2030 có 18 chỉ tiêu được nâng yêu cầu, trong đó có 7 chỉ tiêu bổ sung mới. Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng NTM không chỉ dừng ở những công trình dễ nhận thấy như đường giao thông, trường học hay nhà văn hóa. Chất lượng môi trường sống, thu nhập, dịch vụ xã hội, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hiệu quả quản lý ở cơ sở ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Một con đường được mở rộng có thể giúp việc đi lại thuận tiện hơn; một tuyến đường hoa được chăm sóc thường xuyên góp phần làm đẹp cảnh quan; nhưng để đời sống nông thôn thực sự khởi sắc, người dân còn cần việc làm ổn định, sản xuất hiệu quả và các dịch vụ thiết yếu đáp ứng nhu cầu. Bởi vậy, hoàn thành các tiêu chí không chỉ là đích đến trước mắt mà còn phải gắn với những lợi ích thiết thực, lâu dài đối với cộng đồng.
Tại hội nghị đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu xây dựng NTM ở 15 xã tháng 9 năm 2026, những nội dung còn vướng mắc đã được các địa phương rà soát, làm rõ. Trên cơ sở đó, các xã tiếp tục phân công cán bộ phụ trách từng chỉ tiêu, xây dựng lộ trình thực hiện và hoàn thiện hồ sơ minh chứng. Những tiêu chí liên quan đến quy hoạch, trường học, y tế và các hạng mục cần nguồn vốn lớn được xác định là những nội dung cần tập trung tháo gỡ.
Sự hỗ trợ trực tiếp của các sở, ngành, việc lồng ghép các nguồn vốn hợp pháp và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với tiến độ chung. Tuy nhiên, cùng với nguồn lực đầu tư, sự chủ động của từng địa phương và tinh thần chung sức của người dân vẫn là yếu tố không thể thiếu để những phần việc còn dang dở sớm được hoàn thành.
Góp sức từ những việc nhỏ, tạo đổi thay bền vững
Ở nhiều địa phương, phong trào thi đua xây dựng NTM đang được cụ thể hóa bằng những công việc gần gũi với đời sống hằng ngày. Không chỉ tập trung vào các công trình hay những tiêu chí cần hoàn thành, các hoạt động vệ sinh môi trường, chăm sóc đường hoa, chỉnh trang khu dân cư và phát triển sản xuất cũng được chú trọng. Những việc làm tuy không lớn nhưng khi được duy trì thường xuyên sẽ góp phần tạo nên diện mạo nông thôn khang trang, sạch đẹp.
Tại xã Tân Khánh, đợt thi đua cao điểm 120 ngày xây dựng xã đạt chuẩn NTM năm 2026 được phát động trong tháng 9/2026, gắn với hoạt động “Ngày thứ Bảy xanh”. Theo đó các hoạt động tập trung vào vệ sinh môi trường, trồng cây xanh, trồng hoa trên các tuyến đường, hướng tới cảnh quan sáng - xanh - sạch - đẹp.
Xã Tân Khánh phát động đợt thi đua cao điểm 120 ngày xây dựng xã đạt chuẩn NTM năm 2026
Điểm thiết thực của phong trào là người dân có thể trực tiếp tham gia bằng những việc làm cụ thể tại nơi mình sinh sống. Từ dọn vệ sinh đường làng, chăm sóc cây xanh đến giữ gìn cảnh quan chung, mỗi người đều có thể góp phần làm đẹp khu dân cư. Khi những phần việc ấy được thực hiện thường xuyên, kết quả không chỉ thể hiện ở diện mạo bên ngoài mà còn ở ý thức giữ gìn môi trường và trách nhiệm cộng đồng.
Tân Khánh được thành lập trên cơ sở sắp xếp, sáp nhập các xã Bàn Đạt, Tân Khánh và Đào Xá trước đây. Trên địa bàn mới, việc kế thừa những kết quả đã đạt được, đồng thời tạo sự đồng thuận giữa các khu dân cư có ý nghĩa quan trọng. Đợt thi đua cao điểm là dịp để các tổ chức, đoàn thể và người dân cùng bắt tay thực hiện những công việc cụ thể, góp phần hoàn thiện các tiêu chí NTM từ chính cơ sở.
Điều đáng quan tâm là làm sao để khí thế thi đua không chỉ sôi nổi trong thời gian phát động mà trở thành thói quen trong đời sống. Một tuyến đường sạch cần được giữ gìn mỗi ngày; những hàng cây, đường hoa cần được chăm sóc thường xuyên; các khu dân cư cần duy trì nếp sống văn minh. Khi người dân tự giác thực hiện và cùng nhau bảo vệ thành quả chung, chất lượng xây dựng NTM mới có thể được duy trì lâu dài.
Cùng với cải thiện cảnh quan, phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cũng là hướng đi quan trọng. Tại xã Điềm Thụy, năm 2026, tổng nguồn lực huy động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là hơn 13 tỷ đồng và 259 tấn xi măng. Nguồn lực này góp phần phục vụ quá trình thực hiện chương trình, trong khi địa phương đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp.
Việc khuyến khích phát triển kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và các mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm mở ra hướng nâng cao giá trị nông sản, tạo thêm cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Đây cũng là một khía cạnh quan trọng của xây dựng NTM: Bên cạnh hạ tầng được cải thiện, người dân cần có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống ngay trên quê hương mình.
Từ việc giữ gìn môi trường ở Tân Khánh đến huy động nguồn lực, đổi mới sản xuất ở Điềm Thụy, mỗi địa phương có cách làm phù hợp với điều kiện thực tế. Điểm chung là các hoạt động xây dựng NTM ngày càng cần gắn với nhu cầu của cộng đồng, phát huy sự tham gia của người dân và tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống hằng ngày. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cũng có vai trò quan trọng trong vận động, kết nối người dân, duy trì phong trào và nhân rộng những cách làm hiệu quả.
Để các địa phương tháo gỡ những khó khăn còn tồn tại, sự đồng hành, hỗ trợ kịp thời của các sở, ngành cùng việc tăng cường kiểm tra, hướng dẫn sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các tiêu chí. Tại hội nghị ngày 16/9/2026, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Loan cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả phối hợp, chủ động xử lý những vướng mắc phát sinh, tạo điều kiện để các xã thực hiện tốt mục tiêu đề ra.
Chặng đường về đích trong năm 2026 vẫn còn nhiều việc phải làm, song những kết quả đã tích lũy trong quá trình xây dựng NTM cùng sự đồng lòng của người dân là nền tảng để 15 xã tiếp tục tăng tốc. Từ những công trình được hoàn thiện đến những đổi thay trong sản xuất, cảnh quan và đời sống thường ngày, mỗi kết quả đạt được sẽ góp phần tạo nên diện mạo nông thôn khang trang hơn, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, hướng tới mục tiêu xây dựng những miền quê phát triển bền vững.
Tùng Chi
Từ tinh thần gương mẫu của đảng viên đến những đổi thay ở Yên Mô
BTĐKT - Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới (NTM), xã Yên Mô (tỉnh Ninh Bình) đã xác định đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò dẫn dắt và tạo sức lan tỏa trong cộng đồng. Với tinh thần trách nhiệm cao và ý thức tiên phong, gương mẫu, đội ngũ đảng viên ở các chi bộ cơ sở đã góp phần quan trọng vào việc đổi mới diện mạo nông thôn, củng cố niềm tin của nhân dân và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển rộng khắp trên địa bàn. Tuyến đường giao thông trên địa bàn xã Yên Mô được đầu tư khang trang, sạch đẹp Thực tế tại thôn 4 cho thấy rõ dấu ấn nổi bật của phong trào thi đua này. Những tuyến đường bê tông sạch đẹp trải dài giữa hàng cau, hàng hoa rực rỡ; hệ thống điện chiếu sáng thắp sáng các ngõ xóm; người dân thường xuyên vệ sinh môi trường, chăm chút từng bồn cây, bãi cỏ… Tất cả tạo nên không gian sống trong lành, văn minh, thể hiện kết quả của sự đồng thuận và sức mạnh đoàn kết giữa cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng chí Nguyễn Thị Huê, Bí thư Chi bộ thôn 4, cho biết: Chi bộ hiện có 35 đảng viên, trong đó nhiều đồng chí tuổi đã cao nhưng vẫn phát huy tinh thần trách nhiệm, luôn nêu gương trong mọi phong trào của địa phương đặc biệt là phong trào xây dựng NTM. Khi thôn 4 xây dựng nhà văn hóa, mỗi khẩu đóng góp 300 nghìn đồng, đảng viên tự nguyện ủng hộ 500 nghìn đồng hoặc hơn; khi làm đường điện, đảng viên trong chi bộ đóng 1 triệu đồng/khẩu và còn vận động con cháu cùng tham gia… Không chỉ đóng góp vật chất, hằng tháng đảng viên và nhân dân cùng tham gia vệ sinh môi trường, cắt tỉa cây xanh, giữ gìn cảnh quan chung. Chính sự gương mẫu đó đã tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, giúp thôn huy động gần 300 triệu đồng tiền mặt cùng hàng trăm ngày công lao động, hoàn thành toàn bộ các tiêu chí NTM kiểu mẫu vào năm 2022. Tại xã Yên Mô, các tiêu chí khó như giao thông và nhà văn hóa đòi hỏi sự đồng thuận lớn từ nhân dân. Cán bộ, đảng viên đã gương mẫu đi đầu trong giải phóng mặt bằng, hiến đất làm đường, ủng hộ kinh phí và tham gia ngày công. Sự tiên phong đó tạo niềm tin cho quần chúng và lan tỏa mạnh mẽ phong trào NTM trên toàn địa bàn. Đến nay, hệ thống giao thông của xã cơ bản đã được bê tông hóa, cứng hóa; các tuyến đường nội đồng được kiên cố, thuận tiện cho sản xuất và đi lại. 100% thôn, xóm có nhà văn hóa khang trang, đầy đủ trang thiết bị như bàn ghế, tivi, tủ sách, dụng cụ thể dục - thể thao. Cùng với đó, nhiều hoạt động văn hóa - văn nghệ phát triển mạnh, tiêu biểu là 4 CLB hát chèo, xẩm; 66 đội văn nghệ, dân vũ; 16 CLB bóng chuyền hơi và 2 CLB cầu lông, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân. Bên cạnh lĩnh vực xây dựng hạ tầng, phong trào phát triển kinh tế cũng nhận được sự tham gia tích cực của các đảng viên. Nhiều mô hình kinh tế do đảng viên làm chủ đã mang lại hiệu quả cao, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm tại chỗ cho người dân. Toàn xã hiện có 123 doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong các lĩnh vực may mặc, xây dựng, vận tải, cung ứng vật liệu xây dựng… Trong đó, nhiều doanh nghiệp do đảng viên thành lập và điều hành đã tạo sức lan tỏa tích cực, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh ổn định. Tiêu biểu là mô hình của Hợp tác xã (HTX) làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Yên Thượng. Xuất phát từ tiềm năng làng nghề truyền thống, HTX đã sản xuất các sản phẩm như giỏ đựng, đồ trang trí, ghế ngồi… từ nguyên liệu tự nhiên như bèo bồng, cói, rơm rạ. Mỗi tháng, HTX cung ứng 2.000 - 3.000 sản phẩm ra thị trường, doanh thu đạt khoảng 200 triệu đồng; tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động địa phương. Sản phẩm của HTX đã xuất khẩu sang các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Theo đồng chí Trịnh Văn Hưng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Yên Mô, xã được thành lập trên cơ sở hợp nhất thị trấn Yên Thịnh, xã Khánh Dương và xã Yên Hòa. Sau sáp nhập, Đảng bộ xã có 93 đảng bộ, chi bộ trực thuộc với 2.413 đảng viên. Những năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn tiên phong trong triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời là lực lượng nòng cốt trong phong trào xây dựng NTM. Nhờ đó, tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm đạt trên 80%, trong đó 13% - 20% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Giai đoạn 2020 - 2025, Yên Mô đạt nhiều kết quả nổi bật: Thị trấn Yên Thịnh được công nhận đạt chuẩn đô thị loại V, đô thị văn minh; xã Khánh Dương đạt chuẩn NTM nâng cao; xã Yên Hòa đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; 15 thôn, xóm đạt khu dân cư NTM kiểu mẫu. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới. Tùng ChiXã Giao Phúc (tỉnh Ninh Bình) bứt phá trong xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu
BTĐKT - Từ nền tảng vững chắc của 3 xã Giao Hải, Giao Xuân, Giao Hà trước sáp nhập, xã Giao Phúc (tỉnh Ninh Bình) nhanh chóng khẳng định vị thế một đơn vị hành chính trẻ năng động, giàu tiềm năng và khát vọng phát triển. Thành công trong xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu đã tạo nên diện mạo mới cho vùng quê biển, đồng thời hun đúc tinh thần đoàn kết, thi đua sôi nổi trong nhân dân – động lực quan trọng để địa phương tiếp tục bứt phá trong giai đoạn mới. Nền tảng vững chắc từ một đơn vị hành chính trẻ Với diện tích 19,47 km², dân số gần 30 nghìn người, sở hữu 4,6 km bờ biển cùng hệ thống làng nghề, nông nghiệp, nuôi trồng - khai thác thủy sản và 1 khu công nghiệp, 2 cụm công nghiệp đang triển khai, Giao Phúc hội tụ đầy đủ điều kiện để bứt phá mạnh mẽ trong tiến trình xây dựng nông thôn mới (NTM). Diện mạo nông thôn xã Giao Phúc ngày càng “sáng - xanh - sạch - đẹp” Ngay từ trước khi sáp nhập, 3 xã Giao Hải, Giao Xuân, Giao Hà đã được xác định là những địa phương đi đầu trong phong trào xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Bằng quyết tâm cao và cách triển khai đồng bộ, linh hoạt, cả 3 xã đều sớm hoàn thành các tiêu chí NTM kiểu mẫu; trong đó, 2 xã nổi trội về văn hoá, 1 xã dẫn đầu về chuyển đổi số; 100% xóm đạt xóm NTM kiểu mẫu. Những kết quả đó tạo nền tảng bền vững, giúp xã Giao Phúc ngay khi thành lập đã bước vào giai đoạn phát triển mới với tâm thế tự tin và nền móng vững chắc. Diện mạo nông thôn ở vùng biển trẻ ngày càng “sáng - xanh - sạch - đẹp”; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên; kinh tế nông thôn tăng trưởng khá; quốc phòng - an ninh được giữ vững; niềm tin của người dân vào cấp ủy, chính quyền ngày càng củng cố. Động lực từ sự đồng thuận và thi đua trong nhân dân Xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ xuyên suốt, không có điểm dừng, Đảng bộ xã Giao Phúc tiếp tục kế thừa thành quả đã đạt được, đồng thời triển khai các giải pháp giữ vững và nâng cao chất lượng tiêu chí NTM kiểu mẫu ở quy mô đơn vị hành chính mới. Ông Phạm Văn Thoa, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Giao Phúc chia sẻ: Từ thực tiễn triển khai, xã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị, trong đó yếu tố quyết định là sự lãnh đạo quyết liệt, sáng tạo của cấp ủy; sự vào cuộc đầy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; đặc biệt là sự đồng thuận và tham gia chủ động của người dân. Giao Phúc luôn quán triệt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân muốn làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, lấy lợi ích của người dân làm trung tâm của mọi chương trình, chính sách. Cùng với đó, xã đã huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội hóa, trong đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn. Việc gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với văn hoá - xã hội, bảo tồn bản sắc truyền thống và đảm bảo an ninh, trật tự đã giúp Giao Phúc giữ được nét đẹp một miền quê biển an toàn, thân thiện, văn minh. Đặc biệt, phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” lan tỏa sâu rộng, trở thành nếp nghĩ, cách làm thường xuyên trong đời sống cộng đồng. Mỗi tuyến đường bê tông hoá, mỗi xóm xanh - sạch - đẹp đều in dấu sự chung tay của người dân. Từ phong trào xuất hiện nhiều gương người tốt, việc tốt, nhiều điển hình dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung - một nguồn lực vô giá giúp Giao Phúc tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Hướng tới xã nông thôn mới kiểu mẫu toàn diện Bước vào nhiệm kỳ 2025 - 2030, Đại hội Đảng bộ xã Giao Phúc lần thứ I xác định mục tiêu: “Xây dựng Giao Phúc trở thành địa phương phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị và giàu bản sắc lịch sử - văn hóa, văn minh, hiện đại.” Để hiện thực hoá mục tiêu này, xã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm: Rà soát, giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM kiểu mẫu, trong đó chú trọng các tiêu chí về thu nhập, cảnh quan - môi trường, văn hóa - xã hội và chất lượng hệ thống chính trị. Đầu tư hạ tầng đồng bộ, hiện đại, tăng cường thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh, bền vững. Đẩy mạnh công tác dân vận, tuyên truyền, tạo sự thống nhất và đồng lòng trong nhân dân. Gìn giữ bản sắc văn hoá địa phương, xây dựng môi trường sống sáng - xanh - sạch - đẹp - an toàn. Tăng cường quốc phòng - an ninh, cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Phát động mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước, kịp thời khen thưởng, biểu dương điển hình tiên tiến để tạo động lực lan tỏa sâu rộng. Với nền tảng vững chắc, tinh thần đoàn kết và khát vọng vươn lên, Giao Phúc đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành địa phương NTM kiểu mẫu toàn diện - một vùng quê biển trẻ trung, giàu bản sắc, hiện đại và phát triển bền vững. Minh PhươngBTĐKT - Từ khát vọng vươn lên trên vùng đất khó, mô hình HTX Nông nghiệp Tân Thành (phường Bắc Kạn, tỉnh Thái Nguyên) do chị Nguyễn Thị Hồng Minh sáng lập đã trở thành điểm sáng trong phong trào xây dựng nông thôn mới (NTM) ở Thái Nguyên. Khai thác hiệu quả cây nghệ hữu cơ, HTX không chỉ tạo sinh kế ổn định cho hàng trăm hộ dân mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập và lan tỏa tinh thần đoàn kết, đổi mới trong cộng đồng vùng cao.
Từ khát vọng thoát nghèo đến mô hình kinh tế tập thể kiểu mới
Sống nơi có 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chị Minh hiểu hơn ai hết nỗi vất vả của người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà cuộc sống vẫn chật vật. Với quyết tâm thay đổi tư duy sản xuất và tìm hướng đi mới cho quê hương, năm 2017, chị cùng chồng mạnh dạn thành lập HTX Nông nghiệp Tân Thành với vỏn vẹn 10 thành viên ban đầu.
Đóng gói sản phẩm tại HTX Nông nghiệp Tân Thành
Từ những bước đi đầu tiên đầy khó khăn, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật và thị trường, chị Minh đã từng bước xây dựng chiến lược phát triển bài bản: Hình thành vùng trồng nghệ hữu cơ, đầu tư máy móc chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương. Không chỉ dừng ở việc làm kinh tế, chị hướng tới mục tiêu cao hơn đó là tạo công ăn việc làm, ổn định thu nhập cho người dân, nhất là các hộ nghèo, cận nghèo trong khu vực.
Đến nay, HTX Nông nghiệp Tân Thành đã phát triển lên 428 thành viên, trong đó hơn 60% là hộ nghèo hoặc mới thoát nghèo, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Mô hình này không chỉ góp phần thay đổi nhận thức của người dân về kinh tế tập thể mà còn khẳng định vai trò của HTX trong xây dựng NTM, phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Phát huy lợi thế cây nghệ, nâng tầm thương hiệu nông sản địa phương
Từ diện tích trồng ban đầu chỉ vài héc-ta, HTX Nông nghiệp Tân Thành hiện đã phát triển vùng nguyên liệu nghệ hữu cơ hơn 135 ha, với sản lượng hàng năm đạt từ 5.000 đến 7.000 tấn nghệ tươi. Cây nghệ vốn là loại cây trồng quen thuộc được chị Minh và các thành viên HTX đưa vào sản xuất theo quy trình hữu cơ, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Không chỉ dừng lại ở khâu trồng trọt, HTX đã đầu tư dây chuyền chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng, hình thành hơn 20 sản phẩm đa dạng như tinh bột nghệ nếp đỏ, tinh bột nghệ nếp đen cao cấp, viên tinh nghệ mật ong, nghệ lát sấy, bột gừng, bột quế, trám đen, măng khô… Trong đó, hai sản phẩm tinh bột nghệ nếp đỏ và tinh bột nghệ nếp đen cao cấp đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao, trở thành sản phẩm tiêu biểu của tỉnh.
Nhờ hướng đi bài bản và chú trọng chất lượng, sản phẩm của HTX đã từng bước chinh phục các thị trường khó tính, mở rộng tiêu thụ ra nhiều tỉnh, thành trong nước. Không ít doanh nghiệp, hợp tác xã khác trong và ngoài tỉnh đã tìm đến Tân Thành để học tập kinh nghiệm sản xuất, chế biến và quản lý.
Chỉ trong giai đoạn 2020 - 2025, HTX Nông nghiệp Tân Thành đã được các cấp, ngành ghi nhận với 18 bằng khen và nhiều danh hiệu cao quý: HTX tiêu biểu toàn quốc, Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam, Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia, cùng Giải thưởng “Mai An Tiêm” dành cho sản phẩm nông nghiệp sáng tạo.
Thành công đó là kết quả của tinh thần đoàn kết, sáng tạo và nỗ lực không ngừng của toàn thể thành viên HTX. Đặc biệt, mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho 72 lao động địa phương, liên kết với hàng trăm hộ dân để bao tiêu sản phẩm với mức thu nhập bình quân 7 triệu đồng/người/tháng, cao hơn nhiều so với mặt bằng khu vực miền núi.
Chia sẻ về thành công này, chị Minh cho biết: Đi lên từ gian khó, chúng tôi hiểu người dân rất cần một đầu ra ổn định. Vì vậy, ngay từ khi thành lập, mục tiêu của HTX không chỉ là phát triển kinh tế, mà còn là tạo điều kiện để người dân yên tâm sản xuất, từng bước vươn lên thoát nghèo. Thành công hôm nay có được là nhờ sự đồng lòng của tập thể và sự quan tâm, hỗ trợ của chính quyền các cấp.
Kinh tế gắn với trách nhiệm cộng đồng
Song song với nhiệm vụ sản xuất, HTX Nông nghiệp Tân Thành còn là đơn vị tích cực tham gia các hoạt động xã hội, nhân đạo. Hàng năm, HTX đóng góp Quỹ Vì người nghèo, hỗ trợ đồng bào vùng thiên tai, tham gia xây dựng đường giao thông nông thôn và các công trình phúc lợi tại địa phương. Những hành động đó thể hiện rõ tinh thần “doanh nghiệp vì cộng đồng”, góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Nhờ định hướng đúng đắn, HTX Nông nghiệp Tân Thành đã trở thành mô hình điểm trong phát triển kinh tế tập thể gắn với phong trào xây dựng NTM của địa phương. Đây không chỉ là mô hình sản xuất - kinh doanh hiệu quả, mà còn là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, sáng tạo, dám nghĩ dám làm của người nông dân Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Tùng Chi
Lan tỏa tinh thần đoàn kết trong phong trào “30 ngày đêm chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”
BTĐKT - Hưởng ứng đợt thi đua cao điểm “30 ngày đêm chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thái Nguyên phát động, thời gian qua, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã đồng loạt triển khai nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực. Những việc làm đó không chỉ giúp đỡ kịp thời các hộ nghèo, gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn ổn định chỗ ở, mà còn lan tỏa sâu rộng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy công cuộc giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Hộ gia đình ông La Quang Trịnh nhận số tiền hỗ trợ làm nhà của Hội Nông dân phường Bắc Kạn Với phương châm hành động “Ở đâu khó, ở đó có nông dân”, cán bộ, hội viên nông dân toàn tỉnh đã phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tham gia vào mọi khâu của phong trào: Từ vận động nguồn lực, quyên góp vật chất, hỗ trợ ngày công, đến trực tiếp tham gia giám sát và giúp đỡ các hộ gia đình trong quá trình xây dựng nhà ở. Những tấm lòng nghĩa tình, những việc làm cụ thể ấy đã góp phần dựng lên hàng trăm mái ấm mới, nơi người nghèo an cư để yên tâm lao động sản xuất, vươn lên trong cuộc sống. Nhiều mô hình, cách làm hay, hiệu quả rõ rệt từ cơ sở Hưởng ứng mạnh mẽ phong trào thi đua, các cấp Hội Nông dân trên toàn tỉnh đã triển khai nhiều mô hình, cách làm linh hoạt, phù hợp với điều kiện từng địa phương. Tại phường Bắc Kạn, cán bộ, hội viên Hội Nông dân đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể vận động được gần 100 ngày công lao động, giúp đỡ các hộ có hoàn cảnh khó khăn san nền, vận chuyển vật liệu, tạo mặt bằng để dựng nhà. Song song với đó, Hội còn phối hợp với chi bộ, tổ dân phố, Ban công tác Mặt trận phát động phong trào quyên góp trong cán bộ, hội viên và nhân dân, quyên được hơn 9 triệu đồng hỗ trợ gia đình ông La Quang Trịnh, con liệt sĩ, trú tại tổ 14 làm nhà mới. Những hành động tuy giản dị nhưng thấm đẫm tinh thần nhân văn, thể hiện sâu sắc tình làng nghĩa xóm, trách nhiệm cộng đồng, đồng thời khẳng định vai trò của tổ chức Hội Nông dân như một cầu nối gắn bó giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Từ đó, phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát trở thành một cuộc vận động rộng lớn, được toàn thể nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tại nhiều xã vùng sâu, vùng xa, không khí thi đua sôi nổi đang lan tỏa mạnh mẽ. Ở mỗi địa phương, cán bộ, hội viên nông dân đều trực tiếp xuống cơ sở, “ba cùng” với người dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để vừa hỗ trợ kỹ thuật, vừa động viên tinh thần. Nhiều hộ nghèo đã khởi công xây dựng, nhiều căn nhà đang được gấp rút hoàn thiện, sẵn sàng bàn giao đưa vào sử dụng trong thời gian tới. Sự hiện diện của cán bộ Hội Nông dân tại các công trình không chỉ là sự hỗ trợ về nhân lực, vật lực mà còn là nguồn động viên to lớn về tinh thần, giúp người dân thêm vững tin, vượt qua khó khăn, từng bước ổn định cuộc sống. Ở đâu có công trình xóa nhà tạm, ở đó có bóng dáng người cán bộ cần mẫn, trách nhiệm và giàu lòng nhân ái. Góp phần xây dựng nông thôn mới, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Phong trào “30 ngày đêm chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” đã trở thành một hoạt động chính trị - xã hội quan trọng, thể hiện rõ vai trò, vị thế của Hội Nông dân các cấp trong hệ thống chính trị. Qua mỗi ngôi nhà được xây mới, sửa chữa, niềm tin của người dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước lại được củng cố thêm; tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng ngày càng được nhân lên. Thực tế cho thấy, từ phong trào này, nhiều mô hình hỗ trợ, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng được hình thành và nhân rộng. Bên cạnh việc hỗ trợ chỗ ở, các cấp Hội Nông dân còn tiếp tục đồng hành cùng hội viên trong sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giới thiệu việc làm, kết nối tiêu thụ sản phẩm… tạo thành chuỗi hoạt động đồng bộ, bền vững trong công tác an sinh xã hội. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và tình người lan tỏa, Hội Nông dân các cấp tỉnh Thái Nguyên đang ngày càng khẳng định vị thế là tổ chức chính trị xã hội trung thành, tin cậy của giai cấp nông dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Những “mái ấm nghĩa tình” được dựng lên từ phong trào là biểu tượng sinh động của tinh thần tương thân tương ái, của khát vọng vươn lên, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Trong thời gian tới, Hội Nông dân tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội, huy động sức dân, sức tổ chức để hoàn thành mục tiêu xóa toàn bộ nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025, góp phần thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu tại Thái Nguyên. Tuệ MinhBTĐKT - Ngày 18/10, Đại hội Thi đua yêu nước TP Hải Phòng lần thứ nhất được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Hội nghị - Biểu diễn thành phố. Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương dự và chỉ đạo đại hội.
Dự đại hội có: Đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng; Lê Ngọc Châu, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố; các đồng chí lãnh đạo thành phố, lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động các thời kỳ cùng hàng trăm điển hình tiên tiến, tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020 - 2025.
Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân trao tặng Cờ thi đua của Chính phủ cho TP Hải Phòng
5 năm qua, thực hiện các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ và địa phương phát động, thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương trước đây đã thống nhất nhận thức, đưa phong trào thi đua yêu nước trở thành việc làm thường xuyên và thiết thực trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhờ đó, sức mạnh của cả hệ thống chính trị được phát huy, tạo sự đồng thuận cao trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Nhờ triển khai sâu rộng, sáng tạo và hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, giai đoạn 2020 - 2025, thành phố đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của Hải Phòng đạt 11,39%, duy trì mức tăng trưởng hai con số trong 10 năm liên tiếp, gấp 1,8 lần bình quân cả nước; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng liên tục, 4 năm liền vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hải Dương đạt 9,8%, các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khẳng định vị thế vùng kinh tế động lực phía Bắc...
Phát biểu chỉ đạo đại hội, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân nhấn mạnh: Những kết quả đáng tự hào mà Hải Phòng đạt được thời gian qua là thành quả của sự đoàn kết, nỗ lực chung của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố, trong đó phong trào thi đua yêu nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Đề cập mục tiêu đến năm 2030, thành phố Hải Phòng trở thành thành phố cảng biển công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái, đáng sống, tầm cỡ khu vực Đông Nam Á, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cho rằng Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Hải Phòng cần phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo; chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế; trong đó công tác thi đua, khen thưởng chính là một động lực quan trọng khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý chí vươn lên và sức mạnh đoàn kết toàn dân, gắn chặt với quá trình phát triển của thành phố.
Hải Phòng cần đổi mới mạnh mẽ công tác thi đua khen thưởng phù hợp với tình hình mới; khắc phục cho được những hạn chế, bất cập của công tác thi đua, khen thưởng thời gian qua, đặc biệt là tính hình thức. Phong trào thi đua phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn từ nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn, từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân và phù hợp với xu thế của thời đại.
Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Tiến Châu phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn thành phố giai đoạn 2025 - 2030
Tại đại hội, thay mặt lãnh đạo thành phố, đồng chí Bí thư Thành ủy Lê Tiến Châu đã phát động phong trào thi đua yêu nước trên toàn địa bàn TP Hải Phòng với chủ đề: Phát huy truyền thống thành phố Cảng anh hùng – xứ Đông văn hiến, thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 - 2030 với khẩu hiệu hành động là: “Đoàn kết - Dân chủ - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Tại đại hội, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân trao Cờ thi đua của Chính phủ cho TP Hải Phòng.
Dịp này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hải Phòng quyết định tặng Bằng khen cho 47 tập thể và 82 cá nhân có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong các phong trào thi đua yêu nước, 51 doanh nghiệp tiêu biểu và hộ gia đình có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố.
Nguyệt Hà

















