Phong trào thi đua

Khuyến học ở Ninh Bình: Chung tay tiếp sức học sinh vượt khó

BTĐKT - Từ những suất học bổng, chiếc xe đạp đến các chương trình hỗ trợ dài hạn, công tác khuyến học, khuyến tài ở Ninh Bình đang huy động ngày càng hiệu quả nguồn lực xã hội. Sự chung tay của các tổ chức, doanh nghiệp và nhà hảo tâm đã tiếp thêm cơ hội học tập cho hàng nghìn học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Kết nối nguồn lực, mở rộng cơ hội học tập Những ngày đầu năm học 2026 - 2027, Hội Khuyến học tỉnh phối hợp với các nhà tài trợ tổ chức nhiều chương trình trao học bổng cho học sinh mồ côi, học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Cùng với đó là hàng trăm suất quà bằng hiện vật, gồm xe đạp và ba lô, trị giá hàng trăm triệu đồng. Đây là hoạt động tiếp nối sự đồng hành của các cấp Hội, tổ chức, doanh nghiệp và nhà hảo tâm trong nhiều năm qua, góp phần giúp học sinh có thêm điều kiện đến trường. Theo Hội Khuyến học tỉnh, trong 5 năm qua, quỹ khuyến học các cấp trong tỉnh đã vận động, xây dựng gần 500 tỷ đồng. Từ nguồn lực này, các cấp Hội đã trao 1.678.841 suất học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh mồ côi, khuyết tật có thành tích học tập tốt; khen thưởng học sinh đạt giải quốc gia, quốc tế; hỗ trợ giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi, người tự học thành tài và trao cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho nhiều trường học. Lãnh đạo Hội Khuyến học tỉnh và đại diện nhà tài trợ trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đợt 1, năm 2026 Đáng chú ý, việc vận động nguồn lực không chỉ dừng lại ở đóng góp vào các quỹ chung mà ngày càng được triển khai thông qua những chương trình cụ thể, có địa chỉ và đối tượng thụ hưởng rõ ràng. Qua đó, Hội từng bước kết nối nhà tài trợ với người học, doanh nghiệp với nhà trường, các tổ chức xã hội với những hoàn cảnh cần được giúp đỡ. Tiêu biểu, trong 5 năm qua, Chương trình “Sóng và máy tính cho em” đã vận động, trao tặng 1.282 máy tính các loại, tổng trị giá hơn 3,5 tỷ đồng. Học bổng “Địa chỉ đỏ - Tấm lòng vàng” trao 8.182 suất, với số tiền trên 7 tỷ đồng. Chương trình “Học bổng cùng em vượt khó đến trường” có sự tham gia của 662 lượt đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và 240 lượt cá nhân, đã hỗ trợ 1.887 lượt học sinh… Không ít chương trình còn duy trì sự đồng hành trong nhiều năm, tạo nguồn hỗ trợ ổn định cho người học. Hội phối hợp với tổ chức XPFoundation tài trợ 620 suất học bổng “XP - cùng em vượt khó đến trường”, với tổng số tiền 1,82 tỷ đồng trong 6 năm; phối hợp với Công ty Xi măng Long Sơn trao 794 suất học bổng, với tổng số tiền trên 4 tỷ đồng; phối hợp với Quỹ châu Á và các nhà tài trợ trao 1.350 suất học bổng “Học không bao giờ cùng” theo thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2025 - 2028, tổng số tiền 1,35 tỷ đồng; phối hợp với Tập đoàn Tân Hiệp Phát trao 500 suất học bổng, tổng số tiền trên 500 triệu đồng… Riêng 9 tháng đầu năm 2026, các cấp Hội từ tỉnh đến cơ sở, chi hội và dòng họ đã huy động, dành tổng kinh phí hơn 11 tỷ đồng để trao học bổng, khen thưởng cho 32.548 lượt học sinh. Trong đó, ở cấp tỉnh, từ nguồn Quỹ “Học tập suốt đời”, Hội đã trao gần 900 triệu đồng cho 753 học sinh mồ côi, học sinh nghèo vượt khó và 80 nữ sinh THPT có hoàn cảnh khó khăn. Cùng với nguồn quỹ của Hội, sự phối hợp của các doanh nghiệp, tổ chức tiếp tục mang đến nhiều suất hỗ trợ thiết thực. Hội phối hợp với Công ty Bảo Việt Nhân thọ tỉnh trao 100 suất quà gồm xe đạp và ba lô, trị giá 255 triệu đồng; phối hợp với Công ty Xi măng Long Sơn trao 190 suất học bổng, tổng số tiền 1,9 tỷ đồng; phối hợp với Chương trình XP trao 120 suất học bổng, tổng số tiền 180 triệu đồng. Bên cạnh những chương trình trao tặng tập trung, Hội còn quan tâm đến các trường hợp đặc biệt cần được hỗ trợ lâu dài. Mới đây, Tỉnh Hội đã quyết định trợ cấp tổng số tiền 4,5 triệu đồng (500 nghìn đồng/tháng) trong năm học cho trường hợp một học sinh có mẹ không may qua đời do bị sét đánh. Sự hỗ trợ tuy không lớn về vật chất nhưng có ý nghĩa thiết thực, giúp em vơi bớt khó khăn, tiếp tục việc học. Ở cấp cơ sở, các Hội Khuyến học xã, phường, chi hội và dòng họ cũng đồng loạt tổ chức nhiều hoạt động “tiếp sức đến trường”, trao tặng 31.795 suất học bổng, phần thưởng và đồ dùng học tập, tổng trị giá trên 10 tỷ đồng. Với mạng lưới khuyến học rộng khắp, nguồn lực được huy động từ nhiều phía, từ gia đình, dòng họ, khu dân cư đến doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mỗi sự đóng góp, dù bằng tiền, hiện vật hay sự đồng hành lâu dài, đều góp phần tạo thêm điều kiện học tập cho những học sinh còn nhiều thiếu thốn. Phát huy vai trò quỹ khuyến học từ cơ sở Không chỉ tập trung vận động nguồn lực ở cấp tỉnh, việc xây dựng và phát triển các quỹ khuyến học tại cơ sở cũng đang được quan tâm. Những mô hình quỹ do cộng đồng chung tay thành lập góp phần đưa hoạt động khuyến học đến gần hơn với từng gia đình, dòng họ và học sinh. Một trong những dấu ấn đáng chú ý trong tháng 10/2026 là sự ra mắt Quỹ Khuyến học, khuyến tài Bùi Văn Bàn tại xã Gia Phong. Sự ra đời của Quỹ Khuyến học, khuyến tài Bùi Văn Bàn là một cách làm cụ thể nhằm tập hợp sự đóng góp của cộng đồng cho sự nghiệp khuyến học, khuyến tài tại địa phương. Thông qua hoạt động của Quỹ, nguồn hỗ trợ có thêm điều kiện đến với học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sự sẻ chia của các tổ chức, cá nhân đối với thế hệ trẻ. Để những nguồn lực này được duy trì và phát huy hiệu quả, Hội Khuyến học tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục triển khai đồng bộ chương trình phối hợp giai đoạn 2026 - 2031, trong đó chú trọng công tác chăm lo người học, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội và hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Hội cũng tiếp tục vận động doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân và nhà hảo tâm hỗ trợ học bổng, sách vở, thiết bị học tập, xây dựng trường lớp; gắn việc trao học bổng với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Cùng với đó, các cấp Hội chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và đối tượng trao học bổng, quan tâm sớm tới học sinh nghèo, học sinh mồ côi có nguy cơ bỏ học, với mục tiêu quan trọng là duy trì cơ hội học tập cho người yếu thế. Từ những chương trình quy mô lớn đến các quỹ khuyến học ở từng địa phương, điểm chung trong các hoạt động là sự chung tay của cộng đồng để không học sinh nào phải từ bỏ việc học chỉ vì hoàn cảnh khó khăn. Đây cũng là nền tảng để Ninh Bình tiếp tục huy động nguồn lực xã hội, phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập ngày càng bền vững. Tùng Chi  

Ninh Bình đặt mục tiêu xây dựng ít nhất 20 mô hình “Dân vận khéo” cấp tỉnh mỗi năm

BTĐKT - Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Ninh Bình tập trung xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình “Dân vận khéo” gắn với nhiệm vụ chính trị và những vấn đề trọng tâm của địa phương. Qua đó, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo sự đồng thuận trong thực hiện các mục tiêu phát triển của tỉnh. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình vừa ban hành Kế hoạch số 139-KH/TU ngày 27/10/2026 về triển khai, thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể, trong đó đáng chú ý là hằng năm lựa chọn xây dựng ít nhất 20 mô hình điểm cấp tỉnh, phấn đấu ít nhất 70% số mô hình đăng ký hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng. Xây dựng mô hình dân vận gắn với nhiệm vụ chính trị Phong trào thi đua “Dân vận khéo” giai đoạn 2026 - 2030 được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Trọng tâm là phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các nguồn lực xã hội và trong nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Theo kế hoạch, 100% đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy phải xây dựng kế hoạch thực hiện phong trào, hoàn thành trong tháng 11/2026; hằng năm đăng ký xây dựng mô hình “Dân vận khéo” phù hợp với nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong đó, đảng ủy các xã, phường đăng ký ít nhất 2 mô hình tập thể và 1 mô hình cá nhân. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh chỉ đạo mỗi tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh đăng ký ít nhất 2 mô hình tập thể và 1 mô hình cá nhân. Tỉnh phấn đấu ít nhất 70% số mô hình đã đăng ký hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích cụ thể cho cộng đồng; trên 50% số mô hình được duy trì và trên 10% số mô hình được nhân rộng sau khi được công nhận. Cùng với việc xây dựng ít nhất 20 mô hình điểm cấp tỉnh mỗi năm, Ninh Bình sẽ từng bước hình thành cơ sở dữ liệu số để cập nhật, quản lý thông tin về các mô hình “Dân vận khéo”. Các mô hình được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát huy những cách làm hiệu quả của giai đoạn trước, đồng thời tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm, cấp thiết của tỉnh. Trong đó, chú trọng công tác giải phóng mặt bằng, triển khai các dự án trọng điểm, hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và giải quyết khiếu nại, kiến nghị của nhân dân. Trên lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phong trào tập trung vận động, huy động nguồn lực xã hội nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển trang trại, làng nghề và các chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong lao động, sản xuất và đời sống; nâng cao kỹ năng số, ý thức bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, các mô hình dân vận hướng tới xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy tinh thần yêu nước, ý thức tự học, tự rèn luyện và trách nhiệm cộng đồng. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng được phát huy vai trò trong huy động nguồn lực chăm lo người có công, đối tượng chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật và trẻ em mồ côi; hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống. Lấy sự đồng thuận và hài lòng của nhân dân làm thước đo Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Ninh Bình chú trọng xây dựng các mô hình phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trong đó, đề cao quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường giám sát, phản biện xã hội và đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu với nhân dân, doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Việc triển khai phong trào tiếp tục thực hiện theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với kết quả cụ thể, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền. Đây cũng là những yêu cầu quan trọng trong xây dựng, đánh giá và công nhận các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”. Theo kế hoạch, việc bình xét, biểu dương, tôn vinh, khen thưởng phải đúng quy định, bảo đảm thiết thực, tránh hình thức, không chạy theo thành tích. Các mô hình mới, cách làm sáng tạo, những mô hình giải quyết việc khó, hoạt động tại địa bàn phức tạp được ưu tiên xem xét. Tập thể, cá nhân được công nhận phải có đóng góp tích cực, hiệu quả, được cộng đồng ghi nhận, gắn bó mật thiết với nhân dân và có khả năng duy trì, phát huy tác dụng bền vững. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh có trách nhiệm tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện phong trào; xây dựng tiêu chí đánh giá, tổ chức tập huấn nghiệp vụ, khảo sát và trao đổi kinh nghiệm. Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy chủ động xây dựng kế hoạch, đăng ký mô hình hằng năm, bố trí ngân sách và tổ chức đánh giá, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiêu biểu. Thông qua phong trào thi đua “Dân vận khéo”, Ninh Bình hướng tới xây dựng những mô hình có hiệu quả thực chất, xuất phát từ yêu cầu của cơ sở và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Việc duy trì, nhân rộng các mô hình tiêu biểu không chỉ góp phần nâng cao chất lượng công tác dân vận mà còn củng cố niềm tin, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, tạo nền tảng thực hiện mục tiêu đưa Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030. Nguyệt Hà  

Hải Phòng lan tỏa tinh thần học tập và thực hành theo Bác

BTĐKT - Từ những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây 80 năm, Hải Phòng đã không ngừng phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần năng động, sáng tạo trong chiến đấu, lao động và xây dựng thành phố. Ngày nay, việc học tập và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ thiết thực, gắn với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Khắc ghi lời Bác, phát huy truyền thống thành phố Cảng Chiều 20/10/1946, Hải Phòng vinh dự được thay mặt nhân dân cả nước đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về sau chuyến công tác ngoại giao tại Pháp. Đây là lần đầu tiên Người đến thăm thành phố. Từ năm 1946 đến năm 1965, Bác nhiều lần về thăm, làm việc với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Phòng, Hải Dương. Những địa danh như: Bến Ngự, Cát Bà, Kiến An, Ái Quốc, Nam Chính, Hồng Thái, Côn Sơn... vẫn lưu giữ những dấu ấn sâu đậm nét về tình cảm và sự quan tâm của Người đối với các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, tại cuộc mít tinh ngày 21/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi gắm niềm tin vào tinh thần đoàn kết, đồng lòng của người dân đất Cảng, mong muốn Hải Phòng trở thành thành phố gương mẫu. Lời căn dặn ấy đã trở thành nguồn động viên, là tài sản tinh thần quý báu được các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố gìn giữ, phát huy. Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP. Hải Phòng Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, quân và dân Hải Phòng đã kiên cường chiến đấu, lập nên nhiều chiến công như “Tiếng sấm đường 5”, “Sở Dầu, Cát Bi rực lửa”, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hải Phòng và Hải Dương vừa là hậu phương sản xuất, vừa là tuyến đầu chiến đấu, thực hiện trọn vẹn lời thề “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Những đóng góp to lớn ấy đã góp phần bồi đắp truyền thống “Trung dũng - Quyết thắng” của thành phố Cảng anh hùng. Ngày 28/4/2025, Hải Phòng vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý “Thành phố Anh hùng”. Bước vào thời kỳ đổi mới, tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm tiếp tục được phát huy trong lao động, sản xuất và phát triển kinh tế. Hải Phòng từng bước khẳng định vị thế là trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics quan trọng của khu vực phía Bắc và cả nước. Hệ thống cảng biển ngày càng hiện đại, trong đó Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 150.000 tấn. Thành phố cũng hội tụ đầy đủ 5 loại hình giao thông, tạo lợi thế nổi bật trong kết nối vùng và hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi lời căn dặn của Bác tại lần đến thăm công nhân, thủy thủ tàu HC.15 Cảng Hải Phòng ngày 30/5/1957, đó là: “TP Hải Phòng có hải cảng, hằng ngày có nhiều khách quốc tế, tiếp xúc với nhiều người trên thế giới”, “Cảng ta là cửa ngõ của miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Đưa việc học tập và thực hành theo Bác vào đời sống Qua nhiều giai đoạn, việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh tại Hải Phòng ngày càng trở thành hoạt động thường xuyên, tự giác của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, những tấm gương bình dị mà cao quý được phát hiện, biểu dương và nhân rộng. Tinh thần học tập và thực hành theo Bác không chỉ thể hiện trong ý thức tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cá nhân mà còn được cụ thể hóa trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, lao động sản xuất, chăm lo đời sống cộng đồng và phục vụ nhân dân. Sau khi Hải Phòng và Hải Dương hợp nhất từ ngày 1/7/2025, không gian phát triển mới mở ra nhiều cơ hội để thành phố kết nối, phát huy thế mạnh về công nghiệp, cảng biển, dịch vụ và nguồn nhân lực. Kinh tế thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. GRDP năm 2025 đạt 11,81%, đứng thứ hai cả nước; quy mô nền kinh tế đạt gần 30 tỷ USD, đứng thứ ba cả nước. Trong 9 tháng năm 2026, GRDP tăng 12,08%, mức cao nhất trong 6 năm qua; thu ngân sách nhà nước đạt gần 164.000 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ; thu hút hơn 3,6 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng 64% so với cùng kỳ. Cùng với phát triển kinh tế, thành phố chú trọng nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, cải thiện chất lượng giáo dục, y tế và xây dựng môi trường sống văn minh, hiện đại. Giai đoạn 2026 - 2030, Hải Phòng đặt mục tiêu hoàn thành khoảng 32.900 căn nhà ở xã hội, tiếp tục đầu tư cho các lĩnh vực thiết yếu, bảo đảm người dân được thụ hưởng những thành quả của quá trình phát triển. Việc học tập và thực hành theo Bác trong giai đoạn mới cũng được cụ thể hóa thông qua Kế hoạch số 81-KH/ĐU ngày 14/10/2026 của Đảng ủy UBND thành phố về thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 09-KH/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Điểm đáng chú ý là yêu cầu chuyển từ học tập và làm theo sang học tập và thực hành, gắn việc vận dụng tư tưởng, phương pháp của Bác với từng lĩnh vực công tác, nhiệm vụ cụ thể. Theo đó, việc thực hành tư tưởng và phương pháp làm việc của Bác được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với yêu cầu đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Các nội dung như cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn trong giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, xử lý các dự án tồn đọng, đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính đều được xác định là những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện. Cùng với đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân được chú trọng. Các tiêu chí về nêu gương, kỷ luật hành chính, văn hóa ứng xử và hiệu quả thực thi công vụ từng bước được cụ thể hóa. Công nghệ thông tin, học liệu số, bài giảng điện tử và sổ tay đảng viên trên môi trường số cũng được tăng cường ứng dụng, góp phần đổi mới phương thức học tập, sinh hoạt chi bộ và lan tỏa các giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đến đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, công nhân tại các khu công nghiệp. Đáng chú ý, việc biểu dương, nhân rộng những tập thể, cá nhân tiêu biểu tiếp tục tạo sức lan tỏa trong cộng đồng. Dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên về thăm Hải Phòng, thành phố đã biểu dương 75 tập thể và 94 cá nhân tiêu biểu trong 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị. Đây là những điển hình thể hiện sinh động tinh thần nêu gương, tận tụy trong công việc và trách nhiệm đối với cộng đồng. Từ những lời căn dặn của Bác năm xưa đến những hành động cụ thể trong hôm nay, việc học tập và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh đang trở thành động lực để Hải Phòng phát huy truyền thống “Đất Cảng anh hùng - Xứ Đông văn hiến”. Bằng việc gắn rèn luyện đạo đức, tác phong với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế và chăm lo đời sống nhân dân, thành phố tiếp tục vun đắp tinh thần đoàn kết, khơi dậy khát vọng cống hiến, hướng tới mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng, công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống. Bình Nguyên

Thái Nguyên: Phát huy truyền thống thi đua, khơi dậy khát vọng cống hiến

BTĐKT - Trải qua 195 năm hình thành và phát triển (1831 - 2026), Thái Nguyên không chỉ ghi dấu ấn bởi truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng mà còn được bồi đắp từ tinh thần đoàn kết, ý chí vượt khó và khát vọng cống hiến của các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân. Phát huy truyền thống ấy, các phong trào thi đua yêu nước ngày càng lan tỏa sâu rộng, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Truyền thống cách mạng - cội nguồn của tinh thần thi đua yêu nước Được thành lập năm 1831 dưới triều vua Minh Mạng, Thái Nguyên là vùng đất có bề dày lịch sử, giữ vị trí quan trọng trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Trải qua các giai đoạn đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, kiên cường, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Nguyên vinh dự được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn làm trung tâm An toàn khu (ATK) Việt Bắc - Thủ đô kháng chiến. Từ mảnh đất này, nhiều quyết sách chiến lược được ban hành, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ, với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Dấu ấn kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên Truyền thống cách mạng ấy được thể hiện sinh động qua tinh thần thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân. Trong các cuộc kháng chiến, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và người dân Thái Nguyên đã hăng hái tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Nhiều tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý; hàng vạn liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công đã cống hiến, hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Những thành tích, chiến công và sự cống hiến qua các thời kỳ đã tạo nên truyền thống vẻ vang, trở thành nguồn động lực tinh thần để các thế hệ hôm nay tiếp tục thi đua lao động, học tập, sáng tạo, xây dựng và bảo vệ quê hương. Không chỉ giàu truyền thống cách mạng, Thái Nguyên còn là nơi hội tụ bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mông... Tinh thần đoàn kết, cần cù, hiếu học, nghĩa tình cùng những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ chính là nền tảng quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sức mạnh nội sinh cho các phong trào thi đua yêu nước. Thi đua tạo động lực, góp phần làm nên diện mạo mới Bước vào thời kỳ đổi mới, phát huy truyền thống đoàn kết và tinh thần cách mạng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã không ngừng nỗ lực, đưa các phong trào thi đua gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu thực tiễn của địa phương. Từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đến xây dựng nông thôn mới, cải cách hành chính, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh, tinh thần thi đua đã góp phần khơi dậy trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và mỗi người dân. Trên lĩnh vực kinh tế, những nỗ lực thi đua đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển, đưa Thái Nguyên trở thành một trong những trung tâm công nghiệp điện tử, chế biến, chế tạo lớn của cả nước. Hoạt động thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài được đẩy mạnh, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Trong lĩnh vực nông nghiệp, tinh thần thi đua lao động sản xuất, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới phương thức canh tác đã thúc đẩy chuyển dịch theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng. Thương hiệu chè Thái Nguyên tiếp tục được khẳng định trên thị trường trong nước và quốc tế; nhiều sản phẩm OCOP được đón nhận, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Phong trào thi đua “Thái Nguyên chung sức xây dựng nông thôn mới” tạo chuyển biến tích cực trong phát triển hạ tầng, cải thiện cảnh quan và nâng cao chất lượng đời sống ở khu vực nông thôn. Trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, các hoạt động thi đua gắn với nâng cao chất lượng thực thi công vụ, cải cách hành chính, chuyển đổi số từng bước tạo chuyển biến trong phương thức quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo, đội ngũ nhà giáo và người học không ngừng nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học, tiếp tục khẳng định vị thế của Thái Nguyên là trung tâm giáo dục lớn của khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Cùng với đó, các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, y tế và an sinh xã hội có nhiều chuyển biến. Việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội đều là những nhiệm vụ được triển khai gắn với tinh thần trách nhiệm, thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân. Đằng sau những thành tựu đó là sự đóng góp của nhiều tập thể, cá nhân trên các lĩnh vực. Từ những cán bộ tận tụy với công việc, công nhân sáng tạo trong lao động sản xuất, nông dân mạnh dạn đổi mới phương thức canh tác đến những nhà giáo, thầy thuốc, chiến sĩ lực lượng vũ trang và những người dân bình dị có nhiều việc làm ý nghĩa vì cộng đồng, mỗi người đều góp phần tạo nên sức sống cho các phong trào thi đua yêu nước. Việc ghi nhận, biểu dương, khen thưởng kịp thời những thành tích tiêu biểu không chỉ là sự tôn vinh xứng đáng mà còn góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, khích lệ tinh thần cống hiến trong xã hội. Lan tỏa những điển hình, tạo sức bật cho giai đoạn phát triển mới Kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh diễn ra trong bối cảnh Thái Nguyên đứng trước những thời cơ và yêu cầu phát triển mới. Với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống giao thông kết nối vùng, nền tảng công nghiệp, nguồn nhân lực và tiềm năng du lịch, tỉnh có nhiều điều kiện để tạo ra những bước phát triển đột phá. Trong chặng đường mới, việc tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, hiệu quả, bám sát nhiệm vụ chính trị và yêu cầu phát triển của địa phương có ý nghĩa quan trọng. Trọng tâm là thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh; xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái; phát triển thương mại, dịch vụ, logistics và du lịch chất lượng cao; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chăm lo đời sống nhân dân. Cùng với tổ chức các phong trào thi đua, công tác phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến và khen thưởng cần tiếp tục được quan tâm, bảo đảm kịp thời, chính xác, đúng người, đúng thành tích. Những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những tấm gương tận tụy, trách nhiệm và giàu tinh thần cống hiến cần được lan tỏa rộng rãi, tạo sức truyền cảm hứng, thúc đẩy mỗi tập thể, cá nhân không ngừng phấn đấu, đóng góp vào sự phát triển chung. 195 năm là chặng đường được viết nên bằng tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự đóng góp bền bỉ của nhiều thế hệ người dân Thái Nguyên. Phát huy truyền thống ấy, các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục là sợi dây kết nối sức mạnh cộng đồng, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên. Từ những việc làm cụ thể, những thành tích thiết thực và những tấm gương tiêu biểu được tôn vinh, Thái Nguyên đang từng bước tạo dựng nền tảng vững chắc để phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng là cực tăng trưởng quan trọng của vùng trung du và miền núi phía Bắc. Nguyệt Hà  

Hải Phòng huy động nguồn lực, hướng tới mục tiêu không còn hộ nghèo năm 2027

BTĐKT - Với quyết tâm đến hết năm 2027 không còn hộ nghèo, Hải Phòng đang tập trung huy động nguồn lực từ ngân sách và toàn xã hội, triển khai nhiều giải pháp chăm lo đời sống người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Thông qua phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cộng đồng được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. TP Hải Phòng biểu dương các đơn vị, địa phương, nhà hảo tâm có đóng góp tích cực trong công tác vận động, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” năm 2026 Chiều 29/10, tại Trung tâm Văn hóa Xứ Đông, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hải Phòng phối hợp với UBND thành phố tổ chức Chương trình phát động Tháng cao điểm “Vì người nghèo”, biểu dương các đơn vị, địa phương, nhà hảo tâm có đóng góp tích cực trong công tác vận động, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” năm 2026. Dự chương trình có đồng chí Nguyễn Đức Phong, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; đồng chí Đỗ Thành Trung, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; đồng chí Phạm Văn Lập, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương, doanh nghiệp và nhà hảo tâm. Phát động chương trình, đồng chí Phạm Văn Lập khẳng định, Tháng cao điểm “Vì người nghèo” là hoạt động có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, trách nhiệm sẻ chia trong cộng đồng, đồng thời góp phần thực hiện quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau. Gần 12 năm liên tiếp duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai con số, Hải Phòng luôn xác định phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo đảm an sinh xã hội, trong đó đầu tư cho an sinh phải đi trước một bước. Thành phố đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, người yếu thế với mức hỗ trợ cao, đồng thời huy động các tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm tham gia xây dựng, sửa chữa nhà ở, hỗ trợ vốn, phương tiện sản xuất, khám chữa bệnh và cải thiện điều kiện sống cho các gia đình khó khăn. Hiện toàn thành phố còn 1.693 hộ nghèo và 12.824 hộ cận nghèo. Đáng chú ý, có 1.134 hộ có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở, trong đó 909 hộ cần xây mới và 225 hộ cần sửa chữa. Những con số này cho thấy, bên cạnh các chính sách hỗ trợ thường xuyên, việc huy động thêm nguồn lực xã hội để giải quyết những nhu cầu thiết yếu của người nghèo vẫn là yêu cầu cấp thiết. Hướng tới mục tiêu đến hết năm 2027 không còn hộ nghèo và giảm hộ cận nghèo, sớm hơn một năm so với Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Hải Phòng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ thu nhập hằng tháng cho người nghèo, người yếu thế. Dự kiến từ năm 2027, ngân sách thành phố dành khoảng 500 tỷ đồng mỗi năm để thực hiện chính sách này. Cùng với đó, thành phố cần huy động trên 100 tỷ đồng từ các nguồn lực xã hội để hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo có hoàn cảnh khó khăn. Đồng chí Đỗ Thành Trung, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh, giảm nghèo không chỉ được đánh giá bằng số hộ thoát nghèo mà quan trọng hơn là người dân có việc làm, thu nhập ổn định, được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và không tái nghèo. Vì vậy, các cấp, các ngành cần phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp, sử dụng hiệu quả nguồn lực từ Quỹ “Vì người nghèo”; bảo đảm hỗ trợ đúng nhu cầu, đúng đối tượng, không dàn trải, không trùng lặp, không bỏ sót. Công tác giảm nghèo cần gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và hỗ trợ sinh kế phù hợp với từng hoàn cảnh. Sự chung tay của cộng đồng đang góp thêm nguồn lực quan trọng để Hải Phòng hiện thực hóa mục tiêu này. Từ khi thành phố phát động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” năm 2026 vào đầu tháng 10, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà hảo tâm đã đăng ký, cam kết ủng hộ Quỹ các cấp với tổng số tiền gần 60 tỷ đồng. Trong đó, đăng ký ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” thành phố gần 27,5 tỷ đồng; các tổ chức thành viên MTTQ thành phố hỗ trợ người nghèo hơn 10 tỷ đồng; phần còn lại dành cho Quỹ tại các xã, phường, đặc khu. Đây là kết quả thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự đồng lòng của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và những tấm lòng hảo tâm đối với công tác an sinh xã hội. Mỗi nguồn lực được đóng góp không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ vật chất mà còn tiếp thêm động lực để các gia đình khó khăn ổn định cuộc sống, từng bước vươn lên bằng chính khả năng của mình. Tại chương trình, thành phố biểu dương 10 đơn vị, nhà hảo tâm và 19 địa phương có đóng góp tích cực trong công tác vận động, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” năm 2026. Lãnh đạo thành phố trao quà tặng 5 hộ nghèo, 10 nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin và 10 cựu thanh niên xung phong có hoàn cảnh khó khăn; Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố trao 20 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các chính sách hỗ trợ ngày càng thiết thực và sự đồng hành của cộng đồng, phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” tại Hải Phòng đang hướng tới những kết quả cụ thể. Đây không chỉ là nỗ lực hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo vào năm 2027 mà còn thể hiện quyết tâm bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội vươn lên, được thụ hưởng thành quả phát triển chung của thành phố. Minh Phương  

Thái Nguyên: Khơi dậy sức dân, mở rộng những con đường phát triển

BTĐKT - Từ những thửa đất trồng chè, đất ở, hàng rào, công trình phụ đến những ngày công và khoản đóng góp nghĩa tình, người dân nhiều địa phương ở Thái Nguyên đang chung sức mở rộng đường giao thông nông thôn. Không chỉ tạo nên những tuyến đường rộng rãi, khang trang hơn, phong trào hiến đất làm đường còn cho thấy sức mạnh của sự đồng thuận, tinh thần vì cộng đồng và ý thức chung tay tạo dựng không gian phát triển mới ngay từ cơ sở. Khi người dân cùng góp đất, góp công mở đường Ở nhiều vùng nông thôn Thái Nguyên, những con đường nhỏ hẹp từng là trở ngại đối với việc đi lại, sản xuất và vận chuyển nông sản đang dần được mở rộng. Đằng sau mỗi mét đường mới không chỉ có nguồn lực đầu tư của Nhà nước mà còn có sự đóng góp trực tiếp của người dân bằng đất đai, tài sản, ngày công và kinh phí. Theo số liệu được tổng hợp từ các địa phương, thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, người dân trên địa bàn tỉnh đã hiến tổng cộng hơn 450.000 m2 đất, đóng góp 58.140 ngày công, làm mới và sửa chữa 19.272 m đường giao thông nông thôn. Những con số cho thấy quy mô rộng lớn của phong trào, đồng thời phản ánh sự tham gia thực chất của người dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ chính cuộc sống của mình. Con đường mới, diện mạo mới: Minh chứng cho sự đồng thuận của nhân dân Vạn Phú Tại xã Vạn Phú, phong trào mở rộng đường xóm lên 6 m đã lan tỏa tới các khu dân cư. Đến nay, tổng chiều dài các tuyến đường xóm rộng 6 m đạt trên 31,5 km. Có 1.635 hộ dân đã hiến trên 70.000 m2 đất, cùng nhiều tài sản trên đất như hàng rào, cổng, cây cối, hoa màu, lúa... Tổng giá trị công trình, tài sản trên đất người dân đã hiến ước khoảng 15 tỷ đồng. Đây là kết quả của quá trình tuyên truyền, vận động gắn với việc xác định rõ lợi ích của người dân khi giao thông được mở rộng. Những tuyến đường rộng hơn không chỉ giúp việc đi lại thuận tiện mà còn tạo điều kiện để máy cày, máy bừa, máy gặt hoạt động dễ dàng, hỗ trợ vận chuyển nông sản và kết nối các vùng sản xuất. Tại xóm Mây, xã Vạn Phú, hơn 2.700 m đường trục xóm đã được mở rộng và bê tông hóa. Người dân trong xóm đã hiến tổng cộng 11.200 m2 đất, gồm đất ở, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp. Gia đình ông Vũ Văn Lực tự nguyện hiến gần 1.000 m2 đất trước đây sử dụng trồng chè. Không chỉ hiến đất, người dân còn thống nhất đóng góp 1 triệu đồng/khẩu để hỗ trợ các hộ có tài sản trên đất. Ở xóm Chuối, xã Vạn Phú, tuyến đường vào xóm dài trên 850 m, trước đây mặt đường bê tông rộng 3 m nhưng chưa đáp ứng nhu cầu đi lại, sản xuất. Khi có chủ trương mở rộng lên 7 m, 35 hộ dân có đất ruộng bị ảnh hưởng đã đồng thuận hiến đất, với tổng diện tích trên 2.400 m2. Đáng chú ý, ông Nguyễn Quốc Bình, một đảng viên có 48 năm tuổi đảng, đã sẵn sàng hiến trên 500 m2 đất ruộng để ủng hộ kế hoạch làm đường. Năm 2026, xã Vạn Phú dự kiến đầu tư từ 8 - 10 km đường nông thôn, đường nội đồng phục vụ sản xuất. Cùng với nguồn lực của Nhà nước, địa phương tiếp tục vận động người dân đóng góp ngày công, vật liệu, hiến đất để mở rộng những tuyến đường còn nhỏ hẹp. Từ sự đồng thuận, tạo thêm nguồn lực phát triển Không chỉ ở Vạn Phú, tinh thần chung sức làm đường đang được thể hiện sinh động tại nhiều khu dân cư trên địa bàn Thái Nguyên. Tại xóm Hồng Kỳ 2, xã Phú Bình, tuyến đường dẫn vào nhà văn hóa xóm dài khoảng 200 m, trước đây chỉ rộng từ 2 đến 2,2 m. Mong muốn mở rộng tuyến đường đã được người dân ấp ủ nhiều năm. Khi công trình được triển khai, 13 hộ dân nằm trên tuyến đã có 7 hộ tự nguyện hiến trên 500 m2 đất, đồng thời phá dỡ công trình phụ để bàn giao mặt bằng. Nhân dân xóm Hồng Kỳ 2 tích cực tham gia đóng góp ngày công để công trình mở rộng đường sớm được hoàn thành Trong số đó, ông Dương Văn Thọ đã tự nguyện dành hơn 20 m2 mặt bằng kinh doanh để phục vụ việc mở rộng đường. Cùng với đất đai, người dân còn đóng góp ngày công, hỗ trợ xây dựng lại tường rào, công trình phụ và di dời hạ tầng. Công trình cũng nhận được sự chung tay của con em quê hương; riêng ông Lê Danh Phương ủng hộ 50 triệu đồng. Đến nay, các khoản ủng hộ cho xóm để mở rộng đoạn đường này là gần 200 triệu đồng, trong khi tổng giá trị công trình sau khi hoàn thành dự kiến khoảng 350 - 400 triệu đồng. Trong quá trình triển khai, người dân còn phối hợp di dời 6 cột điện, góp phần giảm chi phí và đẩy nhanh tiến độ. Những đóng góp ấy cho thấy sức dân không chỉ được đo bằng diện tích đất hiến. Đó còn là tiền, ngày công, vật liệu, công sức tháo dỡ và dựng lại công trình; là sự sẵn sàng chia sẻ khó khăn để một công trình chung sớm hoàn thành. Tinh thần đó cũng được thể hiện rõ trên tuyến đường tỉnh 269C, đoạn qua xã Phú Bình và xã Tân Khánh. Tuyến đường dài 5,8 km, được triển khai trong điều kiện dự án không bố trí riêng kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng. Hàng trăm hộ dân trong khu vực ảnh hưởng đã tự nguyện hiến đất, tháo dỡ công trình và tài sản để mở rộng nền đường, xây dựng cống, mương thoát nước. Riêng xóm Thượng có hơn 140 hộ tự nguyện hiến đất, tháo dỡ công trình và tài sản. Có hộ nhường vài mét vuông, có hộ nhường hàng chục mét vuông. Nhiều gia đình chủ động lùi tường rào, bàn giao mặt bằng với mong muốn con đường sau khi hoàn thành sẽ sạch đẹp, thuận tiện hơn, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Những câu chuyện từ Vạn Phú, Phú Bình và nhiều địa phương khác đang góp phần tạo nên một bức tranh chung về phong trào hiến đất làm đường ở Thái Nguyên. Điểm nổi bật không chỉ nằm ở hàng trăm nghìn mét vuông đất được người dân tự nguyện dành cho các công trình giao thông, mà quan trọng hơn là sự chuyển biến trong nhận thức: Người dân ngày càng xác định rõ mình vừa là chủ thể, vừa là người trực tiếp hưởng lợi từ những công trình được xây dựng trên quê hương. Khi một gia đình sẵn sàng lùi hàng rào, một hộ dân chấp nhận dành đất sản xuất, một người dân góp ngày công hay một người con xa quê đóng góp kinh phí, những phần đóng góp riêng lẻ đã tạo thành nguồn lực lớn cho cộng đồng. Đó chính là sức mạnh của sự đồng thuận được khơi dậy từ cơ sở. Từ những con đường rộng mở, hàng hóa được lưu thông thuận lợi hơn, nông sản dễ dàng đến thị trường, việc đi lại, sinh hoạt của người dân được cải thiện. Quan trọng hơn, mỗi tuyến đường được mở rộng bằng sự chung sức của nhân dân còn là một minh chứng sinh động cho hiệu quả của phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới: Nhà nước đầu tư, nhân dân đồng hành, cộng đồng cùng hưởng lợi. Phát huy kết quả đó, việc tiếp tục tuyên truyền, vận động, công khai để người dân biết, bàn và trực tiếp tham gia sẽ là yếu tố quan trọng để Thái Nguyên huy động thêm nguồn lực xã hội, hoàn thiện hạ tầng giao thông nông thôn. Từ những phần đất được tự nguyện hiến tặng hôm nay, những con đường mới đang mở ra không gian sản xuất, kết nối các khu dân cư và tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương. Tùng Chi  

Đưa năng lực số về cơ sở, đổi mới cách phục vụ người dân

BTĐKT - Hưởng ứng phong trào thi đua “Đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh” do Thủ tướng Chính phủ phát động, tỉnh Ninh Bình đang đưa chuyển đổi số đến gần người dân hơn bằng những cách làm cụ thể ngay từ cơ sở. Thay vì để người dân tự tìm cách tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, chính quyền cơ sở đang đưa thiết bị, kỹ năng và lực lượng hỗ trợ về tận thôn, xóm. Cách làm này không chỉ giảm thời gian, chi phí đi lại mà còn từng bước hình thành năng lực số ngay trong cộng đồng. Khi dịch vụ công được đưa đến gần người dân Một trong những yêu cầu đặt ra đối với chuyển đổi số là làm sao để công nghệ thực sự đi vào đời sống, nhất là với những nhóm người dân chưa có điều kiện hoặc chưa quen sử dụng các nền tảng số. Từ thực tế đó, việc đưa điểm hỗ trợ dịch vụ công về địa bàn dân cư đang trở thành một hướng triển khai thiết thực tại cơ sở. Tại xã Ninh Cường, sau sắp xếp thôn, tổ dân phố, địa phương tập trung đổi mới phương thức phục vụ theo hướng đưa hoạt động hỗ trợ thủ tục hành chính đến gần người dân hơn. Mỗi thôn được trang bị 2 bộ vi tính và kết nối mạng không dây, đồng thời tổ chức tập huấn cho lực lượng tại cơ sở để có thể hướng dẫn người dân thực hiện những thủ tục hành chính cơ bản trên môi trường điện tử. Xã Ninh Cường tổ chức tập huấn cho cán bộ các thôn thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử để có thể hỗ trợ cho người dân Cách làm này trước hết giải quyết một trở ngại khá phổ biến trong quá trình chuyển đổi số ở cơ sở: Không phải người dân nào cũng có khả năng tự thực hiện các thao tác trên hệ thống dịch vụ công. Với người cao tuổi, người ít sử dụng điện thoại thông minh hoặc chưa thành thạo công nghệ, một thủ tục đơn giản về mặt nội dung vẫn có thể trở thành khó khăn nếu phải tự thao tác hoặc di chuyển đến trung tâm phục vụ hành chính công. Tại thôn Tân Lý, việc hướng dẫn thủ tục hành chính được thực hiện ngay tại nhà văn hóa thôn. Người dân có thể được hỗ trợ thực hiện các thao tác trên môi trường điện tử mà không nhất thiết phải đến trung tâm phục vụ hành chính công của xã. Từ ngày 1/9/2026, lực lượng tại cơ sở được tiếp tục tập huấn, làm quen với thiết bị và quy trình để từng bước đáp ứng yêu cầu này. Điểm mới trong cách làm của Ninh Cường là chuyển trọng tâm từ “có thiết bị” sang “có người sử dụng thiết bị để phục vụ dân”. Tại thôn Nam Cường, sau khi được trang bị 2 bộ máy tính, lực lượng trong tổ cộng đồng số gồm cựu chiến binh, phụ nữ, đoàn thanh niên đã chủ động tập huấn cho nhau. Khi người dân có nhu cầu, những người đã được hướng dẫn có thể hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính cơ bản ngay tại thôn. Với những thủ tục phức tạp hơn, cán bộ xã và các bộ phận chuyên môn của trung tâm phục vụ hành chính công tiếp tục xuống cơ sở hướng dẫn. Như vậy, công nghệ được đặt trong một quy trình hỗ trợ nhiều tầng: Người dân được hướng dẫn những thao tác cơ bản ngay tại nơi sinh sống; những nội dung vượt quá khả năng của lực lượng cơ sở sẽ được cán bộ chuyên môn hỗ trợ. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi số lấy người dân làm trung tâm. Hiệu quả không chỉ nằm ở số lượng máy tính được trang bị hay số thủ tục được đưa lên môi trường điện tử, mà còn ở khả năng để người dân thực sự sử dụng được các dịch vụ đó. Từ giảm tải hành chính đến hình thành thói quen số Nếu Ninh Cường tập trung đưa hạ tầng và lực lượng hỗ trợ về tận thôn, thì tại xã Hồng Phong, hiệu quả của việc phân bổ lại điểm hỗ trợ dịch vụ công được thể hiện qua việc giảm giao dịch tại trung tâm phục vụ hành chính công. Khi một số thủ tục đơn giản được hỗ trợ ngay tại địa bàn dân cư, lượng giao dịch đối với một số dịch vụ cơ bản tại trung tâm phục vụ hành chính công của xã đã giảm khoảng 30%. Người dân giảm số lần đi lại, trong khi bộ phận tiếp nhận có thêm điều kiện tập trung vào những hồ sơ cần xử lý trực tiếp hoặc đòi hỏi chuyên môn. Cùng với máy tính, các thôn được hỗ trợ máy scan, chữ ký số và mật khẩu để truy cập vào dịch vụ công quốc gia. Lực lượng tại cơ sở được hướng dẫn thực hiện những thủ tục cơ bản như xác nhận, đăng ký khai sinh và một số thủ tục hành chính khác. Đây là những nội dung nếu được hỗ trợ tốt tại địa bàn dân cư có thể giảm đáng kể nhu cầu đi lại của người dân. Tại thôn 12, sau khi sắp xếp xóm 12, 13, 14, 15 thành thôn 12, UBND xã cấp máy tính, máy scan và tổ chức tập huấn quy trình xử lý các giấy tờ, thủ tục hành chính cơ bản. Một số thủ tục được giải quyết ngay tại thôn, giúp người dân không phải đến UBND xã đối với những nội dung đơn giản. Từ góc độ chuyển đổi số, những mô hình như vậy còn có ý nghĩa ở một bước cao hơn: Tạo điều kiện để người dân chuyển từ “được làm giúp” sang “được hướng dẫn để tự làm”. Khi lần đầu tiếp cận một ứng dụng hoặc quy trình trực tuyến có người hướng dẫn, người dân có thêm cơ hội làm quen với môi trường số và từng bước chủ động hơn trong những lần thực hiện sau. Đây cũng là lý do các địa phương không chỉ tập trung trang bị thiết bị mà đồng thời chú trọng đào tạo năng lực công nghệ thông tin cho cán bộ thôn. Nội dung tập huấn tập trung vào quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến và những thao tác cần thiết để hỗ trợ người dân. Cùng với đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công tổ chức các đợt giải quyết lưu động vào các ngày cuối tuần tại các thôn xóm, qua đó hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ số và chuyển đổi số, nhất là đối với người cao tuổi, người yếu thế tại các địa phương, thôn xóm. Việc đưa dịch vụ công về cơ sở vì thế không đơn thuần là một giải pháp giảm tải cho cơ quan hành chính. Xa hơn, đây là cách mở rộng “điểm chạm” giữa chính quyền số với người dân, nhất là ở những địa bàn mà khả năng tiếp cận công nghệ còn khác nhau giữa các nhóm dân cư. Thực tế từ Ninh Cường và Hồng Phong cho thấy, chuyển đổi số trong cải cách hành chính có thể bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể: Đưa máy tính và thiết bị hỗ trợ về thôn, đào tạo người trực tiếp hỗ trợ, tổ chức giải quyết thủ tục lưu động và thiết kế cách phục vụ phù hợp với từng nhóm người dân. Khi những giải pháp đó được triển khai đồng bộ, dịch vụ công trực tuyến không còn chỉ là một hệ thống đặt trên môi trường mạng mà trở thành một phương thức phục vụ có sự hỗ trợ trực tiếp trong đời sống. Người dân có thể tiếp cận dịch vụ ở nơi gần mình hơn, giảm thời gian đi lại và từng bước hình thành kỹ năng tự thực hiện thủ tục trên môi trường số. Đó cũng là cách chuyển đổi số được cụ thể hóa từ cơ sở: Lấy công nghệ làm công cụ, lấy khả năng tiếp cận của người dân làm trọng tâm và lấy sự thuận tiện trong thực tế làm một trong những thước đo hiệu quả của cải cách hành chính. Bảo Linh  

Hải Xuân khơi dậy sức dân, tạo động lực xây dựng nông thôn mới

BTĐKT - Sau sáp nhập, xã Hải Xuân (tỉnh Ninh Bình) đang đứng trước không gian phát triển mới với nhiều lợi thế về kinh tế biển, nông nghiệp, làng nghề và hệ thống hạ tầng. Phát huy những lợi thế đó, địa phương xác định xây dựng nông thôn mới (NTM) không chỉ là hoàn thiện những công trình, tiêu chí, mà quan trọng hơn là khơi dậy sức dân, tạo sự đồng thuận và thúc đẩy phong trào thi đua trong từng thôn, từng hộ gia đình. Từ những tuyến đường được mở rộng, những vùng sản xuất được tổ chức lại đến việc nâng cao thu nhập, diện mạo nông thôn Hải Xuân đang có những chuyển biến ngày càng rõ nét. Chung sức làm đường, mở hướng phát triển Trong xây dựng NTM, hạ tầng luôn là một trong những yếu tố tạo nền tảng cho phát triển. Ở Hải Xuân, giá trị của những công trình ấy không chỉ nằm ở nguồn vốn đầu tư mà còn được tạo nên từ sự đồng thuận, chung sức của người dân. Khi mỗi người dân nhận thức rõ lợi ích lâu dài của cộng đồng, những việc tưởng như khó khăn lại từng bước trở thành phong trào. Cán bộ thôn 7 đến thăm hỏi, động viên các hộ dân, nắm bắt tình hình và chia sẻ với bà con trong quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng Tại thôn 6, 7, người dân đang tích cực hưởng ứng chủ trương giải phóng mặt bằng để mở rộng, nâng cấp tuyến đường nối giữa hai thôn, đoạn đường từ Xuân Cường đến đường 488C. Tuyến đường dự kiến có chiều dài khoảng 1,3 km, mặt đường rộng khoảng 6 m, trên tuyến có hơn 30 hộ dân sinh sống. Để có mặt bằng thực hiện dự án, nhiều hộ dân đã tự nguyện hiến một diện tích đất lớn. Tiêu biểu, hộ ông Vũ Văn Tình hiến khoảng 120 m² đất; hộ ông Nguyễn Văn Toán hiến khoảng 150 m² đất để phục vụ việc mở rộng, nâng cấp tuyến đường. Những diện tích đất được người dân tự nguyện nhường lại không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất. Đó còn là biểu hiện sinh động của tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, cho thấy khi chủ trương xây dựng NTM gắn với lợi ích thiết thực của người dân, phong trào thi đua có thể lan tỏa từ những việc rất cụ thể trong cuộc sống. Câu chuyện ở thôn 6, 7 cũng là một trong những minh chứng cho cách Hải Xuân đang huy động nguồn lực xây dựng NTM. Thay vì chỉ trông chờ vào nguồn vốn đầu tư, địa phương chú trọng phát huy nội lực, vận động nhân dân cùng tham gia, cùng bàn bạc và cùng hưởng lợi từ những công trình được triển khai. Tại thôn 16, tinh thần ấy được thể hiện qua việc hoàn thành 9 tuyến đường nội đồng và 7 tuyến đường xóm với tổng chiều dài 4 km trong năm qua, từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước và nhân dân đóng góp. Những con đường mới không chỉ góp phần làm thay đổi diện mạo làng quê mà còn trực tiếp phục vụ sản xuất. Khi đường nội đồng được bê tông hóa, máy gặt, máy cấy có thể đi thẳng ra ruộng; nông sản được vận chuyển thuận lợi hơn, tư thương có điều kiện đến tận chân đồng thu mua. Từ đó, thời gian, công sức và chi phí sản xuất của người dân được giảm bớt, hiệu quả kinh tế được nâng lên. Có thể thấy, mỗi tuyến đường ở Hải Xuân đều đang mang một ý nghĩa vượt ra ngoài giá trị của một công trình giao thông. Đường mở đến đâu, không gian sản xuất, giao thương và đời sống được mở rộng đến đó. Chính vì vậy, thi đua xây dựng NTM ở địa phương không dừng lại ở việc làm cho làng quê khang trang hơn mà hướng tới tạo dựng những điều kiện thuận lợi để người dân phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. Trong 6 tháng đầu năm, xã đã hoàn thiện giải ngân hỗ trợ nhân dân hơn 12,6 tỷ đồng để nâng cấp các công trình nông thôn mới. Nguồn lực được tập trung cho những công trình thiết thực đang tạo thêm nền tảng để Hải Xuân tiến tới xây dựng xóm thông minh, xóm kiểu mẫu, từng bước nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM. Thi đua phát triển kinh tế, nâng chất lượng nông thôn mới Nếu hạ tầng là nền tảng thì nâng cao thu nhập, tạo việc làm và cải thiện đời sống chính là thước đo quan trọng của chất lượng NTM. Bởi vậy, cùng với hoàn thiện hệ thống giao thông, Hải Xuân đang tập trung thúc đẩy sản xuất, khuyến khích người dân đổi mới tư duy, mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật và khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương. Sau sáp nhập, địa phương có hơn 500 ha diện tích mặt nước, trong đó khoảng 140 ha được đầu tư theo mô hình thâm canh và bán thâm canh. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế thủy sản, đồng thời mở ra dư địa để người dân chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng nâng cao giá trị. Từ thực tiễn sản xuất cho thấy, phong trào thi đua ở Hải Xuân đang được thể hiện bằng chính sự chủ động của người dân. Nhiều hộ không còn sản xuất theo lối cũ mà mạnh dạn đầu tư, ứng dụng công nghệ, kiểm soát môi trường, đa dạng hóa đối tượng nuôi nhằm nâng cao hiệu quả. Tại thôn 12, hơn 200 hộ gắn bó với nghề nuôi trồng thủy sản đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất. Những mô hình nuôi được đầu tư nhà bạt, hệ thống sục khí, xử lý nước tuần hoàn giúp giảm sự phụ thuộc vào thời tiết, nâng cao hiệu quả. Gia đình anh Nguyễn Ngọc Minh là một trong những hộ mạnh dạn đầu tư và năm 2025 thu hơn 9 tấn tôm. Mô hình nuôi tôm công nghệ cao tại thôn 12, xã Hải Xuân Không chỉ dựa vào kinh tế thủy sản, người dân Hải Xuân còn phát huy các ngành nghề truyền thống. Làng nghề cây cảnh Tân Hùng, nay thuộc thôn 14, có lịch sử từ những năm 1960. Trong số 770 hộ dân của thôn, gần 300 gia đình làm nghề uốn tỉa, chăm sóc cây cảnh. Nghề truyền thống được duy trì không chỉ góp phần tạo việc làm, thu nhập mà còn tạo nên nét đặc trưng trong không gian nông thôn ven biển. Tại thôn 16, nghề sản xuất hàu giống cũng đang đem lại sinh kế ổn định cho người dân. Với diện tích 2 mẫu, cơ sở của anh Dương Văn Thế mỗi năm xuất bán từ 2 - 4 vạn chùm hàu giống, giá khoảng 60.000 đồng/chùm, thị trường mở rộng từ Bắc vào Nam. Những cách làm đó đang góp phần hình thành một nền kinh tế nông thôn đa dạng, trong đó người dân chủ động lựa chọn hướng sản xuất phù hợp, phát huy lợi thế của địa phương và nâng cao giá trị trên đất, mặt nước và nguồn lao động của gia đình. Cùng với phát triển các ngành nghề, Hải Xuân tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, ổn định năng suất. Hầu hết các khâu sản xuất lúa đã được cơ giới hóa, từ làm đất, gieo cấy, phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy bay không người lái đến thu hoạch, phơi sấy. Địa phương hiện có hơn 522 ha rau màu cho hiệu quả kinh tế cao; duy trì 20 ha lúa sản xuất theo hướng hữu cơ được cấp mã số vùng trồng tại xóm 14, 15. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng tiếp tục phát triển, với 5 doanh nghiệp may mặc, giày da cùng gần một trăm HTX, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 5.000 lao động. Đây là yếu tố quan trọng để tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và giữ chân người lao động tại quê hương. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Hải Xuân lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, địa phương đặt mục tiêu tốc độ tăng giá trị sản phẩm bình quân đạt 7,2%/năm; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất canh tác nông nghiệp, thủy sản đạt 230 triệu đồng/năm; nâng thu nhập bình quân đầu người lên 110 triệu đồng/năm và giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều xuống dưới 0,5%. Để hiện thực hóa những mục tiêu đó, Hải Xuân tiếp tục phát huy lợi thế 8 km bờ biển, nâng cao năng lực khai thác của đội tàu hơn 100 chiếc đánh bắt xa bờ, đồng thời phát triển các sản phẩm OCOP đặc trưng của vùng ven biển. Từ những con đường được người dân chung sức mở rộng, những diện tích đất tự nguyện hiến để phục vụ công trình, đến những cách làm mới trong sản xuất, có thể thấy phong trào thi đua xây dựng NTM ở Hải Xuân đang được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực. Sức dân không chỉ góp phần tạo nên những công trình mới mà còn trở thành động lực để chuyển đổi sản xuất, tạo việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó cũng là nền tảng để Hải Xuân tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM theo hướng thực chất, bền vững. Khi người dân thực sự là chủ thể, khi mỗi phong trào đều gắn với lợi ích thiết thân và khi tinh thần thi đua được lan tỏa từ từng thôn, từng gia đình, mục tiêu xây dựng một vùng quê hiện đại, văn minh, giàu đẹp sẽ có thêm động lực để trở thành hiện thực. Tuệ Minh  

Tạo đột phá từ chuyển đổi số

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CĐS), xã Quảng Ninh đang từng bước đưa những chủ trương lớn đi vào cuộc sống bằng những việc làm cụ thể. Từ “Bình dân học vụ số”, chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt đến mạnh dạn đầu tư công nghệ trong sản xuất, những cách làm sáng tạo đang tạo chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn. Đưa công nghệ số đến từng nhà Ở thôn Hà Thiệp, CĐS bắt đầu từ những việc rất bình dị. Các thành viên Tổ Công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) không chờ người dân tìm đến mà chủ động đến từng gia đình, nhất là người cao tuổi, để hướng dẫn sử dụng công nghệ. Từ đăng nhập VNeID, tích hợp giấy tờ, sử dụng dịch vụ công trực tuyến đến thanh toán không dùng tiền mặt..., những tiện ích số dần được đưa vào đời sống theo cách gần gũi nhất. Ông Nguyễn Văn Sơn, Tổ trưởng Tổ CNSCĐ thôn Hà Thiệp, cùng các thành viên hiểu rằng phổ cập kỹ năng số không thể chỉ bằng những khẩu hiệu. Muốn người dân thay đổi thói quen, trước hết phải giúp họ thấy công nghệ thực sự có ích. Với người trẻ, vài thao tác trên điện thoại có thể rất đơn giản, nhưng với người cao tuổi lại là cả một quá trình làm quen. Vì vậy, các thành viên kiên trì hướng dẫn, làm mẫu để người dân tự thực hiện. Ông Trương Ngọc Thái, một người cao tuổi ở thôn Hà Thiệp, là một minh chứng. Từ chỗ còn e ngại trước những tiện ích số, ông chủ động học cách sử dụng công nghệ, rồi từng bước làm quen với các ứng dụng phục vụ đời sống. Đoàn viên, thanh niên trên địa bàn xã Quảng Ninh tích cực tham gia Tổ công nghệ số cộng đồng, hướng dẫn người dân thực hiện chuyển đổi số - Ảnh: P.P Một người biết, rồi hướng dẫn thêm người khác; một gia đình sử dụng thành thạo, rồi lan tỏa sang những gia đình xung quanh. Cứ thế, “Bình dân học vụ số” dần trở thành cách làm thiết thực ở Hà Thiệp và nhiều thôn khác trên địa bàn. Toàn xã Quảng Ninh đã thành lập 14 Tổ CNSCĐ tại 14 thôn với 189 thành viên. Chỉ trong đợt triển khai từ ngày 1-18/8/2026, các lực lượng đã hỗ trợ, hướng dẫn hơn 3.100 người dân đăng nhập VNeID, tích hợp giấy tờ và cài đặt ứng dụng công dân số QUANGTRI-S. CĐS ở Quảng Ninh còn được đưa vào một lĩnh vực rất thiết thân với người dân là an sinh xã hội. Ông Nguyễn Tiến Sỹ, Phó Giám đốc BHXH cơ sở Quảng Ninh cho biết, việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội qua tài khoản không chỉ thuận tiện mà còn hạn chế khâu trung gian, tăng tính công khai, minh bạch và an toàn. Để thực hiện, xã huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”. Đến nay, 100% người có công trên địa bàn nhận chi trả không dùng tiền mặt; 100% người hưởng lương hưu và các chế độ bảo hiểm xã hội nhận qua tài khoản; tỉ lệ chi trả trợ cấp bảo trợ xã hội không dùng tiền mặt đạt gần 87%. Với ông Lê Mậu Hai ở thôn Lương Yến, nhận lương hưu qua tài khoản đem lại sự thuận tiện rất cụ thể. Không phải đi lại để nhận tiền, ông có thể chủ động sử dụng khoản lương hưu của mình khi cần. Từ góc nhìn của người thụ hưởng, những thay đổi ấy chính là cách dễ nhất để cảm nhận giá trị của CĐS. Ở cấp chính quyền, hiệu quả cũng được thể hiện bằng những con số: 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng phần mềm quản lý văn bản, điều hành; 100% văn bản được ký số và luân chuyển trên môi trường mạng; tỉ lệ hồ sơ số hóa đầu vào đạt 100%, thanh toán trực tuyến đạt trên 98%. Từ người dân đến chính quyền, một phương thức làm việc mới đang từng bước hình thành. Thước đo của phong trào thi đua không còn là có bao nhiêu cuộc tuyên truyền, lớp tập huấn, mà là người dân có sử dụng được công nghệ và thực sự được hưởng lợi từ công nghệ hay không. Khi khoa học công nghệ được đưa vào sản xuất Nếu ở khu dân cư, tinh thần thi đua được nhìn thấy qua từng thao tác trên chiếc điện thoại thì trong doanh nghiệp, hiệu quả đổi mới được đo bằng năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Tại Công ty TNHH S&D Quảng Bình, doanh nghiệp chuyên sản xuất, gia công sản phẩm may mặc xuất khẩu đóng trên địa bàn xã Quảng Ninh, sự thay đổi hiện hữu trên từng dây chuyền. Trước đây, phần lớn công đoạn sản xuất của công ty thực hiện bằng máy may thủ công, nhiều khâu cần số lượng lớn lao động trực tiếp. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, doanh nghiệp nhận thấy nếu chỉ dựa vào phương thức sản xuất cũ sẽ khó tạo bước tiến về năng suất và chất lượng. Những năm gần đây, công ty mạnh dạn đầu tư công nghệ hiện đại, từng bước tự động hóa các công đoạn. Đến nay, khoảng 40% dây chuyền sản xuất đã được tự động hóa. Đặc biệt, có những công đoạn trước đây cần 3 lao động thì nay chỉ còn 1 người đảm nhiệm. Công ty TNHH S&D Quảng Bình đầu tư công nghệ hiện đại, tự động hóa dây chuyền sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm - Ảnh: P.P Ông Âu Văn Dũng, Phó Giám đốc Công ty TNHH S&D Quảng Bình cho rằng, khoa học công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp. Đầu tư công nghệ không chỉ giảm sức lao động mà còn giúp tăng năng suất, ổn định chất lượng sản phẩm và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường. Tinh thần thi đua ứng dụng khoa học công nghệ cũng đang lan tỏa trong sản xuất nông nghiệp. Theo UBND xã Quảng Ninh, một số mô hình đổi mới sáng tạo bước đầu mang lại hiệu quả và có khả năng nhân rộng, như: Sản xuất nông nghiệp sạch, hữu cơ của ông Lê Ngọc Phúc ở thôn Văn La; chăn nuôi an toàn sinh học của ông Lê Văn Tuân ở thôn Lệ Kỳ I, ông Hà Văn Quân ở thôn Phúc Duệ; nuôi chồn hương sinh sản của ông Trương Văn Hạnh ở thôn Tiền. Cùng với thay đổi phương thức sản xuất, người dân từng bước tiếp cận kinh tế số. Thanh toán không dùng tiền mặt tại các chợ nông thôn, quảng bá sản phẩm trên mạng xã hội, ứng dụng sàn thương mại điện tử trong tiêu thụ sản phẩm địa phương... đang mở thêm những kênh mới để sản phẩm đến gần hơn với thị trường. “Để Nghị quyết 57-NQ/TW đi vào thực tiễn, địa phương xác định CĐS phải được triển khai đồng bộ, gắn với yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý, chất lượng phục vụ Nhân dân và phát triển kinh tế-xã hội. Vì vậy, xã không chỉ tập trung xây dựng chính quyền số mà đồng thời chú trọng phát triển xã hội số, kinh tế số, đưa các tiện ích công nghệ đến gần người dân và doanh nghiệp. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong phong trào thi đua của xã Quảng Ninh: Lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả và sự hài lòng của người dân làm thước đo”, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Ninh Lê Thanh Cường nhấn mạnh. Ông Lê Thanh Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Ninh cho biết: UBND xã Quảng Ninh vinh dự là 1 trong 3 tập thể được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Đây là nền tảng để địa phương tiếp tục đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS. Thời gian tới, xã tập trung thực hiện kế hoạch CĐS năm 2026 và giai đoạn 2026-2030; nâng cấp cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin, nền tảng số; kết nối, chia sẻ dữ liệu dùng chung; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển kinh tế số, xã hội số. Các Tổ CNSCĐ tiếp tục hướng dẫn người dân sử dụng thanh toán điện tử, các ứng dụng y tế, giáo dục số, kiến thức an toàn thông tin; tích hợp giấy tờ, tài khoản an sinh xã hội, sổ sức khỏe điện tử trên VNeID và sử dụng QUANGTRI-S. Thực tế, CĐS và ứng dụng khoa học công nghệ ở cơ sở vẫn còn những “điểm nghẽn”, nhất là với người lớn tuổi, người chưa có tài khoản dịch vụ công hoặc hạn chế về kỹ năng công nghệ. Tuy nhiên, những chuyển biến về nhận thức và hành động đang ngày càng rõ nét, tạo nên một phong trào thi đua thực chất, không phải để lấy thành tích trên giấy mà hướng đến những giá trị có thể nhìn thấy, đo đếm và cảm nhận trong đời sống. Đó cũng là nền tảng để những điểm sáng hôm nay tiếp tục lan tỏa, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS trở thành động lực phát triển của Quảng Ninh trong những năm tới. Theo baoquangtri.vn

Hạ tầng số mở đường cho không gian phát triển mới của Ninh Bình

BTĐKT - Hưởng ứng phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”, Ninh Bình đang đẩy mạnh hoàn thiện hạ tầng số, mở rộng kết nối, chuẩn hóa dữ liệu và phát triển các nền tảng số. Từ vùng núi đến đô thị, khu công nghiệp, chuyển đổi số từng bước đi vào đời sống, sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân, doanh nghiệp và tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Từ kết nối rộng khắp đến nền tảng dữ liệu Hạ tầng số đang trở thành một trong những nền tảng quan trọng của quá trình chuyển đổi số. Với Ninh Bình, việc phát triển hạ tầng không chỉ nhằm bảo đảm thông tin liên lạc mà còn tạo điều kiện để các dịch vụ số đến gần hơn với người dân, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thời gian qua, tỉnh đã từng bước đầu tư đồng bộ hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, dịch vụ công trực tuyến, an ninh mạng và nguồn nhân lực số. Nhờ đó, năng lực kết nối trên địa bàn ngày càng được nâng lên. Đến nay, 100% xã, phường của tỉnh có cáp quang băng rộng đến thôn, xóm, tổ dân phố; mạng 4G phủ tới 100% dân số; khoảng 70% dân số được phủ sóng 5G. Toàn tỉnh có hơn 10.130 trạm BTS, trong đó 4.917 trạm 4G và 853 trạm 5G. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tổ chức Hội nghị Tập huấn, hướng dẫn triển khai Hệ thống điều hành thông minh (IOC), Ứng dụng công dân số (NinhBinh-S) và Hệ thống thông tin báo cáo tỉnh Ninh Bình Đáng chú ý, việc phát triển hạ tầng viễn thông được triển khai đồng bộ, không chỉ tập trung ở các khu vực đô thị mà còn mở rộng đến những địa bàn rừng núi. Các doanh nghiệp viễn thông đã tăng cường đầu tư, chính thức xóa toàn bộ các điểm “trắng sóng” trên phạm vi toàn tỉnh, góp phần bảo đảm nhu cầu thông tin liên lạc và tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ số. Cùng với hạ tầng viễn thông, mạng truyền số liệu chuyên dùng đã được kết nối tới 100% cơ quan, đơn vị trong tỉnh. Trung tâm dữ liệu tỉnh được đầu tư, vận hành tại Sở Khoa học và Công nghệ, bảo đảm lưu trữ, khai thác, chia sẻ dữ liệu dùng chung liên tục 24/7. Công tác giám sát, phòng, chống mã độc, sao lưu và ứng cứu sự cố cũng được tăng cường, góp phần bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Đây là những yếu tố quan trọng để các hệ thống số của tỉnh hoạt động ổn định, liên tục và an toàn. Các nền tảng dùng chung như hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, cổng dịch vụ công được vận hành ngày càng hiệu quả. Sự kết hợp giữa mạng viễn thông, trung tâm dữ liệu, nền tảng số và các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin đang tạo nền móng quan trọng để Ninh Bình triển khai hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng cải cách hành chính. Không dừng ở việc mở rộng kết nối, tỉnh đang từng bước chuyển trọng tâm sang xây dựng và hoàn thiện hạ tầng dữ liệu. Nhiều nhiệm vụ, chiến dịch quan trọng được triển khai như: “Xây dựng, hoàn thiện và làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai”; “Chiến dịch 90 ngày làm sạch, làm giàu, chuẩn hóa dữ liệu của 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành y tế”; số hóa hồ sơ đảng viên, phát triển dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử... Bên cạnh đó, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong những lĩnh vực trọng yếu như tài nguyên, môi trường, lâm nghiệp, thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi… được thực hiện thường xuyên. Sở Xây dựng đang tập trung hoàn thiện ba nhóm dữ liệu gồm: Quy hoạch nông thôn, dự án đầu tư xây dựng và hệ thống định mức, giá xây dựng… Việc hình thành và từng bước hoàn thiện hệ thống dữ liệu đang tạo thêm nguồn lực cho công tác quản lý, điều hành. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, thông tin không chỉ được lưu trữ mà còn trở thành cơ sở để các cấp, các ngành nâng cao chất lượng quyết định, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Tăng tốc hoàn thiện hạ tầng, mở rộng không gian phát triển Những kết quả đạt được đang tạo nền tảng quan trọng, song yêu cầu phát triển hạ tầng số trong giai đoạn mới cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Đó là áp lực ngày càng lớn đối với hạ tầng, tốc độ đổi mới công nghệ nhanh, yêu cầu chuẩn hóa, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp, cùng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Để tạo chuyển biến mạnh hơn, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 288/KH-UBND về phát triển hạ tầng số trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026-2030. Kế hoạch xác định những mục tiêu cụ thể đến năm 2030: 100% dân số trưởng thành sử dụng điện thoại thông minh; 100% hộ gia đình được phủ internet băng rộng cáp quang; 99% dân số được phủ sóng 5G với tốc độ tối thiểu 100Mb/s; hơn 70% dân số trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử. Cùng với hạ tầng viễn thông, tỉnh đặt mục tiêu phát triển mạnh hạ tầng dữ liệu và hạ tầng vật lý số. Đặc biệt, tỉnh huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP); khuyến khích thử nghiệm công nghệ mới như 5G, 6G, AI, dữ liệu lớn, Blockchain, đồng thời chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Để hiện thực hóa kế hoạch, Sở Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp viễn thông tập trung hoàn thiện mạng băng rộng cố định đến hộ gia đình, cơ quan, đơn vị; ngầm hóa 100% mạng cáp ngoại vi viễn thông lắp mới. Ưu tiên phân bổ tốc độ truy nhập tối thiểu 1Gb/s và tối ưu vùng phủ sóng mạng 5G cho khu vực đô thị, trung tâm hành chính, trường học, cơ sở y tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu công nghệ cao. Đồng thời, lắp đặt tại mỗi xã, phường từ 1 đến 2 trạm BTS có khả năng chịu được thiên tai cấp 4 để bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo, điều hành. Bên cạnh đó, tiếp tục thử nghiệm, từng bước đưa Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh; Ứng dụng Công dân số Ninh Bình-S vào sử dụng; đẩy mạnh phát triển các nền tảng số cộng đồng như: Bản đồ số hành chính tỉnh Ninh Bình, hạ tầng định danh, xác thực điện tử, thanh toán số, hóa đơn số, tích hợp và chia sẻ dữ liệu… Việc phát triển hạ tầng số trên nền tảng dữ liệu đang được Ninh Bình xác định là hướng đi xuyên suốt trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/ TW của Bộ Chính trị. Theo đó, đầu tư hạ tầng số được thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải và không chạy theo công nghệ bằng mọi giá. Dữ liệu được đặt ở vị trí nền tảng, trong khi nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị của chính quyền là những yếu tố định hướng quá trình đầu tư, phát triển. Cách tiếp cận này giúp các nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được tập trung đúng hướng, gắn với những yêu cầu thực tiễn của địa phương. Khi hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện, dữ liệu được chuẩn hóa và chia sẻ hiệu quả, các cơ quan nhà nước có thêm công cụ phục vụ quản lý, điều hành; người dân được tiếp cận các dịch vụ thuận tiện hơn; doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa quy trình, cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động. Từ đó, hạ tầng số không chỉ đóng vai trò là “đường truyền” cho quá trình chuyển đổi số mà đang trở thành một phần quan trọng của năng lực phát triển. Đây là nền tảng để Ninh Bình khai thác tốt hơn các nguồn lực hiện có, tạo động lực cho kinh tế số phát triển và từng bước mở rộng không gian tăng trưởng trong giai đoạn mới. Tuệ Minh

Trang