BTĐKT - Nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân là thước đo quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Tại Thái Nguyên, từ chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi đến liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, nhiều cách làm đang phát huy hiệu quả, giúp người dân khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai, tạo việc làm và từng bước nâng cao giá trị kinh tế ở khu vực nông thôn.
Đổi mới sản xuất, gia tăng giá trị trên đồng đất quê hương
Thay vì chỉ duy trì những cây trồng, vật nuôi quen thuộc, người dân Thái Nguyên đang từng bước lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng, từng hộ. Thực tế cho thấy, khi thay đổi cách làm, áp dụng kỹ thuật và tính toán đầu ra ngay từ đầu, hiệu quả kinh tế có thể được nâng lên rõ rệt.
Ở Quảng Bạch, cây hồng không hạt đang trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều hộ dân vùng cao. Toàn xã hiện có khoảng 50 ha hồng không hạt, trong đó khoảng 30 ha đang cho thu hoạch. Loại cây này mang lại nguồn thu bình quân 6 - 8 tỷ đồng mỗi năm, giá trị kinh tế cao hơn khoảng 4 - 5 lần so với canh tác lúa và ngô. Tuy nhiên, diễn biến thời tiết bất lợi và bệnh thán thư cũng cho thấy yêu cầu phải tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, nâng chất lượng và ổn định đầu ra để duy trì hiệu quả sản xuất.
Nông dân kiểm tra ruộng sâm Bố Chính để theo dõi sinh trưởng và kịp thời phát hiện sâu bệnh
Không chỉ trồng trọt, chăn nuôi theo hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng mở ra cơ hội tăng thu nhập. Tại xã Thanh Thịnh, mô hình nuôi dê duy trì khoảng 200 con mỗi lứa, sau 3 tháng nuôi vỗ béo đạt trọng lượng 35 - 40kg/con; mỗi lứa mang lại nguồn thu khoảng 120 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Với cây ớt xuất khẩu, mỗi héc-ta có thể cho sản lượng khoảng 15 tấn quả, doanh nghiệp liên kết cam kết giá thu mua tối thiểu từ 10.000 đồng/kg trở lên, giúp người trồng có thể thu về khoảng 200 - 250 triệu đồng/ha mỗi vụ. Hiện diện tích ớt được duy trì khoảng 10 ha mỗi vụ.
Những kết quả trên cho thấy nâng cao thu nhập không đơn thuần là tăng diện tích hay sản lượng, mà quan trọng hơn là lựa chọn đúng đối tượng sản xuất, nâng giá trị trên một đơn vị diện tích và giảm rủi ro thị trường. Đây cũng là hướng đi giúp người dân chủ động hơn trong phát triển kinh tế gia đình.
Liên kết sản xuất, mở rộng sinh kế, cải thiện đời sống
Cùng với đổi mới phương thức sản xuất, liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đang góp phần giải quyết bài toán đầu ra cho nông sản. Khi có sự hỗ trợ về giống, kỹ thuật, thu mua và tiêu thụ, các hộ sản xuất có điều kiện mở rộng quy mô, nâng chất lượng sản phẩm và yên tâm đầu tư lâu dài.
Tại Cẩm Giàng, diện tích chuối tiêu hồng tăng từ 7,2 8ha với 56 hộ tham gia lên gần 20 ha trong năm 2026, thu hút 175 hộ, trong đó có 5ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Sự phát triển của vùng trồng cho thấy vai trò của liên kết trong việc tập hợp các hộ sản xuất, từng bước hình thành vùng nguyên liệu hàng hóa thay vì canh tác nhỏ lẻ, phân tán.
Ở Tân Cương, mô hình chè hữu cơ tại Hợp tác xã Trà Nguyên Long có quy mô 5 ha với 12 thành viên. Thông qua hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và kết nối tiêu thụ, người trồng chè có thêm điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện giá bán. Đây là hướng phát triển phù hợp với lợi thế cây chè của địa phương, đồng thời cho thấy việc nâng thu nhập cần gắn với chất lượng và giá trị thương hiệu.
Bò 3B không chỉ là vật nuôi giúp nông dân giảm nghèo mà còn có thể làm giàu
Tại Phú Bình, mô hình nuôi bò 3B theo hướng tuần hoàn duy trì đàn 30 con, sử dụng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên, tận dụng phân bò để nuôi giun và sản xuất phân hữu cơ. Sau khoảng 12 tháng, mỗi con bò cho khoản thu 15 - 18 triệu đồng sau chi phí; giá trị thu nhập của một lứa ước hơn 450 triệu đồng. Trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho 2 lao động địa phương, với mức thu nhập khoảng 8,5 triệu đồng/người/tháng. Hiệu quả của mô hình không chỉ nằm ở nguồn thu từ chăn nuôi mà còn ở việc tận dụng phụ phẩm, tiết kiệm chi phí và tạo thêm việc làm tại chỗ.
Ở những địa bàn còn khó khăn, hỗ trợ sinh kế tiếp tục là nguồn lực giúp người dân có điều kiện phát triển sản xuất. Tại Phủ Thông, giai đoạn 2021 - 2025, địa phương triển khai 78 hạng mục đầu tư, hỗ trợ về hạ tầng và đời sống; công trình cấp nước sinh hoạt phân tán phục vụ 113 hộ dân. Tổng kinh phí thực hiện hơn 40 tỷ đồng. Cùng với đầu tư hạ tầng, các hoạt động hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và phát triển sinh kế giúp người dân từng bước nâng cao năng lực tự tạo thu nhập.
Từ đầu năm 2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai 10 mô hình thuộc lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản theo hướng an toàn, hữu cơ, tuần hoàn, liên kết chuỗi giá trị và thích ứng với biến đổi khí hậu; tổ chức 69 lớp tập huấn với 2.650 lượt người tham gia. Các tổ khuyến nông cộng đồng đã được triển khai tại 92/92 xã, phường, góp phần đưa kiến thức kỹ thuật đến gần hơn với người sản xuất.
Theo Đề án số 20-ĐA/TU ngày 11/12/2025 về phát triển toàn diện khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 4%/năm; giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt đạt 150 triệu đồng; tổng giá trị sản phẩm chè đạt trên 25 nghìn tỷ đồng; 95% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đáng chú ý, thu nhập bình quân của người dân nông thôn phấn đấu tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm trên 1,5 điểm phần trăm mỗi năm.
Để những mục tiêu này trở thành kết quả cụ thể, điều quan trọng là tiếp tục nhân rộng mô hình phù hợp, tăng cường liên kết tiêu thụ và hỗ trợ người dân tiếp cận khoa học kỹ thuật. Khi sản xuất tạo ra giá trị cao hơn, việc làm được duy trì và đầu ra nông sản ổn định, thu nhập của người dân sẽ có nền tảng tăng trưởng bền vững. Đây cũng là động lực thiết thực để xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên ngày càng đi vào chiều sâu, gắn với chất lượng cuộc sống của người dân.
Tuệ Minh







